Từ ngữ chỉ lúa gạo và sản phẩm làm từ lúa gạo trong tiếng tày (có so sánh với tiếng việt) - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGÔN THỊ BÍCH TỪ NGỮ CHỈ LÚA GẠO VÀ SẢN PHẨM
LÀM TỪ LÚA GẠO TRONG TIẾNG TÀY
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS ĐOÀN VĂN PHÚC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS - TS.
Đoàn Văn Phúc, là ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo Viện ngôn
ngữ học, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và khoa Sau đại học, trƣờng
Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên đã hƣớng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin đƣợc cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Cao Bằng đã
luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên
cứu.

1.1. KHÁI NIM VỀ HÌNH VỊ, TỪ, NGỮ V NGHĨA ............................ 9
1.1.1. Hình vị ............................................................................................ 9
1.1.2. Khái niệm từ .................................................................................. 11
1.1.3. Ngữ ............................................................................................... 13
1.1.4. Nghĩa ............................................................................................. 14
1.1.5. Từ, ngữ chỉ lúa gạo và sản phẩm làm từ lúa gạo ............................ 16
1.2. VẤN ĐỀ ĐỊNH DANH ..................................................................... 18
1.2.1. Khái niệm định danh ..................................................................... 18
1.2.2. Đơn vị định danh và đơn vị miêu tả .............................................. 19
1.3. VI NÉT VỀ NGƢỜI TY V TIẾNG TY Ở VIT NAM .......... 19
1.3.1. Vài nét về ngƣời Tày ở Việt Nam .................................................. 19
1.3.2. Vài nét về tiếng Tày ở Việt Nam ................................................... 23
1.4. NGÔN NGỮ V VĂN HÓA ............................................................ 33
1.4.1. Khái niệm văn hóa ......................................................................... 33
1.4.2. Quan hệ ngôn ngữ và văn hóa ........................................................ 35
1.5. TIỂU KẾT ......................................................................................... 36
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ
LÚA GẠO VÀ SẢN PHẨM LÀM TỪ LÚA GẠO TRONG TIẾNG TÀY
(CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) .......................................................... 38
2.1. DẪN NHẬP ...................................................................................... 38
2.2. CẤU TRÚC V NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ LÚA GẠO TRONG TIẾNG
TÀY ......................................................................................................... 39
2.2.1. Tình hình tƣ liệu ............................................................................ 39
2.2.2. Đặc điểm cấu trúc của từ chỉ lúa gạo ............................................. 40
2.2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa ....................................................................... 42
2.2.4. Đặc điểm phƣơng thức định danh .................................................. 45
2.2.5. Cấu trúc và ngữ nghĩa của ngữ chỉ lúa gạo .................................... 48
2.3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC V NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ SẢN

KẾT LUẬN ................................................................................................. 98
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

MỞ ĐẦ U

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một trong những nƣớc thuộc khu vực Đông Nam Á có nền
văn minh nông nghiệp lúa nƣớc điển hình. Xã hội lúa nƣớc Việt Nam đã để
lại những dấu ấn nhất định trong ngôn ngữ, đó là kho tàng từ vựng hết sức
phong phú phản ánh những tri thức của ngƣời Việt về một thế giới xung
quanh cây lúa nƣớc. Đồng thời nền văn minh nông nghiệp của ngƣời Việt
cũng là sự thể hiện rõ nhất của một nền văn hoá nông nghiệp lúa nƣớc. Văn
hoá nông nghiệp lúa nƣớc Việt Nam có những nét chung với các nền văn hoá
lúa nƣớc cùng khu vực, nhƣng lại có những nét khu biệt rất riêng, làm thành
bản sắc văn hoá Việt Nam.
Nƣớc ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó có 53 dân tộc
thiểu số. Trong nền văn hoá đa dân tộc, đa ngôn ngữ đó, mỗi dân tộc anh em
đều có bản sắc văn hoá riêng, tiếng nói riêng của mình. Để xây dựng một nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta phải
giữ gìn và phát huy bản sắc riêng của mỗi dân tộc để đảm bảo tính đa dạng
phong phú của nền văn hoá Việt Nam trong thời đại ngày nay. Đồng thời,
chúng ta cũng cần bảo tồn ngôn ngữ dân tộc vì nó là yếu tố quan trọng nhất
của văn hóa, ghi nhận và bảo tồn giá trị văn hóa, tri thức của dân tộc đó.
Trong số các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam, dân tộc Tày là một cộng
đồng tộc ngƣời có số dân đông nhất, có hơn 1 triệu ngƣời. Cƣ trú trên những

