1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG UPCoM
Thị trường UPCoM (Unlisted Public Company Market) của Việt Nam được
xây dựng trên nền tảng thị trường OTC nhưng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính
trị ở Việt Nam, và là bước đệm để tiến tới xây dựng một thị trường OTC hiện đại
tại Việt Nam. Vì vậy lý luận tổng quan về thị trường UPCoM được dựa trên lý luận
tổng quan v
ề thị trường OTC.
Để UPCoM đạt được mục tiêu đề ra chúng ta cần hiểu rõ và nắm vững cơ sở
lý luận, đồng thời nghiên cứu mô hình thị trường OTC của một số nước trên thế giới
nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho việc phát triển thị trường UPCoM ở Việt Nam.
1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP
TRUNG (THỊ TRƯỜNG OTC)
1.1.1. Khái niệm về thị trường chứng khoán (TTCK) phi t
ập trung
TTCK phi tập trung là loại TTCK xuất hiện sớm nhất trong lịch sử hình
thành và phát triển TTCK. Việc mua, bán chứng khoán chủ yếu được thực hiện
thông qua các quầy của ngân hàng, các công ty chứng khoán (CTCK). Phương thức
giao dịch chủ yếu là mua bán trực tiếp thủ công, thương lượng giá. Khi TTCK phát
triển, hoạt động của thị trường được thực hiện bởi một mạng lưới các nhà môi giới
và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và vớ
i các nhà đầu tư ở các địa điểm
phân tán khác nhau mà không có trung tâm giao dịch. Các loại chứng khoán giao
dịch trên thị trường này là chứng khoán chưa niêm yết, chủ yếu là của doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Việc giao dịch được thực hiện thông qua mạng điện thoại, internet; giá
cả chứng khoán giao dịch được xác định dựa trên cơ sở thỏa thuận, thương lượng.
Chính vì vậy, TTCK phi tập trung còn được gọi là “thị tr
ường qua quầy” - thị
đủ điều
kiện niêm yết trên SGDCK song đáp ứng được các điều kiện về tính thanh khoản và
yêu cầu tài chính tối thiểu của thị trường OTC, trong đó chủ yếu là chứng khoán của
các công ty vừa và nhỏ, các công ty mới được thành lập, công ty công nghệ cao và
có tiềm năng phát triển. Ngoài ra còn có các loại chứng khoán đã niêm yết trên
SGDCK. Như vậy, chứng khoán niêm yết và giao dịch trên thị trường OTC rất đa
dạng và có độ
rủi ro cao hơn so với các chứng khoán niêm yết trên SGDCK.
3
1.1.2.4. Hệ thống giao dịch của thị trường OTC
Thị trường OTC sử dụng hệ thống mạng máy tính điện tử diện rộng liên kết
tất cả các đối tượng tham gia thị trường. Vì vậy, thị trường OTC còn được gọi là thị
trường mạng hay thị trường báo giá điện tử. Hệ thống mạng của thị trường được các
đối tượng tham gia thị trườ
ng sử dụng để đặt lệnh giao dịch, đàm phán thương
lượng giá, truy cập và thông báo các thông tin liên quan đến giao dịch chứng
khoán… Chức năng của hệ thống mạng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch mua
bán và quản lý trên thị trường OTC.
1.1.2.5. Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC
Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC rất linh hoạt và đa dạng do phần lớn
các giao dịch mua bán trên thị trường được thực hiện trên c
ơ sở thương lượng và
thỏa thuận giữa người mua và người bán, khác với phương thức thanh toán bù trừ
đa phương thống nhất trên thị trường tập trung. Thời hạn thanh toán không cố định
như trên thị trường tập trung mà rất đa dạng T+1, T+2, T+x trên cùng một thị
trường, tùy theo từng thương vụ và sự phát triển của thị trường.
1.1.2.6. Quản lý thị trường OTC
Cấp quản lý thị
¾ Các công ty ch
ứng khoán: Các CTCK là những công ty hoạt động trong
lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ
chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng
khoán và tự doanh.
