Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa - Pdf 81

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Phát triển công nghiệp nông thôn là một nội dung trọng yếu của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nớc ta và đang là một nhu cầu hết sức
bức bách của Bắc Giang. Thực tiễn đã chỉ rõ: nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thuần
nông, độc canh cây lúa thì kinh tế tỉnh Bắc Giang không thể phát triển nhanh và
bền vững, đời sông nhân dân khó đợc cải thiện và nâng cao.
Với hy vọng góp phần nhỏ vào việc tìm ra những căn cứ khoa học và những
giải pháp thực tiễn khả thi đa Bắc Giang tiến nhanh lên trình độ văn minh, hiện
đại, tôi đã đi sâu nghiên cứu vấn đè Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc
Giang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá .
ở nớc ta cho đến nay đã nhiều công trình nghiên cứu và viết về công nghiệp
nông thôn. Tất cả các tác giả đều tập trung nghiên cứu công nghệp nông thôn với
t cách là giải pháp thúc đẩy sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các tác giả đều thống nhất nhận
định và đã đạt tới kết quả sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kinh tế nông thôn và nàm trong
kết cấu công nghiệp chung của cả nớc.
Phát triển công nghiệp nông thôn là yêu cầu khách quan cấp thiết của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp nông thôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội
nông thôn.
Đề xuất đợc những đính hớng và giải pháp cho sự phát triển công nghiệp nông
thôn nớc ta.
Tuy vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc
Giang còn ở bớc sơ khởi, cha có những công trình nghiên cứu ngang tầm. Do vậy,
phải đi sâu ngiên cứu phát triển công ngiệp nông thôn ở Bắc Giang trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các nội dung sau:
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phân tích, luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển công nghiệp

những năm đổi mới, từ đó chỉ ra những mâu thuẫn, tồn tại cần giải quyết và đẩy
mạnh phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang trong những năm tới.
Xác lập những quan điểm định hớng cơ bản để phát triển công nghiệp nông
thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của Bắc Giang.
Đề xuất những giải pháp thực tiễn và khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển công
nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong
những năm tới.
Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là một vấn đề mới mẻ và phức tạp. Mặc dù tôi đã rất cố gắng đi sâu
nghiên cứu và đã đạt đựợc những kết quả nhất định, song do còn có nhiều khó
khăn về chủ quan và khách quan, cho nên đề án này chắc chắn còn có những
khiếm khuyết, kích mong các thầy giáo lợng thứ.
Tôi chân thành cám ơn THS. Nguyễn Thành Hiếu đã tận tâm hớng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành đề án này.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. Lý luận chung về phát triển công nghiệp hoá ở nông thôn
theo hớng xă hội chủ nghĩa
1.1. Lý luận chung
a. vai trò công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở các nớc đang phát triển, thì
trớc hết phải tập trung vào phát triển nông nghiệp và từ nông nghiệp đi lên. Đó là
kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hoá.
Bản thân nông nghiệp có những mặt han chế nh không thể tự mình tạo ra sự
thay đổi mạnh mẽ về cơ sở vật chất kỹ thuật, về công nghệ và thiêt bị, để hiện đại
hoá sản xuất tạo ra mức tăng trởng cao hơn, cũng nh không đủ khả năng tạo ra
việc làm với thu nhập cao hơn cho số lao động tăng lên ở nông thôn,mà cần đến
tác động của công nghiệp. Nhng chính công nghiệp đo thị ở các nớc nông nghiệp
lạc hậu lại cha phát triển đén mức có thể thu hút đợc nhiều lao động d thừa ở nông
thôn và các nhu cầu khác ở nông thôn. Đó là lý do đặt ra vấn đè công nghiệp hoá ở

