Bài soạn Lịch sử Việt Nam P.3 - Pdf 83

ĐỀ TÀI: VUA BẢO ĐẠI
Người thực hiện: Phan Thị Tươi
Lớp: A3K18
I. TIỂU SỬ
Bảo Đại tên húy là Nguyễn Phúc Thụy, còn có tên là Nguyễn Phúc Thiển, tục danh “Mệ Vững”,
sinh 22/10/1913 (23/09 năm Qúy Sửu) tại Huế, là con vua Khải Định và bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc.
Ngày 28/04/1922 Vĩnh Thụy được xác lập Đông cung Hoàng Thái Tử. Tháng 06/1922, Vĩnh Thụy
được vợ chồng cựu khâm sứ Trung Kì nhận làm con nuôi rồi ăn học ở Pháp. Ngày 06/11/1925, vua
Khải Định mất, Vĩnh Thụy về thọ tang cha và ngày 08/01/1926, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm vua
lấy niên hiệu Bảo Đại. Tháng 3 cùng năm, Bảo Đại trở lại Pháp tiếp tục học. Tháng 09/1932, Bảo Đại
hồi loan về nước, chính thức làm vua, Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại nội
các, hành chính… Ngày 08/04/1932, Bảo Đại ban hành một đạo dụ cải tổ nội các, quyết định tự mình
chấp chính, thành lập Viện dân biểu. Tháng 12/1933, Bảo Đại ngự du Bắc hà thăm dân chúng.
II. CUỘC ĐỜI
Ngày 20/03/1934, Bảo Đại làm đám cưới với Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong bà làm Nam
Phương Hoàng Hậu. Ông là nhà vua đầu tiên bỏ chế độ cung tần, thứ phi.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11/03/1945, Bảo
Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm
1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.
Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, ngày 25/08 chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh buộc
Bảo Đại phải thoái vị. Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ trang trọng ở Ngọ Môn, Huế vào chiều
30/08.Trong dịp này, ông có câu nói nổi tiếng “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước
nô lệ”. Tháng 09/1945, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao
chính phủ lâm thời Việt Nam”.
Ngày 08/03/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại đã kí hiệp ước Elysee
thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là quốc gia Việt Nam đứng đầu là
Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp trao trả Nam kì cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.
Ngày 24/04/1949, Bảo Đại về nước. Ngày 14/06/1949, Bảo Đại tuyên bố tạm giữ chức Hoàng đế
cho đến khi tổng tuyển cử. Ngày 01/07/1946, Chính phủ lâm thời của quốc gia Việt Nam được thành
lập theo sắc lệnh số 1-CP của thủ tướng, tấn phong Bảo Đại là Quốc trưởng.
1

chút thì bà lo tìm toàn những chỗ học không mất tiền để Phạm Quỳnh theo học. Từ trường tiểu học
Pháp Việt phố Hàng Đào ở gần nhà (số 1 phố Hàng Trống) đến trường Thông Ngôn ở bờ sông Hồng
hơi xa, nên Phạm Quỳnh chỉ toàn cuốc bộ đi học. Năm 1908, trường Thông Ngôn nhập với trường
Thành Chung Nam Định thành trường Bưởi (tức trường Chu Văn An sau này) thì vừa lúc Phạm Quỳnh
đỗ thủ khoa khóa đầu tiên trường Bưởi.
II. CUỘC ĐỜI
Từ năm 1916, Phạm Quỳnh bắt đầu viết báo cho nhiều tạp chí nổi tiếng đương thời. Từ năm 1917,
ông là chủ bút Nam Phong Tạp chí- cuốn tạp chí tuyên truyền cho tư tưởng Việt Pháp đề huề
Ngày 2/5/1919, ông là người sáng lập và là tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức.
Từ năm 1925-1928, Phạm Quỳnh là Hội ưởng Hội Tri Trí Bắc Kỳ.Năm 1926 ông làm ở Hội đồng
Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương
Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp,
để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo
hộ.
Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng
Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.
Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà
Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó
làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945)
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông
về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.
Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Ông mất sau
đó một thời gian tại làng Hiền Sỹ, tỉnh Thừa Thiên.
III. QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ
“Dựa vào thực dân Pháp và chế độ quân chủ để thực hiện độc lập quốc gia theo chế độ quân chủ
lập hiến”
3
Quan điểm này được hình thành trong thời gian ông làm việc cho tạp chí Nam Phong
Có thể xem tạp chí Nam Phong là ngọn cờ văn hóa của chủ nghĩa thực dân với chủ trương “dung
hòa văn hóa Đông – Tây”, kết hợp truyền bá văn hóa, văn minh “Đại Pháp” với phục hồi các “quốc

4
• Mười ngày ở Huế
• Mục lục Nam Phong
• Thượng Chi văn tập
• Luận giải Văn học và Triết học
• Pháp du hành trình nhật ký
V. KẾT LUẬN
Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên - con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí
Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: "Cụ Phạm là người
của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo Cách mạng".
Hơn 60 năm nay, Phạm Quỳnh là một câu hỏi lớn, một mối hồ nghi trong dư luận và nhận thức của
bao nhiêu người ở bên này bên kia chiến tuyến. Giằng xé đó làm cho vấn đề Phạm Quỳnh càng trở nên
rắc rối, phức tạp thêm. Cách mạng khó giải thích, thanh minh, phản cách mạng muốn khai thác, lợi
dụng. Nỗi đau của gia đình ngày càng lớn vì sự oan khuất của ông. Khác với những người đương thời,
tấm lòng của hậu thế đối với người xưa thường trân trọng hơn, bao dung hơn và công minh hơn. Độ
lùi về thời gian cũng giúp cho cái nhìn vào lịch sử sáng suốt hơn, thấu tình đạt lý hơn. Không nhập
nhoạng biến xấu thành tốt, biến tội thành công, đảo điên chính tà, lẫn lộn phải trái, song đối với những
nhân vật lịch sử có số phận bi kịch như Phan Thanh Giản thế kỷ XIX, Phạm Quỳnh thế kỷ XX, thiết
tưởng cần có sự đánh giá lại một lần nữa để thể hiện tấm lòng của lớp người đi sau đối với lớp người
đi trước. Phải rộng trí hiểu biết để rộng lòng tha thứ, để trân trọng, để thương yêu. Đãi cát tìm vàng,
gạn đục khơi trong. Lịch sử dân tộc bao gồm mọi cống hiến nhỏ to của mọi người con rứt ruột đẻ ra
của dân tộc qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử. Thế hệ ngày nay cũng không bỏ sót một cống
hiến, mọi giá trị nào từ những hy sinh, đau khổ, máu xương của các tiền nhân; những người vô danh
đã vậy, huống hồ là những con người đã để lại dấu vết của mình trong lịch sử, những giá trị tinh thần
và văn hóa kèm theo những giọt máu của lòng mình và cả thân xác, sinh mệnh của mình
Nói chung, Phạm Quỳnh là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho độc lập
chủ quyền và tự trị của Việt Nam.Ông cũng là nhà văn hóa lớn, là một trong số ít những “người khổng
lồ” của nước ta nửa đầu thế kỉ XX
ĐỀ TÀI: NGUYỄN TRUNG TRỰC
Người thực hiện: Trần Văn Thành

hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ được
một số nông dân vào lính để gìn giữ Đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định. Năm
1861, nhờ công đốt tàu L’Espérance, ông được triều đình phong chức Quyền sung Quản đạo nên còn
được gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch. Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông, có hai chiến
công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:
“Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên đia
6
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.”
2. Chiến công tiêu biểu
a) Trận Nhật Tảo
Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (25 tháng 2 năm 1861), Nguyễn Trung Trực về Tân An. Lúc này,
Pháp đã chiếm Mỹ Tho (tức thành Định Tường thất thủ vào ngày 12 tháng 4 năm 1861) nên thường
cho những tàu chiến vừa chạy tuần tra vừa làm đồn nổi di động. Một trong số đó là chiếc tiểu hạm
Espérance (Hy Vọng), án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo, thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long
An.
Vào khoảng sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng Phó quản binh Huỳnh
Khắc Nhượng, Tán quân Nguyễn Học, Võ Văn Quang và hương thôn Hồ Quang Chiêu...tổ chức cuộc
phục kích đốt cháy tàu chiến này.
Trận này quân của Nguyễn Trung Trực đã diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có 8 người
trốn thoát (2 lính Pháp và 6 lính Tagal, tức lính đánh thuê Philippines, cũng còn gọi là lính Ma Ní).
Lúc đó, viên sĩ quan chỉ huy tàu là trung úy hải quân Parfait không có mặt, nên sau khi hay tin dữ,
Parfait đã dẫn quân tiếp viện đến đốt cháy nhiều nhà cửa trong làng Nhật Tảo để trả thù.
Theo sau chiến thắng vừa kể, nhiều cuộc tấn công quân Pháp trên sông, trên bộ đã liên tiếp diễn
ra...
b) Trận đồn Kiên Giang
Sau lần đốt được tàu L’Espérance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiến
đấu qua lại trên các địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Đến khi hòa ước Nhâm Tuất (1862), ba tỉnh miền
Đông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực nhận chức Lãnh binh, đưa quân về hoạt động ở
ba tỉnh miền Tây. Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ
đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm lấy (24 tháng 6 năm

Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung.
Theo Việt sử tân biên, mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực,
nhưng Đô đốc toàn quyền Nam Kỳ G. Ohier không chịu. Vì cho rằng không thể tha được "một người
đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!" Và rồi
ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhà cầm quyền Pháp đã đưa ông Trực về lại Rạch Giá và sai một người
khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá, hưởng
dương khoảng 30 tuổi.
Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhân dân nhiều nơi đổ xô ra chợ Rạch Giá, vì Pháp
đem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết. Ông Trực yêu cầu Pháp mở trói, không bịt mắt để ông nhìn
đồng bào và quê hương trước phút "ra đi". Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đất
một chiếc chiếu cho ông bước đứng giữa. Ông hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời,
nhìn đất nước và từ giã đồng bào… Tương truyền, trước khi bị hành quyết Nguyễn Trung Trực đã
ngâm một bài thơ:
“Thư kiếm tùng nhưng tự thiếu niên,
8
Yêu gian đàm khí hữu long tuyền,
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa.
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.”
Thi sĩ Đông Hồ dịch:
“Theo việc binh nhưng thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh hùng gặp phải hồi không đất,
Thù hận chang chang chẳng đội trời.”
Tuy nhiên về mộ cua Nguyễn Trung Trực còn nhiều giả thuyết. Tuy nhiên người ta tin hơn cả
cho rằng mộ thật của Cụ là ở sau dinh Tỉnh trưởng cũ (nay là Cung thiếu nhi TP. Rạch Giá, nằm kề
bên UBND tỉnh Kiên Giang), rồi không rõ ai đã trồng bên mộ một cây đa. Năm 1986 chánh quyền tỉnh
Kiên Giang đã tìm được hài cốt ông ở nơi ấy và đã di táng về bên trong khuôn viên đình thờ Nguyễn
Trung Trực tại TP. Rạch Giá.
III. NHẬN XÉT
Tuy xuất thân là người dân chài nhưng Nguyễn Trung Trực đã chứng tỏ một tài năng quân sự xuất

4. Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1620-1687), con trai thứ hai của Chúa Thượng, kế nghiệp
năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có 6 con trai và 3 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông
là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế.
5. Nguyễn Phúc Thái tức Chúa Nghĩa (1650-1691), con trai thứ hai của Chúa Hiền, kế nghiệp
năm 1687 vì anh trưởng chết sớm, có 5 con trai và 5 con gái. (Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì Chúa
Nghĩa là Nguyễn Phúc Thái; còn Nguyễn Phúc Trăn không có, mà chỉ có Nguyễn Phúc Trân, em kế
của Chúa tức Cương quận công.) Chúa Nghĩa là người dời đô đến Huế. Nhà Nguyễn sau này truy tôn
ông là Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế.
6. Nguyễn Phúc Chu tức Chúa Minh (còn gọi là Quốc Chúa) (1675-1725), con trai trưởng của
Chúa Nghĩa, kế nghiệp năm 1691, có 38 con trai và 4 con gái. Chúa Minh là người đầu tiên sai sứ sang
nhà Thanh để xin phong vương nhưng không được nhận vì nhà Thanh vẫn xem vua Lê của Đàng
Ngoài là vua của toàn xứ Việt lúc đó. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Hiển Tông Hiếu Minh
hoàng đế.
7. Nguyễn Phúc Chú tức Chúa Ninh (1697-1738), con trai trưởng của Chúa Minh, kế nghiệp năm
1725, có 3 con trai và 6 con gái. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế.
8. Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương (còn gọi là Chúa Vũ) (1714-1765), con trai trưởng của
Chúa Ninh, kế nghiệp năm 1738, có 18 con trai và 12 con gái. Đến lúc này Chúa Trịnh đã xưng vương
nên Nguyễn Phúc Khoát cũng gọi mình là Vũ Vương vào năm 1744 và xem Đàng Trong như một
nước độc lập. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế.
10
9. Nguyễn Phúc Thuần tức Định Vương (còn gọi là Chúa Định) (1754-1777), con trai thứ 16 của
Vũ Vương, kế nghiệp năm 1765, không có con. Khi còn sống, Vũ Vương đã có ý định cho con trai thứ
chín là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi. Sau khi Nguyễn Phúc Hiệu chết, và con ông hãy còn quá nhỏ, Vũ
Vương định cho con trai thứ hai của mình là Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn, là cha của
vua Gia Long sau này) nối ngôi. Khi Vũ Vương chết, một vị quan lớn trong triều là Trương Phúc Loan
giết Nguyễn Phúc Luân và lập Nguyễn Phúc Thuần, lúc đó mới 12 tuổi, lên ngôi. Năm 1777 ông bị
nhà Tây Sơn giết khi ở tuổi 26, chưa có con nối dõi. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Duệ Tông
Hiếu Định hoàng đế.
II. CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG
Với ý đồ tách Đàng Trong ra khỏi sự thống trị của nhà Lê - Trịnh, Nguyễn Hoàng và những

• Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662
• Cuộc chiến thứ bảy 1672
Trong các lần giao tranh, hầu hết là do quân đội Chúa Trịnh đánh vào, duy chỉ có cuộc chiến thứ
năm, Chúa Nguyễn buộc phải xuất quân vì lí do chủ động.
3. Quân đội
Quân đội của chúa Nguyễn gồm 3 loại: quân Túc vệ hay Thân quân, quân chính quy ở các dinh
và thổ binh hay tạm binh. Các loại quân đều chia thành cơ, đội, thuyền
Cũng như ở Đàng Ngoài, quân đội Đàng Trong gồm bộ binh, thủy binh, tượng binh và pháo
binh. Thủy binh rất mạnh, đã từng đánh bạt một hạm thuyền Hà Lan trong một trận. Đầu thế kỉ XVII,
người Đàng Trong học được cách đúc súng, các thuyền lớn đều có 5 khẩu đại bác. Chúa Nguyễn cũng
thường tổ chức các cuộc thi bắn súng, huấn luyện thủy quân.
III. KẾT LUẬN
Như vậy, từ sau khi Nguyễn Hoàng từ bỏ đất Bắc, trở lại Thuận Quảng, họ Nguyễn dần dần xây
dựng vùng đất Đàng Trong thành một lãnh địa riêng, có chính quyền độc lập, mặc dầu, cho đến trước
năm 1744 vẫn giữ tước vị Quốc công, dùng niên hiệu của vua Lê. Trong lúc đó, nhân dân vẫn luôn
luôn xem vùng đất Thuận Quảng là Đàng Trong của nước Đại Việt xưa.
ĐỀ TÀI: VUA HÀM NGHI
Người thực hiện: Vũ Thu Thủy
Lớp: A3K18
Khi có dịp đến thăm Huế, tôi đã lang thang rất lâu khắp Kinh đô, khắp các cung điện, đền Miếu,
lăng tẩm kỳ bí. Lòng đầy xúc động, tôi đứng trước ngai vàng triều Nguyễn, ngẫm xem những ai đã
từng ngồi trên chiếc ngai vàng này, và đặc biệt tôi nghĩ về một người trong số họ, một con người rất
đỗi tài năng và có một số phận không bình thường.
12
Tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với những sự kiện lớn lao trong lịch sử cuộc đấu tranh giải
phóng của nhân dân Việt nam chống lại ách thống trị của thực dân Pháp mà còn là sự khởi đầu cho nền
hội họa hiện đại Việt Nam. Đó là cựu hoàng triều Nguyễn – Vua Hàm Nghi.
I. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Hoàng đế Hàm Nghi (3 tháng 8 năm 1871 – 4 tháng 1 năm 1943) là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà
Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ngày nay, cùng Việt Nam xem