¾
Nhà tạo lập thị trường: Các nhà tạo lập thị trường là các tổ chức tài
chính được cấp phép, luôn nắm giữ một lượng chứng khoán đủ lớn và sẵn sàng
mua, bán nhằm tạo lập thị trường cho chứng khoán đó. Đây là một điểm rất đặc
trưng của thị trường OTC. Các nhà tạo lập thị trường được xem là động lực của thị
trường này, họ
mua bán chứng khoán kiếm lời và tự chịu rủi ro.
Trước hết, nhà tạo lập thị trường là các nhà kinh doanh chứng khoán. Khi
nắm giữ các loại chứng khoán, họ có thể nhận được thu nhập từ chứng khoán (trái
tức, cổ tức), từ chênh lệch tăng giá chứng khoán hoặc nhận được các quyền lợi khác
(quyền mua cổ phiếu khi công ty phát hành thêm cổ phiếu, nhận cổ phiếu thưởng từ
tổ chức phát hành). Khi tạo lập thị trường cho chứng khoán, các nhà tạo l
ập thị
trường có thể nhận được tiền hoa hồng từ dịch vụ hỗ trợ mua, bán chứng khoán cho
5
khách hàng. Ngoài ra họ còn có thể được hưởng các quyền lợi khác như khoản miễn
giảm thuế và phí giao dịch, quyền được nhận thông tin, quyền lợi từ các chính sách
hỗ trợ khác của Nhà nước và Hiệp hội kinh doanh chứng khoán.
Tuy nhiên, các nhà tạo lập thị trường khác với các nhà kinh doanh chứng
khoán thông thường. Theo quy định họ phải luôn nắm giữ một lượng chứng khoán
đủ lớn và phải sẵn sàng mua bán một lượng chứng khoán tối thi
ểu theo mức giá đã
cam kết khi có yêu cầu. Như vậy, với tư cách là nhà buôn, các nhà tạo lập thị trường
lập thị trường khác với nhà môi giới và nhà đầu tư chỉ đơn thuần là kiếm lời từ việc
đóng vai trò trung gian và đối tác trong giao dịch. Nhà tạo lập thị trường ngoài việc
đóng vai trò là nhà môi giới, nhà đầu tư, họ còn đóng vai trò là nhà cân bằng giá,
tạo ra sự cân bằng, trật tự
ngắn hạn trong giao dịch chứng khoán.
¾
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán: Các tổ chức liên
quan đến TTCK gồm cơ quan quản lý Nhà nước, SGDCK, công ty dịch vụ máy tính
chứng khoán và các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.
9 Cơ quan quản lý Nhà nước là cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng
quản lý nhà nước đối với TTCK.
9 SGDCK là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những
quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên SGDCK phù hợp
với các quy định của luật pháp và UBCK Nhà nước.
9 Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán là tổ chức phụ trợ, phục vụ các
giao d
ịch chứng khoán.
9 Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn theo những
điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.
Qua tìm hiểu về cơ chế vận hành của thị trường OTC ta thấy được sự
khác biệt giữa thị trường này với thị tr
ường chứng khoán tập trung và thị
trường tự do (thị trường chợ đen) như sau:
¾ Phân biệt với thị trường chứng khoán tập trung (SGDCK):
SGDCK là một thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán
được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc
thông qua hệ thống máy tính. Các chứng khoán được niêm yết giao dịch tại SGDCK
thông thường là chứng khoán của các công ty lớn, có danh ti
đấu lệnh hoặc đấu giá
tập trung.
Chứng khoán giao dịch
Các chứng khoán của các
công ty đại chúng chưa niêm
yết, hoặc hủy niêm yết tại
SGDCK.
Các chứng khoán của
các công ty đại chúng
niêm yết trên SGDCK.
Giá chứng khóan
Trên thị trường có nhiều mức
giá cho một chứng khoán
trong cùng một thời điểm.
Chỉ có một mức giá
cho một chứng khoán
trong cùng một thời
điểm.
Giá tham chiếu chứng
khoán
Bình quân gia quyền của các
giá giao dịch thỏa thuận điện
Giá đóng của của
phiên giao dịch trước
8
tử của ngày có giao dịch gần
nhất
đó.