ngày càng chầm trọng và đay sẽ là một trở ngại to lớn đối với công cuộc phát triển
nông thôn về sau.
Giải quyết việc làm ở nông thôn thông qua mở mang ngành nghề nông
nghiệp là một giải pháp thích hợp và trên thực tế đã đem lại hiệu quả thiết thực.
Nó vừa tạo đièu kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển, vừa hỗ trợ cho việc thu
hút số lao động d thừa nông nghiệp, sử dụng một phần thu nhập đẻ đầu t cho nông
nghiệp phát triển, thúc đảy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.
Trong giai đoạn này giá trị sản phẩm ngoài nông nghiệp ở nông thôn có xu h-
ớng tăng dần, cả về số tuyệt đói và tỷ trọng. Tỷ trọng giá trị sản phẩm ngoài nông
nghiệp trong cơ cấu
kinh tế nông thôn từ chỗ thấp hơn tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tiến lên
bằng rồi, vợt nông nghiệp.
Khi một nơc đang phát triển hoàn tất quá trình công nghiệp, hoá trở thành
một nứơc công nghiệp, thì phát triển nông thôn bớc vào tời kì giảm bớt tỷ trọng
khu vực kinh tế nông nghiệp nhng vẫn giữ một mức độ cần thiết về sản lợng nông
sản, về giá trị sản phẩm nông nghiệp trong kinh tế nông thôn và mở rộng khu vực
kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn cả về sản lợng, giá trrị sản lợng và tỷ trọng.
Tóm lại trong công cuộc phát triển nông thôn, để đạt mục tiêu tạo việc làmvà
nâng cao thu nhập của c dân nông thôn, đa mức sống của dân nông thôn tiến lên
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gần mức sống của dân thành thị thì giải pháp cơ bản không phải chỗ tập chung vào
phát triển nông nghiệp la đủ mà phải phát triển đồng thời kinh tế nông nghiệp và
ngoài nông nghiệp theo hớng đa kinh tế ngoai nông nghiệp ở nông thôn phát triển
đạt đến tỷ trọng cao hơn kinh tế nông nghiệp. (1)
b. Mục tiêu, nội dung tổng quát và quan điểm phát triển.
Thực tế cho thấy dù công nghiệp hoá nông thôn đã diễn ra ở nhiều nớc nhng
định nghĩa về công nghiệp về công nghiệp hoá nông thôn thì cho đến nay cha đợc
diễn giải trong các từ điển trong nớc và ngoài nớc vì đây vẫn còn là vấn đề mới,
đang còn tiếp tục trao đổi. ngay công nghiệp hoá-một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu

tựu khoa học, công nghệ, trớc hết la khoa học công nghệ sinh học, thiêt bị, kỹ
thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao
năng suất, chất lợng hiệu quả, sức cạng tranh của nông sản hàng hoá trên thị trờng.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hớng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động
các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn,
bảo vệ môi trờng sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuấtphù
hợp; xây dựng nền dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn.
c. Những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Phát
triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ chợ đắc lực và phục vụ có hiệu
quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Ưu tiên phát triển lực lợng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con ngời,
ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế heo hớng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trờng để sản xuất hàng
hoá quy mô lớn với chất liệu va hiệu quả cao; bảo vệ môi trờng, phòng chống, hạn
chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững.
Dựa trên nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên
ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc giữ
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vai trò chủ đạo, cùng với tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát
triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn,
Kết hợp chắt chẽ các vấn đè kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói, giảm

