Đông Hồ khám phá thơ Nôm Mạc Thiên Tích
Trương Minh Đạt
Khoảng năm 1970, ở miền Bắc, cụ Thúc Ngọc Trần Văn Giáp viết về Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên
tích(1). có nêu nghi vấn: “Nghe nói Hà Tiên thập vịnh có hai tập, một tập thơ chữ Hán, một tập thơ chữ Nôm,
nếu quả đúng như vậy thì tập thơ Nôm chưa tìm thấy”.
Cũng vào năm 1970, ở miền Nam hai nhà xuất bản Mạc Lâm và Quỳnh Lâm cho phổ biến hai quyển Đăng
đàn và Văn học Hà Tiên của Đông Hồ, để kỷ niệm chu niên ngày qua đời của ông.
Trong Đăng đàn in bài nói chuyện tại Câu lạc bộ văn hóa Sài Gòn vào năm 1960 của Đông Hồ. Ông nói:
“Điều đáng cho chúng ta thán phục, đáng cho chúng ta ca tụng từ trước đến nay và mãi mãi về sau là thi phái
Chiêu anh các Hà Tiên đã để lại cho chúng ta áng văn chương Nôm giá trị không ít”(2).
Câu nói đó tóm tắt một thành tựu lớn nhất trong cuộc đời khảo cứu văn học miền Nam của ông: Khám phá tác
phẩm văn chương chữ Nôm Mạc Thiên Tích. Việc này xảy ra năm 1960. Năm ấy ông cùng nữ sĩ Mộng Tuyết
công bố một tập sách nhỏ nhan đề Hà Tiên thập cảnh và Đường vàoTiên, trong đó ông nói điều lạ nhất xưa
nay: “Cũng là 10 bài thơ đó, riêng Mạc Thiên Tích có làm 10 bài thơ Nôm, hầu hết theo vần 10 bài Hán. Về 10
bài Nôm này, phần nhiều các sách đều chỉ biết có 10 bài thất ngôn Đường luật.Thực thì không chỉ có 10 bài
Đường luật mà thôi đâu. Nguyên toàn tập thơ Nôm là một ngâm khúc làm thể song thất lục bát, phân làm mười
đoạn. Mỗi đoạn là một cảnh, kết đoạn đó bằng bài thơ Đường luật. Tuy phân đoạn từng cảnh như thế mà vần
thơ vẫn cứ nối tiếp, cắn liền nhau, từ câu cuối đoạn trên xuống câu đầu đoạn dưới, từ cảnh thứ nhất đến cảnh
thứ mười...
Tôi nói như vậy là để ai muốn chép 10 bài Hà Tiên thập vịnh này, nên chép cho có thứ tự từ trên xuống dưới,
trước sau không chép lộn xộn được. Tuy là 10 bài nhưng thực là một khúc, thứ đệ phân minh ... Vì khi làm
người làm đã nghĩ đặt có thứ tự trước sau”(3).
Do phát hiện mới mẻ này, ông Đông Hồ được chính quyền Sài Gòn thời đó mời ra thỉnh giảng chứng chỉ văn
chương Quốc âm tại Đại học Văn khoa từ niên 1964-1965.
Như vậy là tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích đã được tìm thấy.
Đối với vấn đề thơ Nôm của họ Mạc, đến nay vẫn còn nhiều chi tiết liên quan mà chúng ta cần ra sức tiếp tục
khảo cứu đến nơi đến chốn. Công việc này đương nhiên là hữu ích và cần thiết. Nhưng thiết tưởng công tác
khoa học vốn là vô bờ bến, ta không thể cầu toàn, mặc dù sự vẹn toàn chính là lý tưởng ở phía trước, thúc đẩy
khoa học tiến lên. Đời sống mỗi người thì có giới hạn, kết qủa việc làm cũng tuỳ thuộc những điều kiện khách
quan. Nhất là hoàn cảnh lịch sử đất Hà Tiên trong thế kỷ XVIII, XIX, XX luôn trải qua tai họa chiến tranh; tàn
phá rồi xây dựng, không biết bao nhiêu lần; nhà cửa bị đốt phá, dân cư phiêu tán, không gì có thể tồn tại. Đối
Trong phần chứng minh tôi sẽ sử dụng hai tư liệu tương đối xưa nhất cùng một giai đoạn lịch sử:
1) Tập gia phả bằng chữ Nôm duy nhất còn tồn tại cho phép 35 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm mà ông Vũ Văn
Kính mệnh danh là Gia phả Hà Tiên; ông Đông Hồ cho biết tác giả là cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối.
2) Cuốn Thần chú thỉnh tiên của dịch giả La Thành Đầm tự Mộ Tần, xuất bản năm 1907 do nhà in và xuất bản
Phát Toán Sài Gòn. Sách chép 10 bài Hà Tiên thập cảnh ca trù, tức là 334 câu thơ song thất lục bát và 10 bài
thơ Nôm Đường luật.