Từ trƣớc đến nay, có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về từ
vựng tiếng Tày. Năm 1969, Lạc Dƣơng có bài viết “Tính phong phú của tiếng
Tày – Nùng” in trên báo Việt Nam độc lập; Năm 1969, Nguyễn Hàm Dƣơng
có bài viết “Xây dựng và phát triển hệ thống từ vựng Tày- Nùng” in trên báo
Việt Nam độc lập; “Một vài ý kiến về các từ mƣợn trong tiếng Tày – Nùng”
của Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo in trên Tạp chí ngôn ngữ, năm 1970; “Vài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
nét về sự phát triển của tiếng Tày – Nùng sau Cách mạng tháng Tám” của
Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo in trên Tạp chí ngôn ngữ, năm 1970; “Cách làm
giàu vốn từ vựng Tày - Nùng” của Nguyễn Thiện Giáp in trên báo Việt Nam
độc lập, năm 1970; “Ngữ pháp Tày - Nùng” của Lục văn Pảo, Hoàng Văn
Ma, 1971; “Từ điển Tày Nùng - Việt” của Lục Văn Pảo, Hoàng Văn Ma,
1984; “Về kho từ vựng chung Việt - Tày” của Đoàn Thiện Thuật in trong
Những vấn đề ngôn ngữ học về các phƣơng ngữ phƣơng Đông, 1986…Ngoài
ra, còn có hàng loạt những bài báo, công trình nghiên cứu khác về ngôn ngữ,
dân tộc Tày của Hoàng Ma (xem thêm Thƣ mục tham khảo).
Điểm lại các công trình, bài viết của họ, chúng ta thấy khi viết về từ
vựng trong tiếng Tày, các nhà nghiên cứu thƣờng đề cập đến các vấn đề nhƣ:
Tính phong phú của tiếng Tày - Nùng; Về tình hình từ mƣợn trong tiếng Tày -
Nùng; Sự phát triển về vốn từ, về nghĩa từ của tiếng Tày- Nùng sau Cách
mạng tháng Tám; Nghiên cứu về ý nghĩa của từ, nguồn gốc của từ và cách
cấu tạo của từ trong tiếng Tày - Nùng; Nghiên cứu về sự tƣơng ứng ngữ âm
giữa những từ dạng Tày và dạng Việt, từ đó nghiên cứu về lịch đại góp phần
làm sáng tỏ quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ. Nhƣng cho đến nay, với
những tƣ liệu hiện có và sự hiểu biết của mình, chúng tôi chƣa thấy có bất kì
một công trình, bài viết nào nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa, đặc biệt về từ
ngữ chỉ lúa gạo và các sản phẩm làm từ lúa gạo của ngƣời Tày một cách có hệ
thống. Vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu về từ ngữ chỉ lúa gạo và các sản