nước nên đã oà khóc. Từ Sài Gòn, ngày 13 tháng 12 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàu
mang tên "Biên Hoà" vượt đại dương đi Bắc Phi. Do không quen đi trên biển, nhà vua bị say sóng liên
miên nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán. Chiều chủ nhật, 13 tháng 1 năm 1889, cựu
hoàng Hàm Nghi đến thủ đô Alger của Algérie. Lúc này nhà vua vừa bước qua tuổi 18.
2. Một gia đình Việt giữa xứ người
Đến năm 1904, khi đã 33 tuổi, vua cưới vợ là cô Marcelle Laloe, con gái ngài luật sư chánh án tòa
thượng thẩm Alger. Ngài Laloe góa vợ, có một con gái duy nhất, là người rất được trọng vọng đối với
dân bản xứ, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của vị vua nước Nam đang lưu vong nên đã gả con gái cho.
Không thể một mình sống mãi nơi đất khách quê người, năm 1904, cựu hoàng đính hôn với cô
Marcelle Laloe (sinh năm 1884) - con gái của ông Laloe - chánh án toà Thượng Phẩm Alger.
3. Mối tình ấm áp
Sau ngày cưới một năm (1905), cựu hoàng viết thư về Huế báo tin vui cựu hoàng mới có con gái
đầu lòng là Công Chúa Như Mai. Ba năm sau nữa (1908), cựu hoàng có thêm Công Chúa thứ hai là
Như Lý, và qua năm 1910, thêm một con trai là Hoàng Tử Minh Đức. Các con của cựu hoàng rất có
hiếu với cha mẹ và đều thành đạt.
Đến năm 1944, vua Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày (cander de I'estomac) tại Biệt Thự
Gia Long (Alger). Hạnh phúc của cựu hoàng với bà Marcelle Laloe được tròn 40 năm (1904-1944).
4. Vua Hàm Nghi về với Tổ quốc
Ngày 25-3-2008, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế đã gửi tờ trình đến Hội đồng Trị sự Nguyễn
Phước Tộc để trao đổi vấn đề tổ chức và chọn địa điểm an táng hài cốt vua Hàm Nghi.
Đến nay tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bước đầu thống nhất phương án chọn địa điểm đặt nơi yên nghỉ
vĩnh hằng cho vua Hàm Nghi tại vùng đồi Thủy Xuân - TP Huế. Đó là một khu đất nằm kề các khu
lăng những người thân của vua gồm lăng người cha Kiên Thái vương và hai vua anh là Đồng Khánh
và Kiến Phúc (nằm trong khu vực lăng Tự Đức)...
14
III. HÀM NGHI TRONG VĂN HỌC VÀ TIỂU THUYẾT NƯỚC NGOÀI
Có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XVIII, các nhà văn Nga đã bắt đầu quan tâm ngày càng nhiều đến
các quốc gia phương Đông và nền văn hóa của họ. Chính vì vậy mà suốt thế kỷ XIX, nền văn hóa Nga,
ở mức độ nào đó, đã trở nên giàu có màu sắc thẩm mỹ hơn nhờ nắm bắt được một cách nghệ thuật
thực tại của các nước phương Đông, cùng với nền văn hóa và nghệ thuật của họ, trong đó có Việt

Tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết đảo chính phế bỏ Hiệp Hòa đưa Kiến Phúc lên ngôi, giữ
chức Thượng Thư bộ binh.
Tháng 8 năm 1884, Hàm Nghi lên ngôi. Dịp này giúp Tôn Thất Thuyết trong việc kêu gọi triều
đình chống Pháp.