năng có thể làm đợc cái gì, mà chủ yếu phải căn cứ vào nhu cầu thị trờng.
Khó khăn thứ hai là vấn đề hiện đại hoá nông nghiệp. Việc đa máy móc thiết
bị vào nông nghiệp để sơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, hiện đại hoá nông
nghiệp, giản chi phí lao động và tăng năng suất lao động nông nghiệp không phảI
là vấn đề đơn giản, và chứa đựng nhiều mâu thuẫn kho giảI quyết. Một mặt, nếu
không sử dụng máy móc thiết bị cơ điện, không chuyển dịch công nghệ sản xuất
nông nghiệp cổ truyền sang công nghệ hiện đại thì không đảm bảo thâm canh,
tăng vụ, không phòng chống một cách hữu hiệu đối với thiên tai (nh hạn, lụt, sâu
bệnh), không tăng nhanh đợc năng suất cây trồng, vật nuôi, không tăng đợc năng
suất lao động nông nghiệp. Không làm đợc nhng việc nh vậy sẽ không chuyển đợc
nền nông nghiệp sản xuất tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đảm bảo
yêu cầu có nhiều nông sản hàng hoá cho công nghiệp hoá. Một nền nông nghiệp
công nghiệp hoá phải đảm báo sản phẩm lao động làm ra đủ nuôI 5 7 ngời
ngoài nông nghiệp trơ lên, vì tỷ trọng lao động ngoài nông nghiệp ở nông thôn
cũng nh trong xã hội ngày càng tăng. Mặt khác việc đa máy móc vào để cơ giới
hóa, hiện đại hoá nông nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng tăng thêm số lợng lao động d
thừa ở nông thôn vốn đã nhiều. Nh vậy cơ giới hoá nông nghiệp làm tang thêm
nạn thất nghiệp ở nông thôn, làm giảm bớt nguồn thu nhập vốn đã ít ỏi từ nông
nghiệp của dân. Chìa khoá đẻ giảI quyết mâu thuẫn này chính là việc phát triển
mạnh mẽ các ngành nghề công nghiệp nông thôn để số lao động d thừa có việc
làm và có thu nhập không những bằng mà còn caohơn thu nhập từ nông nghiệp.
Đây là con đờng mà Trung Quốc thực hiên và đem lại hiệu quả rõ rệt.
Kinh nghiệm rút ra là cơ giới hoá nông nghiệp và phát triển ngành nghề có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy nhau dùng phát triển. Muốn đạt đợc
hiệu quả đồng bộ trong phát triển kinh tế nông thôn theo hớng công nghiệp hoá,
mức độ hiện đại hoá nông nghiệp trong từng thời gian phảI phù hợp với mức độ
phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp tạo việc làm cho lao động d thừa ở nông
thôn.(2)
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

hữu và quản lý máy móc nông nghiệp bao gồm các họ nông dân có nhiều ruộng
đất bỏ vốn mua máy để làm cho mình và đi làm thuê. Cho đến nay những hộ gia
đình mua máy bơm nớc,máy đập lúa, máy xay xát ngày càng đông để chuyên đi
làm dịch vụ cơ giới hoá từng khâu làm đất, bơm nớc, thu hoạch, xay xát lúa gạo
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
v.v.. phục vụ các hộ nông dân không có máy. Cùng với sự phát triển của máy móc
nông nghiệp thuộc sở hữu t nhân, một lực lợng cơ khí t nhân chuyên sửa chữa máy
móc nông nghiệp ở các chợ, thị trấn, thị tứ nông thôn cũng đợc phát triển.
Các chủ máy gia đình và t nhân còn phát triển ở tất cả các khu vực huyện Lạng
Giang, Yên Thế, v.v..còn các hợp tác xã nông nghiệp hiện nay tập trung vào quản
lý các trạm biến thế điện, các trạm bơm nớc.
Mấy năm gần đây số lợng các loại náy động lực( động cơ điện, động cơ nổ,
ôtô và các máy công tác nh máy bơm, máy đập lúa, máy xay xát tăng lên nhiều:
máy phát điện tăng 12 lần, ôtô ở nông thôn tăng 8 lần, máy bơm nớc tăng 2,8 lần
máy đập lúa tăng 3 lần, máy nghiền thức ăn gia súc tăng5 lần.
Động cơ đốt trong nhiều nhất là ở Việt Yên, Lục Nam dùng để chạy các máy
nhỏ, các phơng tiện vận chuyển băng công nông, máy kéo nhỏ và chạy các máy
đập tuốt lúa và máy xay xát nhỏ. Động cơ điện nhiều nhất ở Lạng Giang, Hiệp
Hoà, Tân Yên vì đây là vùng có mạng lới điện quốc gia kéo về tận các làng xã và
hộ gia đình nông thôn. Động cơ điện ít nhất ở vùng Sơn Động, Lục Ngạn là do
điện khí hoá nông nghiệp và nông thôn ở đây kém phát triển.
Để đánh giá chính xác hơn trình độ cơ giới hoá,bên cánhử dụng chỉ tiêu số máy
động lực, ngời ta còn sử dụng chỉ tiêu công suất đọng lực bình quân trên diện tích
gieo trồng.
Nhìn chung trong thời gian 1991- 1995, các máy động lực và máy công tác trong
nông nghiệp đã đợc tăng về số lợng ở hầu nh tất cả các vùng trong cả nớc.
Mức trang bị động cơ đốt trong( xăng, diesel) trên 100 hộ nông dân cao nhât là
Lục Nam(10,55 máy) thứ hai là Sơn Động (1,9 máy), vì các hộ nông dân Lucn
Nam,Sơn Động cần động cơ để chạy máy xay xát, đập tuốt lúa(do mạng lới điện

