Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Thanh
SĐT: 0985323096
Email: [email protected]
Lịch Sử Giáo Dục Việt Nam
Chương 1
NỀN GIÁO DỤC DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM
1. Quá trình phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam
1.1. Quá trình dựng nước và giữ nước.
- Thời kì 1000 năm Bắc thuộc kéo dài từ TK thứ II TCN đến TK X là thời kì hình thành
giai cấp phong kiến.
- Lễ nghi Nho giáo được du nhập, Hán văn trở thành văn tự chính thức trong nhà trường.
- Chữ Nôm được sáng tạo, đạo Phật được truyền vào Việt Nam.
1.2. Quá trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến Việt Nam
a. Quá trình phát triển
- Chiến thắng của Ngô Quyền thắng quân Nam Hán mở ra một giai đoạn mới trong lịch
sử của chế độ phong kiến VN.
- Từ TK X đến giữa TK XIX là thời kì tồn tại, phát triển và suy vong của chế độ phong
kiến. Có thể phân thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn xây dựng, phát triển (TK X - XV): Nhà Ngô, nhà Đinh, nhà tiền Lê, nhà
Lý, nhà Trần.
+ Giai đoạn phát triển cực thịnh (TK XV- XVI): Nhà Hồ, nhà Lê Sơ
+ Giai đoạn suy vong (TK XVII- giữa TK XIX, trước khi thực dân Pháp xâm lược).
Cuối đời Lê Trung Hưng và nhà Nguyễn.
1
Hùng Vương
(2000 năm
TCN)
Âu Lạc
(TKII TCN)
Bắc thuộc
(1000 năm)
+ Kháng chiến chống Nguyên Mông do nhà Trần lãnh đạo (TK XIII) ;
+ Kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo (TK XV) ;
+ Tây Sơn đánh quân Thanh ( TK XVIII).
- Kinh tế : Kinh tế nông nghiệp, tự cấp tự túc là mô hình kinh tế chiếm giữ vị trí thống trị.
Ruộng đất nằm trong tay giai cấp địa chủ phong kiến.
2. Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam
- Nho giáo là Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam, đó là học thuyết
bao gồm các tư tưởng chính trị, đạo đức, triết học, giáo dục do Khổng Tử (551-479 TCN)
là người sáng lập trong thời Trung Hoa cổ đại.
- Về mặt chính trị: Mong muốn phục hưng lễ giáo nhà Chu, ổn định xã hội Trung Hoa
bằng đức trị và lễ trị.
- Về nhân: Mong muốn tạo ra một mẫu người quân tử, tâng lớp trên của xã hội, đối lập
với kẻ tiểu nhân. Nhân quy lại là cách đối nhân xử thế giữa người và người theo chế độ
đẳng cấp và quan hệ tông pháp
- Các môn đệ xuất sắc nhất của Nho giáo gồm có Mạnh Tử (385-354 TCN), Tuân Tử
(298-238).
- Nho giáo bao gồm 4 vấn đề cơ bản: TG quan duy tâm, quan niệm về lich sử, đạo đức,
trị đạo.
Bốn vấn đề cơ bản của nho giáo
1-
Thế giới quan duy tâm
: Tin là có trời. Trời là chủ thể của vũ trụ, chi phối mọi
sự việc trên thế gian. Bên cạnh trời có quỷ thần, quỷ thần bao quát được tất cả.
Dần dần
kính
và
thành
trở thành cái gốc luân lí của đạo Nho và trở thành cái gốc
đạo đức luân lý của người VN.
2-Quan niệm về lịch sử
phẩm hàm quan tước trong triều, các thủ tục ma chay, cưới xin, ăn hỏi…
3. Hệ thống tổ chức của nền GD PK VN:
3.1. Trường học thầy đồ: là loại trường tư thục được lập ra ở nông thôn, ở các làng xã
thu hút trẻ em từ 7 tuổi trở lên.
- Tổ chức lớp học: số lượng HS không có quy định cụ thể, tùy vào tiếng tăm của thầy.
- Tài liệu học tập: Thông thường là các sách kinh điển của Nho gia, các bài văn, bài thơ
của các vị TS đã thi đỗ trước đó.
Phương pháp dạy và học: PP thầy đọc, trò nghe, học thuộc lòng cổ sử, cổ văn, học thuộc
lòng những lời nói của cổ nhân, thánh hiền. Kỉ luật học tập chủ yếu được duy trì bằng roi
vọt đánh mắng
3.2. Một vài trường học nổi tiếng
Trường của thầy Chu Văn An (1292-1370), đời nhà Trần, ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh
Trì, ngoại thành Hà Nội.
- Trường của thầy Trần ích Phát (TK XV, huyện Chí Linh, Hải Dương).
- Trường Nghi Am của thầy Nhữ Bá Sỹ thế kỉ XIX.
- Trường của bà Ngô Chi Lan (TK XV) ở Kim Hoa, Đông Anh, Hà Nội.
- