Bài 5. NHÀ CỬA - KIẾN TRÚC
Đối với người làm nông nghiệp, ngôi nhà là cái tổ ấm, với các chức năng:
chức năng cư trú, chức năng xã hội và chức năng kinh tế. Người Việt khẳng
định: có an cư thì mới lạc nghiệp, và nhất dương cơ nhì âm phần là vậy.
I. NHÀ CỬA CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
Quy mô, kết cấu và hình thức của ngôi nhà nhìn chung nhỏ bé, đơn sơ và
mang tính tôn ti. Nguyên nhân: do luật pháp nhà nước phong kiến quy định,
đồng thời còn là do môi trường tự nhiên của Việt Nam quy định.
1. Nhà của người Việt/ Kinh
Nhà của người Việt / kinh xây dựng trên những miền có địa hình và khí
hậu khác nhau sẽ có những khác biệt để thích ứng với môi trường sống. Nhà
cửa vùng đồng bằng miền Bắc chau chuốt, trang nhã nhưng không kém phần
vững chắc và duyên dáng hơn các vùng khác. Ngôi nhà gắn bó với thiên
nhiên, tạo cảm giá gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên.
Nhà cửa của người Việt ở những nơi đầu sóng ngọn gió, hàng năm phải
chịu sự chà sát của bão gió liên tục, như các tỉnh từ Quảng Ninh xuống Thái
Bình, thì căn nhà phải thu mình gọn, bám chặt vào đất, nên ngôi nhà đã giảm
đi sự trang trí thanh thoát trang nhã mà chỉ giữ lại những gì thật cần thiết,
đảm bảo tránh gió bão từ miền đông vào.
Ngôi nhà vùng này đặc biệt chú ý đến sự gia
cố phần khung và mái nhà để trụ được trước
gió bão. Toàn bộ ngôi nhà tạo sự vững chắc
về chiều ngang nên nó như lùn xuống, ì ra
chắc nịch. Còn nhà ở miền trung, nơi rất gần
biển thì các tiêu chuẩn phải đạt tới là giản dị,
chắc chắn. Nhà ở vùng Nam Bộ, một vùng
đất trẻ / mới, đất rộng người thưa, sông nước
mênh mông, kênh rạch chằng chịt, vật liệu xây nhà là những thứ có sẵn
trong vùng như cây tràm, cây đước, lá buông, lá dừa, vừa có khả năng chịu
mặn vừa linh hoạt. Nhìn chung nhà cửa có vẻ tạm bợ so với các vùng miền
khác.
Thái.
Hướng nhà thường là hướng của cả bản. Đó là hướng của cộng đồng nguời
sống, gắn với nguyện vọng về cuộc sống no đủ, bình an, đoàn kết của cộng
đồng ngươì Thái. Nhà sàn Thái có hai loại, gắn với hai nhóm tộc người là
Thái trắng và Thái đen. Người Thái trắng có nhà sàn 'khai điêng', người Thái
đen có nhà sàn 'phăng đin'. Hai kiểu nhà này có những đặc điểm chung là:
nhà có bốn mái. Ngoài mái trên và mái dưới ở phía trước và phía sau có hình
chữ nhật, còn lại hai mái ở hai đầu hồi che cho gian đầu và thân sàn. Bốn
mái gặp nhau ở các kèo góc tạo ra một đầu hồi, gọi là hang con mèo (hông
meo) làm chỗ cho hồn người chết bay lên trời.
Nhà sàn truyền thống có mái nhà giống như mai con rùa hoặc chiếc
thuyền úp. Trên mái nhà, ở hai đầu hồi có 'khau cút' vút cao, vừa mang dấu
ấn dân tộc, vừa cho biết vị trí xã hội của chủ nhà, đồng thời cũng là nẹp giữ
cho đầu hôid khỏi bị tốc.
