Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ HÀ
HUYỆN CHIÊM HOÁ -TUYÊN QUANG
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Đàm Thị Uyên
Thái Nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG .... 7
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và các thành phần dân tộc ........... 7
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ............................................. 7
1.1.2. Các thành phần dân tộc trong huyện ..................................... 9
1.2. Lịch sử hành chính .................................................................... 16
Chƣơng 2: KINH TẾ CHIÊM HOÁ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX ................... 17
2.1. Vài nét về tình hình ruộng đất trước thế kỷ XIX ........................ 17
2.2. Tình hình ruộng đất Chiêm Hoá nửa đầu thế kỷ XIX theo địa
bạ Gia Long 4 (1805). ...................................................................... 21
bàn lãnh thổ có nhiều tộc người cộng cư bên nhau.
Chiêm Hóa là vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai tương
đối màu mỡ, giàu tài nguyên khoáng sản, các dân tộc Chiêm Hoá mặc dù có
nguồn gốc lịch sử khác nhau nhưng khi đã cùng nhau sinh sống tại nơi đây thì
các dân tộc đã tích cực khai phá, mở mang ruộng đồng, xây làng lập bản để
làm nơi sinh cơ lập nghiệp và phát triển lâu dài.
Tình hình cộng cư của nhiều thành phần dân tộc gắn liền với quá trình
phát triển lâu dài của đất nước.Việc xây dựng cộng đồng chính trị xã hội trong
lịch sử không tách rời với việc xây dựng cộng đồng quốc gia dân tộc gồm
nhiều thành phần dân tộc. Tình hình đó luôn gắn liền và bị chi phối bởi yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung, từng vùng miền nói
riêng và bởi yêu cầu chống ngoại xâm bảo vệ sự tồn tại của quốc gia độc lập.
Trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở các vùng dân tộc miền núi
nói chung và Chiêm Hoá nói riêng “Với yêu cầu của công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước, việc di dân gắn liền với việc phân bố dân cư, quy hoạch, xây
dựng các vùng kinh tế. Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới việc xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số.Việc phân bố lại dân cư
gắn với xây dựng các vùng kinh tế nhằm khắc phục dần sự cách biệt về kinh
tế xã hội giữa các dân tộc, khai thác mọi tiềm năng của đất nước, phát triển
2
kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời góp phần khôi phục
rừng bảo vệ môi trường sinh thái” [26, tr43].
Là vùng đất rộng người thưa, núi non hiểm trở, có vị trí chiến lược về
quốc phòng Chiêm Hoá từ xa xưa luôn là một bộ phận của tổ quốc Việt Nam
thống nhất. Đồng bào các dân tộc nơi đây có truyền thống đoàn kết, yêu nước,
giàu lòng nhân ái, dũng cảm trong đấu tranh chống cường quyền, áp bức,
đánh giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động và có đời sống văn hoá
tinh thần khá phong phú, độc đáo.
Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
khoa học đầy đủ và có hệ thống về huyện Chiêm Hoá trong thời kì kháng
chiến cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Tiếp đến là tài liệu nghiên cứu “Tìm hiểu vài nét về chế độ Quằng ở
vùng Mường Giàng thuộc Chiêm Hoá Tuyên Quang trước năm 1945” của Vũ
Xuân Bân. Tài liệu đã nêu khá đầy đủ và chi tiết về chế độ Quằng ở vùng
Mường Giàng (Chiêm Hoá) - Tuyên Quang như: quá trình hình thành và tồn
tại của chế độ Quằng từ khi hình thành, khi thực dân Pháp xâm lược và sự tan
rã của nó; chế độ ruộng đất, chính sách cai trị của Quằng và quan hệ giai cấp
trong chế độ Quằng ở Mường Giàng (Chiêm Hóa) – Tuyên Quang.
Nguồn tài liệu trên là ý kiến gợi mở quý báu tạo điều kiện cho tôi thực
hiện đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trước hết bản thân là một người dân địa phương có mong
muốn tìm hiểu về quê hương trong lịch sử và nhằm góp thêm cơ sở khoa học về
cư dân miền núi nói chung và phía Bắc nói riêng lâu nay còn ít người quan tâm.