Rủi ro
Là thị trường không có
tổ chức, không có sự
quản lý của Nhà nước.
Cơ chế giao dịch
Dựa trên cơ sở thương lượng
và thỏa thuận, các giao dịch
Giao dịch có thể thỏa
thuận trực tiếp.
9
được thực hiện thông qua
các nhà môi giới hoặc các
nhà tạo lập thị trường.
Chứng khoán giao dịch
Các chứng khoán của các
công ty đại chúng chưa niêm
yết, hoặc hủy niêm yết tại
SGDCK và được đăng ký tại
TTLKCK.
Tất cả các chứng
khoán phát hành, kể cả
chứng khoán phát
hành riêng lẻ.
Rủi ro
Rủi ro thấp hơn TTCK tự do. Rủi ro rất cao.
1.1.3. Vai trò của thị trường OTC
Thị trường OTC là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của hệ thống
TTCK vì sự có mặt của thị trường này đã góp phần mở rộng thị trường dành cho
các loại chứng khoán chưa được niêm yết trên TTCK tập trung, tạo ra một kênh huy
thuận lợi cho người đầu tư trên cơ sở áp dụng kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện
đại, chất lượng cung cấp dịch vụ cho thị trường ngày càng hoàn hảo. Chính vì vậy,
thị trường OTC đã góp phần hoàn thiện môi trườ
ng huy động và phân bổ vốn cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư.
1.1.3.3. Hạn chế, thu hẹp thị trường tự do, góp phần đảm bảo sự ổn định
và lành mạnh của thị trường chứng khoán
Chúng ta không phủ nhận sự có mặt của thị trường tự do có vai trò nhất định
đối với sự phát triển của TTCK trong giai đoạn hiện nay. Chính sự có mặt c
ủa thị
trường tự do đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu phát hành và giao dịch chứng
khoán cho các công ty muốn huy động vốn và nhà đầu tư. Đúng như tên gọi của
mình, giao dịch mua bán trên thị trường tự do là do giữa các bên tự thỏa thuận,
không phải chịu giới hạn trần, sàn về giá như trên thị trường tập trung và cùng với
việc giao dịch mọi lúc mọi nơi đã giúp cho nhà đầu t
ư thuận tiện hơn trong việc
mua bán và đặc biệt là có cơ hội kiếm lãi cao.
Nhưng xét cho cùng sự tồn tại của thị trường này ở thời điểm hiện tại và lâu
dài sẽ bộc lộ nhiều tiêu cực. Cụ thể là do thị trường tự do nằm ngoài sự quản lý của
nhà nước cho nên những người hoạt động kinh doanh trên thị trường này sẽ không
có môi trường giao dịch thuận l
ợi, không được bảo vệ quyền lợi, hoạt động trong
điều kiện không công bằng, môi trường thông tin không đáng tin cậy, dễ xảy ra tình
trạng tranh chấp, lừa đảo, nhà đầu tư có cơ hội kiếm lãi cao nhưng cũng phải đối
11
mặt với rủi ro cao. Chính vì vậy, hoạt động của thị trường tự do hiện tại cũng như
về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK chính thức, không đảm bảo
được sự phát triển ổn định, lành mạnh của TTCK. Vì vậy, việc hình thành thị
trường OTC hoạt động một cách quy củ sẽ góp phần đáng kể trong việc khắc phục
12
trái phiếu chuyển đổi) của các công ty đại chúng chưa niêm yết, hoặc hủy niêm yết
tại SGDCK TP.HCM (HoSE) hoặc SGDCK Hà Nội.
1.2.1. Cơ chế vận hành trên thị trường UPCoM:
Theo quy định của SGDCK Hà Nội, cơ chế vận hành trên thị trường UPCoM
gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.2.1.1. Các chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường UPCoM
Các tổ chức và cá nhân tham gia trên thị trường UPCoM gồm:
¾ Tổ chức đăng ký giao dịch (công ty đại chúng):
Tổ chức đăng ký giao dịch trên UPCoM là các công ty đại chúng theo điều
25 của Luật chứng khoán có chứng khoán không niêm yết hoặc bị hủy niêm yết tại
các SGDCK và đã được đăng ký lưu ký tại TTLKCK Việt Nam.