Để thấy được tính chất chân thực của các áng văn chữ Nôm, mà tôi tạm mệnh danh là những tác phẩm trong
luồng, xin tóm tắt các giai đoạn xuất hiện:
Một: - Trước 1903, trong Gia phả Hà Tiên có chép 4 bài thơ luật Nôm thuộc Hà Tiên thập cảnh và 1 bài Tổng
luận – sách không công bố.
Hai: - Năm 1903, ông Lê Quang Chiểu công bố 10 bài thơ luật Nôm trong Quốc âm thi hiệp tuyển không có
bài Tổng luận, vì lẽ Lê Quang Chiểu không biết có bài này.
Ba: - Năm 1904, ông Nguyễn Phương Chánh công bố 10 bài thơ luật Nôm và bài Tổng luận. Các bài thơ được
sắp xếp theo thứ tự của các cảnh trong bài Tổng luận.
Bốn: - Năm 1907, La Thành Đầm công bố 334 câu song thất lục bát mà không nắm vững cái thứ tự trước sau
của mỗi bài thơ. Lý do vì toàn bộ thơ chữ Hán xưa không còn lại mấy.
Năm: - Năm 1926, Đông Hồ in lại trong Nam phong. Trên 30 năm sau, ông xếp các bài thơ Nôm thành một
liên khúc không gián đoạn từ bài đầu đến bài cuối.
Không phải dễ để nhận thức sự hình thành của một tác phẩm, nên cần phải đi vào chi tiết:
A. Những người công bố lần đầu các bài thơ chữ Nôm của Mạc Tích Thiên không rành về tác phẩm chữ Nôm
lẫn chữ Hán do họ Mạc làm ra:
Trong số những người này tôi sẽ tuần tự nói đến:
a) Cụ Trần Đình Quang với quyển Gia phả Hà Tiên.
b) Cụ Lê Quang Chiểu trong sách Quốc âm thi hiệp tuyển (1903).
c) Cụ Lê Phương Chánh với 10 bài Hà Thiên thập cảnh vịnh và 1 bài Tổng luận (1904).
d) Cụ La Thành Đầm với sách Thần chú thỉnh tiên (1907).
e) Cụ Đông Hồ trong Nam phong (1926).
1. Trước hết là quyển Gia phả Hà Tiên của cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối:
Nữ sĩ Mộng Tuyết cho chúng tôi mượn nguyên Bản gốc là bản chép tay. Đây là quyển sách được cụ Đông Hồ
sử dụng lần đầu để viết Hà Tiên Mạc thị sử (Nam phong số 107 tháng7 năm 1926). Trong lần biên soạn lại Hà
Ta hãy lui về thời điểm 1900, năm bản lề bước vào thế kỷ XX. Năm đó ở Hà Tiên có sự kiện mang tính chất
lịch sử trong sinh hoạt văn hóa của xứ này. Hội Lạc Thiện Hà Tiên (gồm những người sùng kính họ Mạc) vừa
hoàn thành công trình kiến thiết tu bổ miếu thờ 3 vị họ Mạc, tức Mạc Công tam vị miếu (hay Mạc Công từ,
hay Trung nghĩa từ) tại chân núi Bình Sơn (Xem Văn hóa nguyệt san số 80 tháng 4 năm 1963). Thờ gian tu sửa
là 3 năm, 1897 đến 1900. Phải chăng cụ Trần Đình Quang tự Dưỡng Hối soạn Gia phả Hà Tiên vào dịp này?
Có thể lắm. Bởi vì nếu so cách chép 4 bài thơ Nôm ở trên cột Trung Nghĩa từ và trong quyển Gia phả Hà Tiên,
ta thấy đó là hai văn bản chép ở hai nơi cùng một quy cách. Về mặt ngôn ngữ, lời dẫn nhập trên cột, mỗi đề bài
khởi đầu bằng câu: “Lệnh Công nguyên tác... (Kim Dự lan đào Quốc âm luật”). Về thứ lớp, tùy thuộc vào
bước đi của khách lễ bái. Từ đền thờ bước ra đi vào Hội quán Lạc Thiện, khách sẽ đọc bài thơ số 1 trên cái cột
phía đầu tiên bên tay phải: “Lệnh Công nguyên tác Bình Sơn điệp thúy...” từ đó ngược chiều kim đồng hồ theo
cách đọc từ phải sang trái, khách sẽ đọc 4 bài theo thứ tự:
1- Bình Sơn điệp thúy.
2 - Kim Dự lan đào.
3 - Đông Hồ ấn nguyệt.
4 - Thạch Động thôn vân.