Đồng thời, việc tìm hiểu nghiên cứu này mong muốn góp phần nêu lên
một cách chân thực, khoa học về một thời kì lịch sử trong quá khứ của mảnh đất
4
cũng như con người Tuyên Quang. Ngoài ra, còn có thể bổ sung thêm nguồn tư
liệu góp phần lí giải một số vấn đề lịch sử Việt Nam trung đại: lịch sử đấu tranh
và bảo vệ biên cương, bảo vệ chính quyền quốc gia dân tộc, mối quan hệ giữa
các dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển của đất nước, góp phần lí giải về
cơ sở xuất phát cho những chính sách của Đảng và nhà nước ta....
- Nhiệm vụ: Bước đầu nghiên cứu tương đối toàn diện và đầy đủ về các
mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Chiêm Hóa Tuyên Quang nửa
đầu thế kỉ XIX để qua đó thấy được bức tranh về một thời kì lịch sử trong quá
khứ của mảnh đất và con người Tuyên Quang.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm nguồn gốc các dân tộc, tổ chức
văn kết hợp với phương pháp điền dã lịch sử. Đồng thời sử dụng các phương
pháp lịch sử, logic, phân tích, mô tả, so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu,
phương pháp tổng hợp bằng hệ thống các bảng biểu.
Chúng tôi đặt việc nghiên cứu lịch sử huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên
Quang) trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc (trong khoảng thời gian nửa đầu
thế kỷ XIX) để thấy được những tác động, ảnh hưởng giữa lịch sử địa phương
với lịch sử dân tộc.
6. Đóng góp của luận văn
Dựa trên những nguồn tài liệu có thể khai thác được, đề tài bước đầu
khôi phục một cách có hệ thống bộ mặt Chiêm Hoá trong một giai đoạn lịch
sử, mối quan hệ tộc người, loại hình kinh tế xã hội, thiết chế chính trị xã hội,
các hoạt động kinh tế, những nét văn hoá tiêu biểu gắn với môi trường sinh
thái địa phương, vùng miền, những nhân tố thúc đẩy sự biến đổi về kinh tế xã
hội địa phương... trong thời kì lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam.
6
7. Cấu trúc của luận văn
Đề tài gồm 87 trang, ngoài phần mục lục, phần mở đầu, tài liệu tham
khảo, phụ lục, đề tài được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang.
Chương 2: Kinh tế huyện Chiêm Hoá nửa đầu thế kỉ XIX.
Chương 3: Tình hình chính trị - xã hội và văn hóa huyện Chiêm Hoá
nửa đầu thế kỉ XIX. BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH TUYÊN QUANG
8
cao nhất là núi Khau Bươn (957m), dãy núi phía tây có đỉnh cao nhất là núi
Chặm Chu (1587m).
Sông, suối Chiêm Hoá có độ dốc cao , hướng chảy khá tập trung, các
con suối, ngòi đều đổ về sông Gâm và sông Lô. Con sông lớn nhất là sông
Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, sau khi chảy qua Cao Bằng, Na Hang, sông
Gâm chảy qua Chiêm Hoá trên một độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất
nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các vùng trung du và đồng bằng Bắc
Bộ. Các con suối lớn như: ngòi Quẵng, ngòi Đài, ngòi Nhụng… cùng nhiều
khe nhỏ khác với chiều dài 317 km tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú,
cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất cua nhân dân và là những
con đường giao thông, vận tải quan trọng.
Trong hoàn cảnh đặc thù của một huyện miền núi, giao thông đường bộ
của Chiêm Hoá có vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh… Song đây cũng là ngành đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, khó
thực hiện và cho tới nay, kết quả đạt được vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn được
nhu cầu. Con đường chiến lược của huyện là tuyến đường khởi xuất từ km31
của quốc lộ II chạy qua huyện lỵ lên Na Hang. Sau nhiều năm xây dựng nâng
cấp huyện đã có một mạng lưới đường liên xã, liên thôn trải rộng khắp địa
bàn. Đương nhiên, đây chủ yếu là đường đất, lòng đường hẹp, nhiều dốc, việc
giao thông vận tải còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa.