chủ yếu vẫn là sử dụng các bình phun thuốc thủ công, đeo vai. Việc sử dụng máy
phun thuốc chạy bằng động cơ nhỏ đeo vai đã đợc sử dụng ở một số vùng rừng
Lạng Giang, Việt Yên, Yên Thế nhng số lợng cha nhiều.
Cơ giới hoá chế biến vải cũng phát triển ở một số vùng sẵn nguyên liệu nh Lục
Ngạn và cả những vùng xa nguyên liệu nh một số xã Tân Hng(Lạng Giang), Bích
Sơn(Việt Yên).
Tình hình trang thiết bị máy móc và mức độ cơ giới hoá lâm nghiệp Bắc Giang
trong thời kỳ đổi mới đặc biệt là trong nửa đầu của thập kỷ 90 sản xuất lâm ngiệp
có nhu cầu rõ rệt về công ngiệp hoá, hiện đaị hoá, đồng thời cũng thể hiện năng
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lực kinh tế ký thuật của các hộ nông dân có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa
học công nghệ mới của công nghiệp hoá.
Thực tiễn bớc đầu đã giải đáp đợc một phần băn khoăn của nhiều ngời về giải
quyết lao động d thừa ở nông thôn khi cơ giới hoá nông nghiệp phát trỉển.
Thuỷ sản
Thy sn ca tnh hn mt nm nay cng ó cú bc chuyn mnh, c bit
l t khi Bc Giang cú ch trng chuyn i 10.000 ha t lỳa mt v khụng
n chc sang trng cõy n qu, cõy cụng nghip v nuụi trng thy sn. Dự cũn
vng v c ch h tr vn, nhng do thy c li ớch v s cp bỏch phi
chuyn i hng lm n nờn nụng dõn trong tnh vn ch ng b vn ra lm.
Nh vy, trong nm 2002 tũan tnh ó chuyn c 2.598 ha t "hiu qu trng
lỳa kộm" sang sn xut cõy, con giỏ tr cao t "qu 10.000 ha", trong ú cú 1.023
ha sang nuụi trng thy sn, a din tớch thy sn tũan tnh n thi im ny
t 3.392 ha, tng 13% so vi 2001, sn lng t trờn 7.000 tn.
Tỡnh hỡnh chuyn dch c cu kinh t Bc Giang (nhandan.org.vn)
Nhng nm qua, nụng nghip Bc Giang khụng ch bo m n nh
lng thc, thc phm cho 1,5 triu dõn m cũn to iu kin cho mt b phn
nụng dõn tớch ly vn, m mang ngnh ngh nụng thụn. Bc Giang ó v ang
hỡnh thnh mt vựng sn xut nụng nghip hng húa, cung cp lng thc, thc