trong đề tài. Bên cạnh đó, luận văn cũng tập hợp những ý kiến, tài liệu xung
quanh vấn đề về tiếng nói và chữ viết Tày (Tày - Nùng) để làm cơ sở cho việc
miêu tả trong chuyên luận này.
2) Miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, phƣơng thức định danh của
các từ, ngữ chỉ lúa gạo và các sản phẩm làm từ lúa gạo trong tiếng Tày.
3) Miêu tả đặc điểm văn hóa của các từ ngữ chỉ lúa gạo và các sản
phẩm làm từ lúa gạo trong tiếng Tày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
4) So sánh hệ thống từ ngữ chỉ lúa gạo và các sản phẩm làm từ lúa gạo
trong tiếng Tày với từ ngữ Việt để thấy đƣợc sự tƣơng đồng và khác biệt về
cấu trúc, ngữ nghĩa, phƣơng thức định danh, văn hoá đƣợc thể hiện trong hệ
thống từ ngữ ấy.
5. TƢ LIỆ U VÀ PHƢƠNG PHÁ P
5.1. Tƣ liệu
- Nguồn tƣ liệu thành văn: là một số công trình nghiên cứu của các tác
giả nhƣ: “Từ điển Tày Nùng – Việt” của Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo; “Ngữ
pháp tiếng Tày- Nùng” của Lục Văn Pảo, Hoàng Văn Ma; “Tiến tới xác lập
vốn từ văn hoá Việt” của Nguyễn Văn Chiến, “Văn hoá Tày- Nùng” của Lã
Văn Lô, Hà Văn Thƣ; “Văn hoá truyền thống Tày- Nùng” của Hoàng Quyết,
Ma Văn Bằng…
- Nguồn tƣ liệu điền dã:
+ Thu thập tƣ liệu từ thực tiễn cuộc sống, thông qua các đợt điền dã tại
một số bản làng nơi ngƣời Tày sinh sống ở huyện Trùng Khánh, Cao Bằng.
+ Các tài liệu truyền miệng do các cụ cao niên kể lại về cách gọi tên
các sản phẩm làm từ lúa gạo của ngƣời Tày, đặc điểm văn hoá tâm linh của
ngƣời Tày thông qua các từ ngữ đó.
- Tƣ liệu về từ ngữ chỉ lúa gạo và các sản phẩm làm từ lúa gạo đƣợc
chúng tôi thống kê chủ yếu qua Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên,

Ngoài các phƣơng pháp ở trên, ngƣời viết luận văn còn sử dụng một số
phƣơng phá p nghiên cứu của các ngành khoa học khác : phƣơng pháp quy
nạp, diễn dịch, mô hình hóa...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
6. CÁI MỚI VÀ Ý NGHĨ A, ĐÓNG GÓP CỦ A ĐỀ TÀ I
6.1. Về lí luậ n
- Lầ n đầ u tiên có luậ n văn nghiên cƣ́ u về tƣ̀ ngƣ̃ chỉ lú a gạ o và cá c sả n
phẩ m là m tƣ̀ lú a gạ o củ a ngƣờ i Tà y bổ sung thêm những cứ liệu về đặc điểm
cấu tạo từ, ngữ của các ngôn ngữ đơn lập vào lí luận đại cƣơng.
- Luậ n văn bổ sung tƣ liệ u và o việ c nghiên cƣ́ u văn hó a của dân tộ c
Tày, một dân tộc có nghề trồng lúa nƣớc lâu đời, và chỉ ra đặc điểm văn hóa
tộ c ngƣờ i này qua cứ liệu về vốn từ ngữ chỉ lúa gạo và các sản phẩm từ lúa
gạo. Mặt khác, những tƣ liệu và lí giải của luận văn sẽ góp phần soi sáng thêm
mối quan hệ Việt - Tày, nói riêng, và ngƣời Việt với các cƣ dân sử dụng các
ngôn ngữ Thái - Kađai, nói chung, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa
diễn ra gần chục thế kỉ qua.
6.2. Về thƣ̣ c tiễ n
- Luậ n văn giú p cho đồng bào các dân tộc khác (ở Việt Nam và trên thế
giới) hiể u đƣợ c những đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa, phƣơng thức định
danh và văn hóa hệ thố ng tƣ̀ ngƣ̃ chỉ lú a gạ o và các sản phẩm làm từ lúa gạo
của ngƣời Tày.
- Trên cơ sở sƣu tầ m, tậ p hợ p, hệ thố ng tƣ liệ u về ngôn ngƣ̃ chỉ lú a gạ o ,
luậ n văn giú p chính tác giả luận văn cũng nhƣ nhiều ngƣời Tày, đặc biệt là
những ngƣời thuộc thế hệ trẻ, hiể u thêm về những đặc điểm văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần của ngƣời Tày . Đó chính là đặc điểm sản xuất nông
nghiệp trồng lúa gắn liền với đặc điểm định cƣ vùng thung lũng và sƣờn núi
cùng với những giống lúa đƣợc trồng cấy phù hợp với môi trƣờng, địa hình,
thổ nhƣỡng, khí hậu, đặc điểm canh tác... Đó còn là đặc điểm văn hóa ẩm