Theo Đại Nam nhất thống chí, khí hậu của Chiêm Hoá: “Mùa hè và mùa
thu thường mưa nhiều, mùa đông và mùa xuân thường âm u mỗi khi mưa lâu
tiếp đến ngày nắng, thì khí nóng khác thường, đến tiết sương giáng thì có gió
rét, tháng 3 và tháng 9 khí nóng nung nấu, nhiều người bị cảm” [21, tr314].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
10
Theo sách Đại Nam nhất thống chí : “Nhân dân thì người Thanh, người
Thổ, người Nùng, người Mán ở lẫn lộn với nhau, mỗi chủng tộc nói một thứ
tiếng khác nhau...”[21, tr342].
Theo số liệu thống kê năm 2008 của tỉnh Tuyên Quang, huyện Chiêm
Hóa có 135.873 người (chiếm 18,57% dân số cả tỉnh). Chiêm Hoá là một
huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang bao gồm nhiều dân tộc sinh sống,
trong đó tập trung nhiều nhất là dân tộc Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa, Mông...
BẢNG THỐNG KÊ CÁC THÀNH PHẦN DÂN TỘC Ở CHIÊM HOÁ
(SỐ LIỆU NĂM 2008)
STT Dân tộc Dân số Tỉ lệ (%)
1 Tày 82578 60.8
2 Kinh 29332 21.6
3 Dao 17839 3.04
4 Hoa 1885 1.39
5 Mông 1571 1.16
6 Nùng 1483 1.09
7 Các dân tộc khác 1185 1
Tổng số 135873 100
Nơi cư trú của các dân tộc chủ yếu là những vùng rừng núi xa xôi, hiểm
trở, nơi đất rộng người thưa, giàu tài nguyên, giáp với các tỉnh bạn, có vị trí
quan trọng về kinh tế và quốc phòng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
Trên cơ sở tư liệu lịch sử, truyền miệng, khảo sát thực tế các xã của
Chiêm Hoá (Chính sách “Lưu quan”). Theo sách: Các dân tộc thiểu số ở
Tuyên Quang: “Theo chính người trong họ thổ ty kể – thì đều có tình trạng là
người Kinh lên làm rể hoặc chiếm đoạt chức tước. Ví dụ: Một người Kinh
làm rể họ Ma Doãn đã sát hại em cậu rồi hưởng gia tài, dùng họ vợ là Ma
Doãn (ở Chiêm Hoá). Điều này phù hợp với tục con gái thổ ty chỉ được lấy
chồng là người Kinh hoặc người Khách (Hoa) không được lấy chồng người
đồng tộc hoặc dân tộc thấp kém hơn”... [2, tr41]. Bộ phận người Kinh này dần
dần bị Tày hoá và trở thành những người Tày gốc Kinh.
Do điều kiện môi trường, điều kiện cư trú của đồng bào Kinh là xen kẽ,
ít tách biệt giữa người Kinh và các tộc người khác, nên mối giao thoa văn hóa
giữa các tộc người diễn ra mạnh mẽ. Người Kinh ngoài canh tác lúa nước còn
có thế mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản ở ao hồ. Các nghề thủ
công phát triển như: Nghề mộc, rèn... Phong tục tập quán không có gì khác
biệt so vói người Kinh ở các địa phương khác.
1.1.2.3. Dân tộc Nùng.
Dân tộc Nùng ở Tuyên Quang bao gồm những ngành như: Nùng Cháo,
Nùng Phán Sình, Nùng Inh, Nùng Xuồng. Ở Chiêm Hoá chủ yếu là ngành
Nùng An, tập trung nhiều ở xã Trung Hoà, chiếm 1/7dân số xã đó [2, tr77].