3. Làm quan dưới thời vua Hàm Nghi: Phong trào Cần Vương.
a) Diễn biến
Đêm 22 rạng 23 tháng 4 âm lịch (tức 5, 6 tháng 7 năm 1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất
Thuyết đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá.
Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất
Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm và mời vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung
lên đường.Nghe tin đó vua Hàm Nghi rất thảng thốt và đã lên đường đi lánh nạn.Tại Tân Sở vua Hàm
Nghi dưới sự giúp đỡ của Tôn Thất Thuyết đã hoàn thành “Hịch Cần Vương”.Nổi dậy đấu tranh.
Tôn Thất Thuyết cử con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp hộ giá bảo vệ, cùng đề đốc Lê Trực,
Nguyễn Phạm Tuân chia nhau phòng thủ và tấn công lực lượng Pháp trong vùng.
Ông lên đường đi Vân Nam, đến Quảng Đông vào 2 /1887. Ông chủ trương cầu viện nhà Thanh
giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp. Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt vì thuộc hạ Trương Quang
Ngọc phản bội, Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm đều chết trong lần đó. Nhưng cuộc cầu viện bất
thành.
16
b) Một số cuộc khởi nghĩa xung quanh phong trào Cần Vương như: Nghĩa hội Quảng Nam của
Nguyễn Duy Hiệu, Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương
Khê, Hà Tĩnh, Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An
c) Nguyên nhân thất bại là do cuộc khởi nghĩa còn mang tính chất địa phương, quan hệ với dân chúng
không được ổn định, mâu thuẫn sắc tộc,
* Vài nét về vua Hàm nghi
Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã
làm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp có
đóng quan tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn. Thái độ ấy do Hội đồng
Phụ chính đề ra. Hội đồng ấy rất có lý mà tin chắc rằng dân chúng trông vào thái độ của nhà vua để

thất thủ kinh đô; lời vè không quá xa sự thực.
IV. TƯỞNG NHỚ
Nhân dân ở thôn Vân Khê,xã Thủy Thanh,huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựng
phủ thờ Tôn Thất Thuyết. Qua cầu An Cự theo đường Tỉnh Lộ qua cầu Ngói Thanh Toàn về thôn Vân
Khê, khoảng 7km ta sẽ nhìn thấy phủ thờ Tôn Thất Thuyết.
Nhiều đường phố mang tên Tôn Thất thuyết, Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Thiệp.
ĐỀ TÀI: PHẠM BÀNH
Người thực hiện: Dương Thị Thúy
Lớp: A3K18
I. CUỘC ĐỜI
18
Phạm Bành (1827 – 1887) quê ở huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa, là một vị quan nổi tiếng thanh
liêm và tận tâm vì dân chúng. Cùng nhiều sĩ phu khác, ông tham gia phong trào Cần Vương với vai trò
là phó tướng của nghĩa quân Ba Đình, mộ quân khởi nghĩa, xây dựng căn cứ Ba Đình bảo vệ cửa ngõ
miền trung và đánh địch ở đồng bằng. Lập căn cứ Ba Đình ( Nga Sơn, Thanh Hóa) gồm ba làng: Mỹ
Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh nghĩa quân có thể kiểm soát, khống chế đường số 1. Lúc này, đã về già
nhưng ông luôn sát cánh cùng nghĩa quân trong mỗi cuộc khởi nghĩa và khích lệ dân chúng. Sau khi bị
thất thủ, Phạm Bành phải rút quân về Mã Cao. Không bắt được Phạm Bành, chúng liền bắt mẹ và con
ông giam ở Thanh Hóa để buộc ông phải ra hàng. Vì thương mẹ và con, ông đã giả vờ ra đầu thú để
cứu họ, nhưng ngay sau hôm mẹ và con được thả ông đã uống thuốc độc tự tử để tỏ rõ khí tiết của
mình, giữa sự tiếc thương cuả đồng bào. Phạm Bành mất ngày 18 tháng 3 năm Đinh Hợi (11-4-1887).
Nguyễn Đôn Tiết khóc ông:
“Quân tử nhất sinh tam khả bạch,
Tướng quân tùy tử diện tơ hồng”.
Dịch:
“Quân tử trọn đời lòng vẫn trắng,
Tướng quân dù chết mặt vẫn hồng”.
Nguyễn Xuân Ôn, lãnh tụ phong trào chông Pháp ở Nghệ An lúc đó, đã ca ngợi ông như sau:
“Khoa hạng Thang châu đệ nhất môn,
Gia huynh cựu thị cá kin côn.