9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. KHÁI NIỆM VỀ HÌNH VỊ, TỪ, NGỮ VÀ NGHĨA
1.1.1. Hình vị
Trong ngữ pháp hiện nay, ta thƣờng bắt gặp những quan niệm phổ
biến: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có nghĩa. Định nghĩa này cho thấy
hình vị chỉ khác từ ở chỗ không có khả năng đƣợc sử dụng độc lập, không thể
tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu.
Các nhà nghiên cứu coi hình vị là đơn vị (hay thành tố, yếu tố) gốc,
đơn vị tế bào của ngữ pháp, là đơn vị có tổ chức tối đơn giản, trực tiếp hoặc
gián tiếp gắn liền với một ý nghĩa nhất định. Đặc biệt đƣợc chú ý là giá trị
ngữ pháp của nó, với tƣ cách yếu tố cấu tạo từ.
Ngoài tên gọi “hình vị”, đơn vị này còn đƣợc gọi là “moocphem”
(morpheme), “từ tố”, “nguyên vị”, “hình tố”... Ngoài ra, ngƣời ta còn phân
biệt “căn tố” và “phụ tố” (và các dạng khác nhau của phụ tố: tiền tố, trung tố,
hậu tố) trong cấu trúc của từ.
Khi nghiên cứu các ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học ít tranh luận về
các đặc tính chung của hình vị nhƣng những dạng thức cụ thể của một hình vị
trong một ngôn ngữ cụ thể là thế nào, hiểu ra sao về “nghĩa” của hình vị trong
ngôn ngữ này..., thì lại đƣợc thảo luận khá kĩ và sôi nổi. Chẳng hạn, trong
tiếng Việt từng có cuộc tranh luận rất sôi nổi về bản chất các đơn vị đƣợc gọi
là “tiếng” (với vai trò nhất thể ba ngôi, vừa là “âm tiết”, vừa là “từ”, vừa là
“hình vị”). Dƣới đây là một số định nghĩa về hình vị:
“Một yếu tố có nghĩa được xác định là hình vị chỉ khi làm thành phần
của từ và chỉ trong quan hệ với từ” [48, 60-66].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10

trực tiếp cấu tạo nên từ, mà gián tiếp, bằng cách kết hợp với các hình vị khác
để tạo thành một thành tố có nghĩa lớn hơn hình vị. Thành tố này mới đƣợc
dùng để trực tiếp cấu tạo nên từ. Thành tố cấu tạo từ có thể trùng hoặc không
trùng khớp với hình vị. Cách nhìn nhận nhƣ vậy, giúp ta giải thích có logic
đối với những trƣờng hợp các hình vị kết hợp với nhau, nhƣng sản phẩm của
sự kết hợp này không thể đƣợc đánh giá là từ (không tái hiện đƣợc tự do trong
lời nói để tạo nên câu), mà chỉ nên xem là thành tố cấu tạo từ.
“Thành tố cấu tạo từ” đƣợc hiểu là yếu tố bên trong từ, yếu tố hợp
thành nên từ. Nhƣ vậy, cách hiểu này còn giúp phân biệt nó với đơn vị đƣợc
gọi là “đơn vị gốc”, đơn vị ở bên ngoài từ đang nói, đơn vị đƣợc lấy làm cơ
sở để tác động và chuyển hoá thành ra thành tố cấu tạo từ.
Từ những cách nhìn nhận hình vị trong các tài liệu ngôn ngữ học, ta có
thể chấp nhận định nghĩa: Hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ
được sử dụng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cấu tạo nên từ.
1.1.2. Khái niệm từ
Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học. Cái đơn vị
cấu trúc - ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ vẫn đƣợc quan niệm là dùng để gọi
tên các sự vật hiện tƣợng của đời sống, mang trong mình nó các thuộc tính
tiêu biểu về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp của một ngôn ngữ. Cho đến nay,
trong ngôn ngữ học, đã có những câu trả lời không nhƣ nhau, đã có rất nhiều
định nghĩa về từ. Tuy nhiên, chƣa có định nghĩa nào thỏa mãn đối với các nhà
ngôn ngữ học.
Có tình trạng trên là vì khi xem xét từ, các nhà nghiên cứu đã căn cứ
trên các ngôn ngữ có những điểm rất khác nhau về loại hình, về quan hệ cội
nguồn… hoặc nhìn nhận từ dƣới những góc nhìn không nhƣ nhau, từ các
phƣơng diện khác nhau. Quả vậy, trong hơn 6000 ngôn ngữ thế giới, từ đƣợc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
hiện thực hoá bằng những hình thái rất đa dạng. Đồng thời, có thể thấy cái