Người Nùng ở Chiêm Hóa vốn từ các vùng đất thuộc tỉnh Quảng Tây
(Trung Quốc) sang đến nay đã được vài ba trăm năm. Trong “ Kiến Văn Tiểu
Lục”, Lê Quý Đôn có chép: Người Nùng di cư từ 12 châu thổ ở Trung Quốc
sang Tuyên Quang. Hiện nay, người Nùng còn khá ít, sở dĩ như vậy là do trên
thực tế có rất nhiều người Nùng đã cố kết với người Tày, sự cố kết giữa Tày
và Nùng cũng là dễ hiểu vì 2 dân tộc này xa xưa cùng 1 nguồn gốc, tiếng nói
và phong tục tập quán cơ bản giống nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
Người Nùng không có chữ viết riêng mà dùng chữ Hán để ghi chép và
Ở Chiêm Hoá tập trung các ngành Dao sau: Dao Đại Bản, Dao Tiểu
Bản, Dao áo dài.
Cùng 1 dân tộc nhưng mỗi ngành cư trú 1 vùng nhất định, có vài ngành
cùng cư trú xen kẽ như: Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản... Nói chung là ở xen kẽ
với các dân tộc khác, xen kẽ theo xóm, không xen kẽ theo hộ.
Nguồn gốc: Theo gia phả 1 số gia đình và những tài liệu khác như:
Bình hoàng khoán điệp, Quá hải đồ, các sách truyện, sách cúng ma...ta biết
được nguồn gốc của người Dao là từ bên Trung Quốc di cư vào Việt Nam.
Nhiều gia phả ghi rõ ràng trước khi sang Việt Nam đã ở Quảng Đông, Quảng
Tây, Vân Nam... Trong các sách truyện, sách cúng ma thường nói đến nhiều
địa danh ở Trung Quốc. Đồng bào di cư sang Việt Nam có nhiều nguyên
nhân, thời gian và luồng di cư khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do sự chèn
ép, áp bức của chế độ phong kiến Trung Quốc, các cuộc chiến tranh phong
kiến liên miên. Ngoài ra là nạn thiên tai, hạn hán, mất mùa... Về thời gian thì
vào khoảng thế kỷ XIII đến XVI (Đại Minh quốc) hoặc vào thế kỉ XVI, XIX
(Đại Thanh quốc) [2, tr188].
Người Dao đến Tuyên Quang với luồng di cư và thời gian khác nhau,
do nhiều nguyên nhân lịch sử, điều kiện cư trú, sinh hoạt, sự ảnh hưởng văn
hoá qua lại giữa các dân tộc cho nên trình độ phát triển kinh tế và văn hóa
giữa các ngành Dao có sự chênh lệch nhau.
1.1.2.5. Dân tộc Mông.
Dân tộc Mông là 1 dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời. Theo gia
phả của của dân tộc mình thì dân tộc Mông bắt nguồn từ Trung Quốc, cách
đây khoảng 200 đến 500 năm bắt đầu di cư sang Việt Nam và họ vẫn giữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
phong tục tập quán của riêng mình. Các ngành của dân tộc Mông sinh sống ở
Chiêm Hoá:
Song tên gọi thông thường là dân tộc Hoa. Người Hoa còn được gọi là “người
Khách”. Người Hoa ở Chiêm Hoá tập trung chủ yếu ở xã Ngọc Hội.
Người Hoa làm 3 nghề chính: Làm ruộng, buôn bán và làm công việc
khác. Chủ yếu là sống bằng nghề làm ruộng. Ngoài trồng lúa, ngô, mía làm
đường, mật, đồng bào còn trồng rau, màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm... Đồng
bào thông thạo việc trồng trọt, sử dụng phân bón, có nhiều kinh nghiệm làm
ăn, đặc biệt coi trọng việc làm ải đất, câu tục ngữ : “Cày ruộng sang đông còn
hơn bỏ phân xuống ruộng” đã thể hiện rõ điều đó. Một số họ sống bằng nghề
buôn bán, làm bánh kẹo, bán thuốc bắc...