Nhiều gia đình ở Lục Ngạn, Yên Thế... đã có thu nhập từ 50 triệu đến 100 triệu
đồng/năm.
Huyện Lục Ngạn thời đó đã ra đời Câu lạc bộ gia đình có thu nhập hơn 50
triệu đồng/năm. Kết quả của chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên vùng đồi thấp và
ruộng cao, cấy không ăn chắc ở các huyện miền núi, trung du của tỉnh đã làm
hàng vạn hộ nông dân từ chỗ đói nghèo tiến lên giàu có. Kết quả chuyển dịch cơ
cấu kinh tế vùng đồi ở Bắc Giang đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn. Các huyện
miền núi vốn nghèo nàn trước đây đã trở thành vùng sản phẩm hàng hóa, có giá
trị kinh tế cao.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhưng việc chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở các huyện miền núi,
trung du của Bắc Giang còn thiếu sự quy hoạch từ đầu, để việc chuyển dịch cơ
cấu cây trồng tự phát, phong trào trồng vải thiều tràn lan, không tính được thị
trường tiêu thụ, chế biến. Một số gia đình đã bỏ cây vải thiều sang trồng các cây
khác.
Là tỉnh đi lên từ kinh tế nông nghiệp, Bắc Giang coi việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nông nghiệp để đưa tốc độ tăng trưởng trong ngành nông, lâm
nghiệp, thủy sản từ 4,8% năm 2003 lên 5-5,5% trong năm 2004. Bắc Giang có
12,4 vạn ha đất nông nghiệp, trong đó đất lúa là 7,4 vạn ha. Diện tích gieo trồng
hằng năm của tỉnh 18,2 vạn ha, riêng diện tích lúa cả năm là 115.871 ha.
Trong những năm vừa qua, Bắc Giang đã phối hợp, tranh thủ sự giúp đỡ của
các viện khoa học nông nghiệp đưa các loại giống lúa thuần, lúa lai nhập khẩu
vào canh tác. Tỉnh có chính sách trợ giá giống cho nông dân mỗi năm từ hai đến
ba tỷ đồng.
Nhờ công tác tuyên truyền sâu rộng, cộng với sự trợ giá của tỉnh, đến năm
2003, hơn 70% diện tích lúa đã được cấy bằng các giống thuần, cho năng suất
bình quân đạt 45,4 tạ/ha; đây là năm có năng suất cao nhất từ trước tới nay.
Năm 2004 và những năm tiếp theo, Bắc Giang chủ trương đưa các loại giống
mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào thâm canh, tăng năng suất, nhằm giảm

đông hoặc lúa xuân + đậu tương hè + rau đông. Công thức này đã cho thu nhập
40-50 triệu đồng/ha/năm. Những công thức nêu trên được canh tác bằng các
giống có năng suất cao như giống lúa xuân MT508, CL9, CV1, C70, C71; lúa
mùa giống KD18, Q5, DV108, nếp 325, giống lạc L14, MD7, đậu tương D799,
DT93, TN12... Áp dụng cơ cấu nêu trên còn giúp cải tạo đất, tăng vụ mà đất
không bạc màu; nông sản làm ra dễ tiêu thụ không bị thúc ép bởi thời gian. Ở
những vùng chiêm trũng nông dân áp dụng công thức một lúa + cá/năm cũng
cho thu nhập cao.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
é thc hin mc tiờu xõy dng cỏnh ng cú thu nhp cao, Bc Giang cn
khc phc tỡnh trng rung t manh mỳn, Tnh y ó cú kt lun 07 ch o,
tuyờn truyn ng viờn cỏc h nụng dõn t nguyn dn in i tha. Tuy nhiờn,
n nay vic dn in i tha cũn rt khú khn. Mt khỏc, mt cỏnh ng cú
nhiu h, vic ch o canh tỏc v tỡm th trng tiờu th sn phm cú nhiu
phc tp. Mc tiờu chuyn dch c cu kinh t nụng nghip, nõng cao hiu qu
thu nhp trờn mt n v din tớch Bc Giang ó cú nhng chuyn bin tớch
cc. Nhng kt qu bc u ó cú tỏc dng a sn xut nụng nghip tng
bc vn lờn tr thnh tnh cú nn nụng nghip hng húa phỏt trin.(1)
ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản suất nông nghiệp
trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý
Việc áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào nông nghiệp
trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ và đã có tác dụng tích cực đối với sản
xuất. (1):ngun :Hong Tin(http:// www.nhandan.org.vn)
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trớc hết là công nghệ sinh học đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất của các