chúng tôi lựa chọn khái niệm từ sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của
ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng
nên câu” [11, 136].
Nhƣ vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ âm và về ngữ nghĩa (dù là
nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp). Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa
nhƣ vậy đã khiến cho từ có khả năng vận dụng độc lập để tạo câu. Trong định
nghĩa vừa nói, có hai đặc điểm của từ đƣợc nêu ra đáng chú ý:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là một chiết
đoạn âm thanh hoàn chỉnh nhỏ nhất, đồng thời có ý nghĩa (dùng để gọi tên các
sự vật hiện tƣợng, các thuộc tính, các quan hệ… trong thực tiễn đời sống).
- Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói để đặt nên câu: Từ có
thể tách biệt ra khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác, cụm từ…) và đƣợc
dùng theo các quy tắc nhất định để tạo nên câu (là đơn vị đƣợc cấu tạo bằng
các từ và các cụm từ, dùng để thông báo).
Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt
với yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhƣng không đƣợc dùng
trực tiếp để "đặt nên câu"); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có
nghĩa, nhƣng không "nhỏ nhất")…Qua những ý kiến của các nhà ngôn ngữ
học đi trƣớc, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại trong mỗi hệ thống ngôn ngữ
với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách biểu thị nội
dung (ý nghĩa) khác nhau, đƣợc ngƣời bản ngữ tri giác là có (hiện thực về
mặt tâm lí) ấy.
Ví dụ, trong tiếng Tày: pẻng (bánh), pẻng đổng (bánh đúc), pẻng
quyển (bánh cuốn), khẩu xay (gạo lức), chả (mạ)... đều là những từ.
1.1.3. Ngữ
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
“Ngữ: kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hƣ

ngữ khác). Về mặt lí thuyết, căn cứ để hiểu nghĩa, là: các đơn vị đang xét (từ và
hình vị) đƣợc sử dụng trong sự quy chiếu về một sự vật hiện tƣợng nào đó, với
yêu cầu ngƣời nói và ngƣời nghe đều phải cùng nghĩ về sự vật hiện tƣợng ấy,
khi nhắc đến đơn vị đang xét. Nhờ sự quy chiếu nhƣ vậy, sự sử dụng các đơn vị
này trong cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn nó mới không gây nên sự lẫn lộn.
Nghĩa các đơn vị đang xét mang tính quy ƣớc là nhờ ngƣời nói và
ngƣời nghe (bản ngữ) ƣớc định với nhau: âm thanh này thì biểu thị sự vật hiện
tƣợng này, âm thanh kia thì biểu thị sự vật hiện tƣợng kia v.v... Nhƣ vậy, mặt
vật chất và ý nghĩa có liên hệ mật thiết, quy định ràng buộc và là điều kiện tồn
tại của nhau. Đồng thời, cũng nhƣ các đơn vị ngôn ngữ, nghĩa của các đơn vị
này (từ và hình vị) cũng chỉ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ. Tách ra khỏi hệ
thống, chúng không tồn tại nữa.
Vậy Nghĩa là gì ? Câu trả lời đƣợc tìm thấy trong quan niệm đã đƣợc
nhiều nhà ngôn ngữ học đồng tình nhƣ sau:
Hiện thực được phản ánh vào trong nhận thức, tạo nên một mối liên hệ
thường trực, liên tục với một hình thức âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh
này được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ. Mối liên hệ này được hiểu là “nghĩa”.
Khi nói về nghĩa của từ (và hình vị), ngƣời ta phân biệt các thành phần
nhƣ: nghĩa biểu vật (là liên hệ giữa “hình thức âm thanh” với sự vật hiện
tƣợng cụ thể mà nó chỉ ra); nghĩa biểu niệm (là liên hệ giữa “hình thức âm
thanh” với ý niệm - cái biểu niệm, bao gồm các thuộc tính sự vật hiện tƣợng
đƣợc phản ánh vào ý thức con ngƣời)...Ngoài ra, ngƣời ta còn phân biệt nghĩa
cấu trúc - là mối liên hệ giữa các đơn vị khác nhau trong hệ thống, nghĩa ngữ
dụng - là mối liên hệ giữa các đơn vị đang xét với tình cảm, thái độ của ngƣời
sử dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Khi đi vào phân tích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ đang nói ở trên,
ngƣời ta đề xuất nhiều cách, trong đó thƣờng đƣợc sử dụng hơn cả là làm cho