Nhìn trên đại thể, nhà sàn Thái có hình con rùa đứng rụt cổ, các chân rướn
thẳng, phù hợp với truyền thuyết của người Thái rằng rùa đã lấy thân mình
làm mẫu cho người học làm nhà. Sự trang trí các bộ phận của nhà như mái
nhà, thân nhà, cầu thang, đều mang hơi thở và dấu ấn cảnh quan núi rừng và
trình độ nghệ thuật của người Thái, xứng đáng là tác phẩm nghệ thuật dân
gian.
2.3. Nhà dân tộc Chàm (Chăm)
Theo tập quán, làng Chàm được lập trên vùng đất có núi ở phía nam, sông
ở phía bắc, có gờ cao phía tây và thoải dần về phía đông. Người Chàm dựng
nhà trong một khuôn viên hình chữ nhật, gắn bó với cộng đồng làng. Trong
mỗi khuôn viên của gia đình Chàm có đủ bốn ngôi nhà: nhà tục (Thang dơ),
nhà cặp đôi (thang mơ- dâu), nhà bếp (thang gìn) và nhà kho (thang tôn).
Một số gia đình còn có thêm nhà ngang (thang cần) và nhà lớn (thang pì -
nài).
Nhà tục là ngôi nhà truyền thống được xây dựng trước tiên trong khuôn
viên, gồm ba gian dựng gần góc đông bắc, hướng nhà là hồi phía trước và
2.4. Nhà dài dân tộc Ê Đê
Cơ sở dẫn đến sự ra đời của các ngôi nhà dài là các gia đình lớn mẫu hệ.
Ngôi nhà dài Ê Đê là nhà sàn, khung tre gỗ, mái lợp nhọn lợp tranh. Bộ
khung nhà dài chỉ có cột, dầm, quá giang, xà dọc, mà không có kèo. Ngôi
nhà dài Ê Đê có hình dạng giống nhà hình thuyền trên các trống đồng Đông
Sơn, khiến có nhà nghiên cứu đã liên hệ và đưa ra giả thuyết về mối liên hệ
của tổ tiên người Ê Đê xa xưa với biển, với cư dân vùng Nam Đảo.
Không gian trong ngôi nhà dài được chia làm hai phần- phần nhà ngoài
(gah) ở phía bắc và phần nhà trong (ôk) ở phía nam. Chức năng phần nhà
ngoài: tiếp khách, tiến hành các nghi lễ phong tục, tổ chức các sinh hoạt
công cộng của đại gia đình mẫu hệ, có khi còn là chỗ ăn ở của những người
đàn ông chưa vợ. Ngoài ra ở nhà ngoài còn bày những 'ghế khách', 'ghế
trống' giành cho nhạc công; chiêng, trống, những vò
rượu cần, những vũ khí, những xương đầu thú săn được
hay gia súc làm lễ hiến sinh. Mỗi cột trong ngôi nhà gắn
với một phương và một đối tượng. Đó là các cột: cột chủ
(phía đông), cột trống (phía tây); trong bộ vì có cột
khách (cột phía đông) và cột chiêng (cột phía tây). Trang trí chạm khắc phần
nhà ngoài rất đẹp, thể hiện dấu ấn mẫu hệ rõ nét.
Phần nhà trong được ngăn ra thành từng phòng nhỏ dành cho các cặp vợ
chồng. Bếp nấu ăn chung được làm trước cửa buồng ngủ chủ gia đình. Các
cặp vợ chồng ăn riêng thì có bếp nhỏ trước buồng mình. Phía sau nhà dài là
kho lúa.
2.5. Nhà rông Tây Nguyên
Nhà rông là ngôi nhà chung của cả buôn làng, có giá trị nghệ thuật cao về
kiến trúc, là một biểu tượng của mỗi buôn làng Tây Nguyên.
Quy mô nhà Rông to lớn với kiểu thức độc đáo chỉ có ở Tây Nguyên. Vật
liệu làm nhà là vật liệu được kiếm tại chỗ, tạo nên bộ khung gỗ, vách ván, và
mái tranh như nhà dân. Giữa các ngôi nhà đơn sơ của dân làng, nhà rông nổi
bật lên sừng sững với bộ mái vươn cao dựng đứng như lưỡi rìu sắc bén lật