2
, huyện Lạng Giang
là 1.381 m
2
, Lục Nam là 1.757 m
2
, và huyên Việt Yên là 1.917 m
2
. Bình quân đất
đai trên 1 nhân khẩu nông nghiệp Băc Giang thuộc loại thấp nhất so với các tỉnh
trong khu vực Đồng Bằng Sông Hồng.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bình quân đất đai trên một lao động nông nghiệp nớc ta năm 1998 là
1.048m
2
, trong đó khu vực huyện Hiệp Hoà là 983 m
2
,huyện Lạng Giang 1.398
m
2
, huyện Lục Ngạn là 905 m
2
, huyên Tân Yên là 764 m
2
, Lục Nam là 1.184 m
2
và huyện Việt Yên là 662 m
2
.

định. Có những làng xã tập trung từ mấy chục máy đến hàng trăm máy xay xát và
cả máy đánh bóng. Phân loại gạo đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu sang
Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn.
Từ năm 2000 đến nay loại máy xay xát công xuất nhỏ khoảng 500 600
kg/giờ, chạy bằng động cơ nổ hay động cơ điện phát triển nhanh ở nhiều vùng, do
các hộ gia đình đầu t trang bị và làm dịch vụ xay xát phuc vụ các hộ nông dân
trong làng xã thay thế cối xăy cối giã thủ công cổ truyền. Hiện nay ở Bắc Giang,
trên 90% sản lợng thóc gạo đã đợc xay xát bằng máy, riêng Lạng Giang, Hiệp
Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Nam, là 98%, chỉ co huyện Lục Ngạn, Sơn Động
vẫn còn 8 -10% bà con dân tộc vẫn còn dùng hình thức xay xát cổ truyền.
Ngoài các điểm xay xát phân tán ở nông thôn phục vụ chế biến thóc gạo tự
túc của các hộ nông dân, do nhu cầu của thị trờng lơng thực ở thành thị và thị tr-
ờng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc qua Lạng Sơn, đến nay ở một số vùng đã bắt
đầu hình thành một số cụm chế biến thóc gạo tập trung quy mô làng, xã, hay một
vùng nhiều xã. Các tụ điểm này tập hợp hàng trăm maý xay xát t nhân cùng hanh
nghề, mối ngày xay xát từ 5 đến 7 tấn thóc gạo. Ví dụ ở huyện Lạng Giang đã
hình thành một số trung tâm chế biến và kinh doanh lơng thực gồm một số xã nh
Tân Hng, Phi Mô, Yên Mỹ hoạt động từ năm 1995 đến nay. Riêng xã Tân Hng đã
có 150 chủ hộ gia đình có máy xay xát công suất nhỏ (750 kg/ giờ) sử dụng một
lực lợng lao động sản xuất và dịch vụ trên 1000 ngời.
Chế biến hoa màu (ngô khoai sắn ), chủ yếu là tự cung tự cấp, các hộ gia đình
chế biến hoa màu để làm thức ăn cho gia súc là chủ yếu.
Công nghiệp chế biến lâm sản cha phat triển. Cho đến nay ở Bắc Giang gỗ
chế biến bình quân đầu ngời đạt mức 0,05 m3 /năm ( so với cả nớc 0.3 m3 /
năm ). Máy móc thiết bị chế biến gỗ còn lạc hậu trong đó 70% là khâu xẻ . thiết bị
mộc tinh chế biến chiếm 40% nhập của Bắc Ninh. Thiết bị ghép uốn tre gỗ, phủ bề
mặt còn ít. Tỷ lệ tận dụng gỗ trong chế biến gỗ còn thấp, bình quân 5 m3 tròn
mới làm đợc 1 m3 gỗ thành phẩm.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nghề cơ khí nông thôn ở Bắc Giang bắt đầu từ nghề rèn, đúc thủ công cổ
truyền, kết hợp với kỹ thuật cơ khí hiện đại du nhập vào nước ta và Bắc Giang
trong những năm gần đây.
Trình độ cơ khí nông thôn phụ thuộc trước hết vào trìng độ phát triển năng
lượng và động lực cơ điện chung cả nước và riêng nông thôn Bắc Giang dang
tăng lên.
Trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ở nông thôn Bắc Giang, ngay từ những năm
1989 – 1990, lục lượng cơ khi ( lò rèn ) cá thể, gia đình đã nhanh chóng phát
triển, thích ứng với chơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về công cụ
cầm tay cà công cụ cải tiến, nửa có khi của 9 – 10 hộ nông dân, trở thành đơn vị
thự chủ sản xuất kinh doanh.
Hầu hết các làng rèn và các thợ rèn có truyền thống đều hồi sinh nhanh
chóng và đi ngay vào sản xuất. Làng Tân Dĩnh( Lạng Giang) từ năm 1989 –
1990 đã có hộ sản xuất nông cụ, mỗi năm làm ra gần 10 nghìn cầy bừa, gưồng
tuốt kúa và nông cụ các loại. Ở đây bắt đầu hình thành một số chủ doanh nghiệp
tư nhân.
Trong lĩnh vực cơ khí sử dụng, từ khi các hộ gia đình trở thành các đơn vị tự
chủ trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thì đa
ssó họ cũng trở thành chủ sở hữu và sử dụng những máy moc nông nghiệp và
công nghiệp nông thôn.
Hình thức sở hữu và sử dụng máy móc thiết bị ở nông thôn cũng đa dạng: cá
thể. hợp tác, quốc doanh, liên doanh. Có những hộ nông dân mua máy móc để
sử dụng riêng và đi làm thuê.có những hộ gia đình không làm ruộng nhưng mua
máy móc để chuyên đi làm thuê(làm đất,bơm nước, đập lúa).
Trong lĩnh vực cơ khí sửa chữa công cụ, máy móc trong nông nghiệp và
nông thôn trước đây tập trung vào các xưởng sửa chữa đại tu, tiểu tu va lực
lượng sửa chữa của các hợp tác xã nông nghiệp. Nay các xưởng sửa chữa nay
hầu như không có điều kiện và khả năng đáp ứng yêu cầu sửa chữa máy móc
23