Các công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên UPCoM phải chịu trách nhiệm
về tính chính xác, đầ
y đủ và trung thực của nội dung thông tin được công bố.
¾ Tổ chức cam kết hỗ trợ (Công ty chứng khoán):
Tổ chức cam kết hỗ trợ phải ký hợp đồng cam kết hỗ trợ với tổ chức đăng ký
giao dịch theo mẫu do SGDCK ban hành.
Tổ chức cam kết hỗ trợ có các nghĩa vụ sau:
9 Chịu trách nhiệm về việc chứng khoán của công ty đại chúng do mình
cam kết hỗ tr
ợ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để đưa vào hệ thống
đăng ký giao dịch của SGDCK;
9 Thay mặt công ty đại chúng do mình cam kết hỗ trợ thực hiện các thủ tục
đăng ký giao dịch chứng khoán vào hệ thống đăng ký giao dịch của SGDCK.
9 Hỗ trợ tổ chức đăng ký giao dịch do mình cam kết hỗ trợ trong việc thực
hiện nghĩa vụ công bố thông tin theo quy
định:
- Thường xuyên đôn đốc tổ chức đăng ký giao dịch thực hiện công bố thông
9 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
9 T
ổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
9 Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
9 Các tổ chức tài trợ chứng khoán
9 Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
14
1.2.1.2. Điều kiện tham gia giao dịch:
Theo Quy định tại điều 7 quy chế tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán
công ty đại chúng chưa niêm yết tại SGDCK Hà Nội được ban hành kèm theo Quyết
định số 108/2008/QĐ-BTC ngày 20 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
chứng khoán của các công ty đại chúng được giao dịch trên thị trường UPCoM khi đáp
ứng đủ các điều kiện sau:
¾ Công ty đại chúng chưa niêm yết hoặc hủy niêm y
ết có vốn điều lệ đã góp từ
10 tỷ đồng trở lên và tối thiểu có 100 cổ đông sở hữu không kể nhà đầu tư chứng khoán
chuyên nghiệp (điều 25 Luật chứng khóan);
¾ Chứng khoán đã được đăng ký lưu ký tại TTLKCK;
¾ Được một (01) thành viên cam kết hỗ trợ;
Tuy nhiên kể từ ngày 19/7/2010, để giản tiện cho tất cả các công ty đại chúng có
thể tham gia đăng ký giao d
ịch trên thị trường UPCoM, điều kiện được một thành viên
cam kết hỗ trợ không còn là điều kiện bắt buộc.
1.2.1.3. Trình tự đăng ký giao dịch
¾ Tổ chức phát hành lựa chọn một CTCK là tổ chức cam kết hỗ trợ và ký hợp
đồng cam kết hỗ trợ;
¾ Tổ chức phát hành phối hợp với tổ chức cam kết hỗ trợ thực hiện:
9
Đăng ký, lưu ký chứng khoán của công ty đại chúng với TTLKCK;
với phương thức giao dịch, tạo sự sôi động của thị trường, tăng tính thanh khoản
cho chứng khoán cũng như tính hấp dẫn của thị trường, thu hút được sự tham gia
của nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư, kể từ ngày 19/7/2010 thị trường UPCoM áp
dụng phương th
ức khớp lệnh liên tục thay cho hình thức thỏa thuận điện tử.
Khớp lệnh liên tục là phương thức trong đó giao dịch được thực hiện liên tục
ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh
liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống sẽ lập tức được so khớp và hình
thành giao dịch, từ đó giá cả đượ
c xác định liên tục chứ không phải vào một thời
điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp
lệnh hiện đại này các SGDCK phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc
biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà
Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, n
ắm vững thông tin
16
hơn khi quyết định đầu tư trên TTCK, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức
giao dịch khớp lệnh liên tục cũng cao hơn.