Xem trong Gia phả Hà Tiên cũng thế: sau 12 bài thơ chữ Hán (tờ 45a đến tờ 49a) thì khởi sự chép 4 bài thơ
chữ Nôm vừa rập theo thứ lớp đó và khởi đầu bằng: “Mạc Tiên Công nguyên tác Bình Sơn điệp thuý Quốc âm
luật” (tờ 49a đến tờ 50b).
Sau bài Thạch Động thôn vân tác giả chép 6 bài hoàn toàn mới lạ, xưa nay không ai biết cũng chẳng thấy ai
nhắc nhở. Theo tôi, sáu bài này cần xét lại, chưa chắc đều xứng đáng là tác phẩm của Mạc Thiên Tích. Bởi vì
trong 6 bài đó, bài Tiêu tự thần chung lời và tứ thơ rất bình thường, thậm chí quá ngô nghê, Thế mà trên đầu
bài cứ ghi là: “Mạc Tiên Công nguyên tác Tiêu tự thần chung Quốc âm luật”, còn 5 bài kia, ta có thể kể đó là 5
bài “ngoài luồng” vì không có chữ Mạc Tiên Công nguyên tác” mà chỉ ghi vẻn vẹn “Lộc Trĩ thôn cư Quốc âm
luật” hoặc đằng trước chỉ có chữ Hựu (又): “Hựu Thạch Động thôn vân Quốc âm luật”.
Vậy ta có thể nói cách không lầm: quyển Gia phả Hà Tiên chỉ ghi nhận được 4 bài thơ chữ Nôm “trong
luồng”, 7 bài thơ chữ Hán phù hợp với những bài xướng của Mạc Thiên Tích, 1 bài thơ chữ Nôm đề là Hà
Tiên thập cảnh Tổng luận, và 1 bài thơ chữ Hán thuộc tập Minh Bột di ngư có tựa đề Lư Khê nhàn điếu, là
đáng kể.
Xưa nay, các sách vở phổ biến các bài này. Thế, rõ ràng soạn Gia phả Hà Tiên là cụ Trần Đình Quang tự
Dưỡng Hối trong điều kiện eo hẹp, không biết rành về tác phẩm chữ Nôm của Mạc Thiên Tích(7).
chép lại để ghi nhớ về cụ:
Thơ rượu canh khuya ngọn gió lò
Mừng cho quý hữu giỏi lần mò
La vang tiếng nhạn kêu chào hỏi
Thành việc khen ai khéo liệu lo
Đầm ấm phụng loan rày đã toại
Lại qua anh én mới nên cho
Hồi đưa lúc rước đều như một
Hương lửa từ đây dáng học trò.
Câu thủ ý “Thơ mừng La Thành Đầm lại hồi hương”, câu vĩ ý là “Lò mò hỏi lo, toại cho một trò”. Thủ vĩ đều
tuyệt nên gọi là Phụng đính. Xem thế tài nghệ thi thơ Nguyễn Phương Chánh không phải kém, nên ông nóng
lòng việc Lê Quang Chiểu công bốthơ của Mạc Thiên Tích không đúng quy cách cũng là chuyện dễ hiểu.
4. Quyển Thần chú thỉnh tiên - Ca trù thập cảnh Hà Tiên dịch giả La Thành Đầm (1907):
Sau khi cụ Nguyễn Phương Chánh công bố 11 bài thơ Nôm thì cụ La Thành Đầm lên tiếng. Đừng quên rằng
La Thành Đầm đi xa mới trở về Hà Tiên năm 1904 - Có lẽ thời gian xa quê cũng là thời gian ông thâu nhặt
được những câu thơ song thất lục bát Hà Tiên thập cảnh ca trù ở đâu đó. Về Hà Tiên, ông mới dịch từ chữ
Nôm ra Quốc ngữ và ông cho xuất bản kèm trong tập sách nhỏ có nhan đề: Thần chú thỉnh tiên, Ca trù thập
cảnh Hà Tiên (Phát Toán - Imprimeur Editeur - Sài Gòn - 1907). Để khỏi mô tả dông dài cái bìa quyển sách,
mời quý vị xem ảnh chụp tờ bìa và trang 17 có đăng Hà Tiên thập cảnh ca trù. Xưa nay mọi người đều lầm
tưởng ông Đông Hồ là người đầu tiên và là người duy nhất công bố 334câu thơ song thát lục bát (được ông sửa
tên đến 4 lần). Thực ra ông là người thứ hai, ông sao lục in lại. Bản thơ chữ Nôm này được cụ La Thành Đầm
công bố sớm hơn gần 20 năm trước, khi Đông Hồ mới được một tuổi (Đông Hồ sinh năm 1906). Theo cách
ghi trên bìa sách và thực tế cách xếp của văn bản, ta có thể vững tin đây không phải tác phẩm do la Thành