Kết quả thí điểm cho thấy Quỹ tín dụng nhân dân là một hình thức tổ chức
tín dụng phù hợp với đặc điểm của nông thôn, và như vậy Quỹ tín dụng nhân
dân có triển vọng phát triển thành hệ thống hợp tác xã tín dụng ở nông thôn Bắc
Giang.
Do nhu cầu về vốn của các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp và làm ngành
nghề rất lớn mà Quỹ tín dụng nhân dân chưa đáp ứng đựơc, nên vẫn đang tồn tại
hình thức cho vay nặng lãi và các tổ chức tín dụng khác ở nông thôn Bắc Giang,
gây thiệt hại cho nông dân thiếu vốn
b. Dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị và nguyên liệu cho sản xuất
Trong nông nghiệp do tổ chức hoạt động dịch vụ của nhiều hợp tác xã nông
nghiệp không đáp ứng đước yêu cầu về giống, phân bón thuốc trừ sâu,
xăng dầu cho các hộ nông dân nên đến nay phần lớn các hộ nông dân sử
dụng dịch vụ tư nhân trong các dịch vị này( còn các dịch vụ quốc doanh thì
không với tới xã).
c. Dịch vụ kỹ thuật ở nông thôn Bắc Giang
Các tổ chức hoạt động dịch vụ kỹ thuật đang có chiều hướng phát triển ở
nông thôn. Đây là xu thế tất yếu của qúa trình phân công hợp tác sử dụng
lao động trong quá trình công nghiệp hoá.
Các dịch vụ kỹ thuật được thực hiện trong sản xuất, chế biến nông sản cũng
ngư trong đời sông nông thôn. Do nhu cầu thực tế của cuộc sống, ở nông
thôn đã và đang hình thành các tổ chức lực lượng kỹ thuật thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau( quốc doanh, hợp tác, tư nhân ) nhưng phố biến là
các tổ chức dịch vụ kỹ thuật tư nhân.
25

Trích đoạn Chính sách huy động vốn Chính sách ứng dụng tiến bộ khoa học và tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đạ Tổ chức hệ thống quản lí công nghiệp nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status