¾ Đơn vị giao dịch, khối lượng giao dịch, đơn vị yết giá, mệnh giá và biên độ dao
động giá:
9 Đơn vị giao dịch: Đơn vị giao dịch khớp lệnh liên tục là 100 cổ phiếu hoặc
100 trái phiếu. Không quy định đơn vị giao dịch đối v
ới giao dịch thoả thuận. Áp
dụng khối lượng giao dịch tối thiểu đối với giao dịch thoả thuận là mười (10) cổ
phiếu hoặc mười (10) trái phiếu.
9 Đơn vị yết giá: Cổ phiếu là 100 đồng; không quy định đối với trái phiếu
9 Mệnh giá: Cổ phiếu là 10.000 đồng; trái phiếu là 100.000 đồng
9 Biên độ dao động giá: ± 10% đối với cổ phiếu; không quy định đố
i với
Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại
được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch
khớp lệnh liên tục của ngày có giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ
tách, gộp cổ phiếu.
¾ Phương thức và thời gian thanh tóan:
Áp dụng phương thứ
c thanh toán bù trừ đa phương, thời gian thanh toán là
T+3.
1.2.1.5. Quy định về công bố thông tin trên UPCoM
Các tổ chức buộc phải công bố thông tin trên sàn UPCoM gồm:
¾ Tổ chức đăng ký giao dịch
Theo điều 28 Quyết định 108/2008/QĐ-BTC ngày 20/11/2008 của Bộ Tài
chính thì tổ chức đăng ký giao dịch thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin đối với
công ty đại chúng nêu tại Mục II Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007
gồm:
9 Công bố báo cáo tài chính năm
đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán
được chấp thuận và báo cáo thường niên;
9 Công bố thông tin bất thường: Nêu rõ sự kiện xảy ra, nguyên nhân, kế
hoạch và các giải pháp khắc phục (nếu có);
9 Công bố thông tin theo yêu cầu của UBCKNN, SGDCK Hà Nội;
9 Công bố thông tin về giao dịch cổ phiếu quỹ, giao dịch cổ phiếu của các
cổ đông nội bộ, cổ đông lớn, cổ
đông sáng lập trong thời hạn còn bị hạn chế chuyển
nhượng;
18
9 Công bố thông tin về giao dịch chào mua công khai;
¾ Thành viên
Thành viên thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin đối với CTCK nêu tại Mục
thị trường này tiếp tục phát triển một cách tự do sẽ gây ra sự bất bình đẳng trong môi
trường đầu tư chứng khoán và gây ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK tập trung.
Thị trường UPCoM ra đời sẽ góp phần thu hẹp thị trường tự do vì theo quy định,
chứng khoán của các công ty đại chúng phải được lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký
chứng khoán (TTLKCK) trước khi thực hiện giao dịch và việc mua bán chứng khoán của
công ty đạ
i chúng chưa niêm yết được thực hiện tại CTCK.
Thứ hai, tạo môi trường đầu tư linh hoạt, thuận lợi cho các nhà đầu tư và tăng
tính thanh khoản cho TTCK.
Thị trường này mở ra một kênh đầu tư mới cho các nhà đầu tư ngoài các cổ phiếu
đã niêm yết trên TTCK tập trung, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận TTCK một
cách nhanh chóng và thuận tiện. Nhà đầu tư sẽ tránh được các rủi ro mang tính pháp lý,
tránh tình trạng mua bán chứng khoán giả mạo... đặc biệt nhà đầu tư sẽ biết rõ hơn về cổ
phiếu mà mình đầu tư do các công ty đại chúng phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin
định kỳ và bất thường theo quy định.
Các cổ phiếu chưa niêm yết trên TTCK tập trung khi vào UPCoM sẽ được nhiều
nhà đầu tư biết đến, các nhà đầu tư có thể tìm thấy nhau, yên tâm hơn khi mua cổ phiếu,
nhu cầu mua bán c
ũng được thực hiện thường xuyên và liên tục hơn. Điều đó khiến các
giao dịch chứng khoán chưa niêm yết trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn, làm tăng tính thanh
khoản cho thị trường và ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia giao dịch.
Thứ ba, tạo điều kiện cho các công ty đại chúng chưa đủ chuẩn niêm yết trên
TTCK tập trung có thể huy động vốn trên TTCK và là bước đệm quan trọng đối với các
công ty chuẩn b
ị niêm yết trên sàn.
Cũng như thị trường tài chính nói chung, thị trường UPCoM có vai trò quan trọng
trong việc mở ra một kênh huy động vốn mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh
nghiệp chưa đủ điều kiện niêm yết để huy động vốn trên TTCK tập trung, thực hiện tính
thanh khoản của các chứng khoán này vì theo quy định của Luật chứng khoán, HoSE và
tạo lập thị trường đóng vai trò chủ đạo, tạo lập hàng hóa và dẫn dắt thị trường. Vì
vậy thị trường UPCoM sẽ góp phần thúc đẩy các CTCK phát triển theo hướng nhà
tạo lập thị trường.
Có thể nói, những mục tiêu nêu trên là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh
tế - chính trị - xã hội của nước ta hiện nay. Hoạt động của thị trường UPCoM tạo
tính thanh khoản cho các loại chứng khoán chưa niêm yết, tạo nên sân chơi hợp
pháp và công bằng cho các nhà đầu tư và kinh doanh chứng khoán, góp phần đẩy
nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời thu hẹp thị trường
tự do và tiến tới xây dựng một thị trường OTC hiện đại. Do vậy, việc thành lập thị
21
trường UPCoM - một thị trường có tổ chức, có sự quản lý của Nhà nước cho những
cổ phiếu chưa niêm yết hoặc bị hủy niêm yết là việc làm cần thiết nhằm thúc đẩy
và hoàn thiện TTCK Việt Nam.
1.2.3. Phân biệt giữa thị trường OTC và thị trường UPCoM
Mặc dù thị trường OTC và thị trường UPCoM đều là thị trường chứng khoán
phi tập trung, có vai trò hạn chế, thu hẹp thị trường tự
do, góp phần thúc đẩy TTCK
phát triển, tạo thị trường cho các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, các
chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết... nhưng hai thị trường này cũng có những
điểm khác biệt nhất định như sau:
Ở thị trường OTC hiện đại, dù là những chứng khoán chưa được niêm yết tập
trung nhưng cũng thỏa mãn những tiêu chuẩn nhất định về đ
iều kiện giao dịch; các
giao dịch được thực hiện thông qua nhà môi giới hoặc nhà tạo lập thị trường dựa
trên cơ sở thương lượng và thỏa thuận song phương giữa người mua và người bán;
thời hạn và phương thức thanh toán linh hoạt. Ở thị trường này, các CTCK không
chỉ dừng lại ở vai trò là người môi giới mà còn đóng vai trò là các nhà tạo lập thị
trường.
Riêng thị trường UPCoM ở Việt Nam, vì các CTCK ch
tại thị trường này được tự động hóa hoàn toàn. Hầu hết các giao dịch t
ại đây đều
được tiến hành thông qua mạng lưới điện thoại và vi tính với doanh số lớn gấp
nhiều lần so với các SGDCK. Hệ thống này nối mạng với các máy con của các hội
viên thuê bao hệ thống NASD, cung cấp giá cả chứng khoán cho các thành viên để
tiến hành thương lượng, đàm phán trước khi ký hợp đồng tiêu thụ chứng khoán
Thị trường này có giá trị vốn hoá thị trường đứng thứ 3 thế gi
ới (sau NYSE
và Tokyo stock Exchange). Tuy không niêm yết trên sàn giao dịch, các chứng
khoán OTC muốn được chào giá trên hệ thống NASDAQ cũng cần có các tiêu
chuẩn không kém. Tiêu chí chứng khoán được niêm yết trên NASDAQ có nhiều
loại nhưng nói chung bao gồm các tiêu chuẩn về tổng giá trị tài sản công ty, vốn và
lợi nhuận, số cổ phiếu do công chúng nắm giữ, số lượng cổ đông, số lượng các nhà
tạo lập thị trường. Tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán trên thị trường NASDAQ quốc
gia cao hơn so với thị trường NASDAQ thông thường.