Mượn chén ghi tình vĩnh biệt nhau
Lòng ở Đông A thà một chết
Chí vì Nam Việt sống thừa sao”.
(Khương Hữu Dụng dịch).
II. SỰ NGHIỆP
Phạm Bành đã tham gia khởi nghĩa Ba Đình cùng với Đinh Công Tráng (thủ lĩnh) và nhiều tướng
lĩnh khác. Căn cứ Ba Đình được xây dựng kiên cố như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước, tách biệt
với các làng khác. Nghĩa quân đã giành được nhiều thắng lợi nhưng về sau ông đã bị giết hại và bị treo
đầu với giá cao. Đặc biệt hơn, ở giai đoạn sau Bác Hồ đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã đủ thấy ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này với nhân dân Việt Nam
và nền độc lập dân tộc. Sau khi vua Hàm Nghi kêu gọi toàn dân hưởng chiếu Cần Vương, đã có rất
nhiều người tham gia. Sau bao nhiêu nổ lực của quân và dân ta, cuộc tấn công lần một của địch liên
tục bị thất bại nặng nề. Nghĩa quân dũng cảm và mưu trí chiến đấu với vũ khí hiện đại của quân địch.
Trước tình hình này giặc hoảng sợ bao vây cứ điểm Ba Đình, mục tiêu của chúng là gấp rút nối
liền con đường giao thông giữa hai miền trung - bắc để tiến hành lên hoàn thành bình định miền đồng
bằng.
20
Với sự giúp đỡ của cha Sáu, địch đã chia quân tập trung tại mặt trận Ba Đình một số quân rất lớn.
Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Đông Dương nghĩa quân đã giam chân được một số địch đông và
trong một thởi gian lâu như vậy. Sau đó, chúng lợi dụng thủy triều để xây dựng công sự. Nhưng sau
bao nhiêu cố gắng cuối cùng Ba Đình đã bị triệt hạ. Phạm Bành bị uy hiếp đến tính mạng cử người
thân, ông đã hi sinh thân mình để bảo vệ họ, bao nhiêu người thương khóc ông.
Đảm nhận xây dựng hệ thống cứ điểm Mã Cao và phối hợp với các nghĩa quân khác, Hà Văn Mao
ra sức xây dựng và tăng cường lực lượng nghĩa quân. Lúc này có nhiều phong trào nổ ra như phong
trào của Phạm Bành, phong trào của Hoàng Bật Đạt, phong trào của Nguyễn Đôn Tiết, phong trào của
Nguyễn Phương, phong trào của huyện Nông Cống, phong trào của huyện Quảng Xương, phong trào
của huyện Hà Giang. Cuộc khởi ngha Ba Đình được đánh giá rất cao.
Về phong trào Cần Vương: Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX là phong trào dân tộc, phong
trào yêu nước chống chủ nghĩa thực dân xâm lược kết hợp với chống triều đình phong kiến đầu hàng
đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Phong trào thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân.

tộc với những trang sử vẻ vang về những buổi loạn lac. Ông tuy không quá nổi tiếng như Hai Bà
Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, … để ai ai cũng biết đến cái tên Phạm Bành, nhưng khi đã biết thì
không ai có thể quên được ông một người anh hùng, có khí tiết của kẻ trượng phu, không cam tâm
chịu nỗi nhục mất nước, chịu sự dầy xéo đần áp của bè lũ xâm lược.
Tuy trong quá trình nghiên cứu tôi không nhận được thông tin về hình ảnh của ông nhưng chắc
chắn rằng không phải vì thế mà chúng ta không thể hình dung ra hình ảnh của người anh hùng này,
linh hồn ông luôn dõi theo ngàn đời trong quá trình đất nước vươn lên lấy lại vị trí của chính mình và
bắt đầu lớn mạnh. Dân tộc Việt Nam sẽ ngàn đời nhắc đến ông và mãi mãi biết ơn ông như biết bao
nhiêu vị anh hùng dân khác.

ĐỀ TÀI: ĐINH CÔNG TRÁNG VÀ KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH
Thực hiện: Hoàng Hà Thu
Lớp: A3K18
I. ĐINH CÔNG TRÁNG
22
Tướng Pháp Mason đã nhận
định về Đinh Công Tráng: "
Người có trật tự, trọng kỉ luật,
cương trực, hay nghiêm trị những
thủ hạ quấy nhiễu dân; có chí
nhẫn nại, biết mình, biết người,
không bao giờ hành binh cẩu tha,
giỏi lập trận thế". Tướng Pháp
Mason nhận định về ông như thế.
Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm
Dần (1842-1887), quê ở làng Trinh
Xá, huyện Thanh Liêm (Hà Nam).
Là một người yêu nước và thiết
tha với vận mệnh của tổ quốc, ông
không thể ngồi yên khi đất nước

+ Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là lũy tre
dày đặc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp thành đất cao 3 m, chân rộng
8 đến 10m.
+ Có thể nói rằng căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiến tuyến phòng ngự quy mô
nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ 19. Ngoài Ba Đình, còn có các căn cứ hỗ trợ: căn cứ Phi Lai của
Cao Điển, căn cứ Quảng Hóa của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao.
IV. KHỞI NGHĨA BA ĐÌNH
1. Địa điểm
Căn cứ Ba Đình
2. Tổ chức biên chế
Lực lượng nghĩa quân Ba Đình gồm khoảng 300 người, có lúc đông tới hai vạn người, tuyển từ ba
làng và các vùng Thanh Hóa, bao gồm cả người Kinh, Thái, Mường. Nghĩa quân có 10 toán, mỗi toán
có một hiệp quản chỉ huy. Về vũ khí, nghĩa quân tự trang bị bằng súng hỏa mai, giáo mác, cung nỏ.
3. Lãnh đạo
Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt và một số tướng lĩnh khác.
4. Diễn biến
Nghĩa quân của Đinh Công Tráng đã đánh nhiều trận giành thắng lợi. Năm 1886, nghĩa quân liên
tiếp tiến công các phủ, thành, huyện lỵ, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp
nhiều thiệt hại. Ngày 12 tháng 3 năm 1886 lợi dụng phiên chợ đã tấn công Tòa Công sứ Thanh Hóa.
24
Và tiếp đó, nghĩa quân đã tấn công nhiều phủ thành, chặn đánh các đoàn xe, gây cho quân Pháp nhiều
thiệt hại.
Từ 18-12-1886 đến 20-1-1887 Đại tá Brissand thống lĩnh 76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiến
đánh căn cứ Ba Đình. Quân Pháp đã nã tới 16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ
Ba Đình thành biển lửa. Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại kẻ thù
đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại. Trong những trận chiến đấu vô cùng ác liệt này,
nghĩa quân đã mưu trí dũng cảm, bám trụ từng tấc đất, đập tan nhiều cuộc tấn công, gây tổn thất nặng
nề cho quân đội Pháp, làm chấn động tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam và còn là nỗi lo sợ cho bọn
Pháp ở chính quốc. Nhưng vì lực lượng quá nhỏ không thể đương đầu với đội quân Pháp vừa đông
vừa mạnh, nên lực lượng của nghĩa quân Ba Đình bị thương vong nhiều. Để tránh khỏi bị tiêu diệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status