thành thức ăn, vật dụng cho con ngƣời. Đó là những từ, ngữ có chức năng
định danh, biểu thị các sự vật, hiện tƣợng cây lúa trong quá trình sản xuất và
các sản phẩm đƣợc chế biến từ lúa gạo.
Khi bàn về việc xây dựng lớp từ biểu thị mô hình kinh tế - xã hội lúa
nƣớc cổ truyền Việt Nam, chính tác giả Nguyễn Văn Chiến [10, 141-142] cho
rằng có tới 21 nhóm từ. Tuy nhiên, theo quan niệm của mình, chúng tôi cho
rằng có 5 nhóm từ ngữ dƣới đây có liên quan trực tiếp đến lúa gạo và các sản
phẩm từ lúa gạo trong tiếng Tày là:
1) Các từ ngữ biểu thị tên gọi cây lúa liên quan tới: thời vụ gieo trồng,
thời gian/ khoảng thời gian thu hoạch, đặc điểm miêu tả loại hình gieo trồng,
không có bàn tay con ngƣời gieo trồng, kiểu nhƣ: khẩu hua (lúa sớm), khẩu
lả (lúa muộn), khẩu nà (lúa nƣớc), khẩu rằng (lúa chét), khẩu tai mjều
(lúa thu)...
2) Các từ ngữ biểu thị tên gọi các bộ phận cây lúa: bâƣ khẩu (lá lúa),
lạc khẩu (rễ lúa), ruồng khẩu (bông lúa), khẩu (hạt lúa)...
3) Các từ ngữ biểu thị các giống lúa: khẩu nua (lúa nếp), khẩu chăm
(lúa tẻ), khẩu tác (một loại lúa tẻ), khẩu nhị ƣu 63 (lúa nhị ƣu 63)...
4) Các từ ngữ biểu thị sản phẩm từ cây lúa: khẩu (thóc, gạo), kép
(trấu), vàng (rơm), cốc vàng (rạ)...
5) Các từ ngữ biểu thị những món ăn chế biến từ cây lúa: khẩu (cơm),
chảo (cháo, chè), pẻng (bánh), khẩu nua (xôi, cơm nếp) ... và các món ăn
khác đƣợc chế biến từ lúa gạo.
Với việc xác định cách hiểu từ, ngữ chỉ lúa gạo và sản phẩm làm từ lúa
gạo nhƣ trên, chúng tôi đã chọn thu thập tất cả những từ, ngữ chỉ lúa gạo và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
sản phẩm làm từ lúa gạo trong tiếng Tày thuộc 5 nhóm từ ngữ kể trên. Bên
cạnh đó, ngoài tƣ liệu đƣợc thu thập qua từ điển Tày - Nùng - Việt, các từ ngữ
đƣợc phổ biến trong nhóm địa phƣơng Tày ở Trùng Khánh (Cao Bằng) cũng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status