NASDAQ được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và các
nhà môi giới, có khoảng 500 nhà tạo lập thị trường hoạt động tích cực trên thị
trường này, trung bình mỗi nhà tạo lập thị trường làm nhiệm vụ tạo lập cho 8 loại
cổ phiếu. Cơ chế niêm yết tự động bằng hệ thống điện t
ử. NASDAQ chịu sự quản lý
23
của hai cấp UBCK Mỹ (SEC) và Hiệp Hội các nhà kinh doanh chứng khoán Mỹ
(NASD). Thị trường NASDAQ hiện nay đã được nối mạng toàn cầu với nhiều thị
trường OTC trên thế giới. Cơ chế xác lập giá chủ yếu là thỏa thuận giá trên cơ sở
báo giá tập trung, tuy nhiên có một bộ phận của thị trường (gọi là hệ thống khớp
lệnh nhỏ tự động của NASDAQ – SOSE) cung cấp d
ịch vụ khớp lệnh tập trung đối
với các lệnh nhỏ dưới 1,000 cổ phiếu. Ngoài ra Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng
khoán NASD còn cung cấp dịch vụ báo giá điện tử qua mạng NASDAQ cho hơn
tổng giá trị thị trường của chứng khoán, số lượng cổ đông, số lượng chứng khoán
lưu hành, ý kiến kiểm toán và các tiêu chí khác. Tính đến tháng 9/1997 đã có 800
chứng khoán được giao dịch trên thị trường này, tăng hơn 2,5 lần so với năm 1990.
Thị trường J-NET mới được đưa vào hoạ
t động tháng 4/1999, đây là thị
trường được thành lập mới, chịu sự quản lý trực tiếp của SGDCK OSAKA, áp dụng
cơ chế thương lượng giá. Chứng khoán niêm yết trên thị trường J-NET là các chứng
khoán không được niêm yết trên SGDCK OSAKA. Thành viên của SGDCK
OSAKA, nhà đầu tư và Trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông
qua một mạng điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượ
ng này có thể chia sẻ
thông tin thị trường. Đặc trưng của J-NET là dịch vụ rẻ - nhanh - tiện lợi, có thể
truy cập trực tiếp thị trường – thông tin thị trường, người đầu tư có thể thực hiện
giao dịch bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu và với bất kỳ ai. J-NET cũng là mạng được
nối với các mạng khác trong nước và mạng quốc tế. Đây là mạng
được đánh giá có
tiềm năng hữu dụng lớn trong tương lai đối với TTCK trong và ngoài nước.
1.3.1.3. Thị trường OTC Hàn Quốc
Thị trường OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập tháng 4/1987
nhằm tạo môi trường hoạt động cho các chứng khoán không được niêm yết trên
SGDCK Hàn Quốc (KSE), chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán (KSDA). Tháng 4/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổ chức lại
và thúc đẩy th
ị trường này phát triển bằng việc thành lập thị trường mạng máy tính
KOSDAQ nhằm tạo điều kiện cho các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu chuẩn
niêm yết trên thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp.
Thị trường này được xây dựng theo mô hình NASDAQ (Mỹ), giao dịch qua
mạng điện tử có sự kiểm soát trung tâm. Các tổ chức niêm yết trên thị trường
KOSDAQ phải đáp ứng một s
ố tiêu chí cơ bản như mức vốn điều lệ tối thiểu, tỷ lệ
khóe của các nhà đầu tư nắm được những thông tin mang tính chất nội gián mà nhà
tạo lập thị trường không nắm được, điều này làm tăng rủi ro đối với các chứng
khoán “trong kho” của nhà tạo lập thị trường.
Thứ hai, với thị trường như NYSE, các nhà tạo lập thị trường hầu như
không gặp phải rủi ro như
các nhà tạo lập thị trường ở NASDAQ. Họ là người duy
nhất nắm toàn bộ thông tin về duy nhất một loại chứng khoán. Tuy nhiên mô hình
này chỉ phù hợp với thị trường mà tất cả chứng khoán đều có chất lượng cao, được