Tóm lại: Các dân tộc ở Chiêm Hoá mặc dù có nguồn gốc, phong tục tập
quán, ngôn ngữ khác nhau, dù cũng có sự phân biệt giữa cư dân bản địa với
cư dân từ nơi khác đến sinh sống nhưng khi cùng chung sống trên cùng 1 khu
vực (huyện Chiêm Hoá) thì các tộc người đã đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, hỗ trợ
nhau trong đời sống, sản xuất, sinh hoạt lẫn bảo vệ quê hương, làng bản, đất
nước, bảo tồn và phát huy mạnh mẽ những phong tục tập quán, những truyền
thống đẹp đẽ, quý báu của các dân tộc, tạo dựng nên nét văn hóa đa dạng
nhiều màu sắc của mảnh đất Chiêm Hoá lịch sử.
1.2. Lịch sử hành chính
Tuyên Quang “Đời cổ là nước Lạc Long, Tần là quận Nam Hải, thuộc
Hán gọi là quận Giao Chỉ. Đường là châu Thang. Thời Trần thuộc lộ Quốc
Oai. Đầu đời Lê là trấn Tuyên Quang, giữa năm Quang Thuận (1466) đặt làm
thừa tuyên Tuyên Quang, có 1 phủ, 1 huyện, 5 châu: Phủ Yên Bình; huyện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Phúc Yên (Hàm Yên); 5 châu: Thu Vật, Lục Yên, Đại Man (Chiêm Hoá), Vị
Xuyên, Bảo Lạc [8, tr143].
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Chiêm Hoá đã nhiều lần thay tên gọi
và địa giới hành chính. Thời Đinh, tiền Lê, Lý, huyện được gọi là Châu Vị
chắc chắn rằng đã có từ lâu đời, có liên quan đến cơ cấu kinh tế - xã hội của các
tộc người và việc tranh thủ lôi kéo các tù trưởng miền núi của các vương triều
phong kiến Việt Nam, bằng cách: phong chức tước, gả công chúa.. để lôi kéo,
ràng buộc họ, thắt chặt mối đoàn kết quốc gia dân tộc, mở rộng ảnh hưởng của
triều đình đến nhân dân các tộc miền núi, biến họ thành các quan chức của triều
đình, thông qua đó để cai trị các dân tộc miền núi.
Chế độ Quằng được hình thành ở 1 số địa phương khu vực miền núi
phía bắc: Bảo Lạc (Cao Bằng); Đồng Văn (Hà Giang); Na Hang, Chiêm Hoá
(Tuyên Quang)…
Theo sử sách và một số truyện kể trong dân tộc Tày ở Việt Bắc cho
biết: dưới thời hậu Lê nhân dân Tày ở các vùng biên giới thường nổi dậy
chống lại triều đình phong kiến trung ương. Để vỗ về lôi kéo các vùng dân
tộc này, bấy giờ nhà Lê đã phong tước “Hầu” cho 7 dòng họ thổ ty thế lực ở
một số vùng Tày Việt Bắc, mỗi phiên thần được phong cho cai quản một
vùng đất nhất định:
Nọ Nông ở Bảo Lạc (Cao Bằng) có thế lực lớn nhất.
Họ Nguyễn ở Đồng Văn (Hà Giang)
Họ Hoàng ở Tụ Long (Giáp huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang)
Họ Vi ở Lộc Bình (Lạng Sơn)
Họ Ma Doãn ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang)
Họ Đinh, Lý ở Bắc Kạn, Lạng Sơn [9, tr3].
Các tù trưởng, thủ lĩnh, thổ ty (Quằng) lúc đầu ít nhiều có công dẫn dắt
dòng tộc, khai hoang lập thành mường bản, nhân dân Tày coi Quằng (Thổ ty)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
19
là người “cai quản xóm làng” (cần chống nặm cặm mường), hoặc “nước cạn
không bỏ thuyền, chạy hổ không bỏ thổ ty” (Nặm bốc bấu tá lừa, ni thưa bấu tá
quẳng). Nếu không có thổ ty cai quản làng xóm thì làm ăn gặp nhiều khó khăn: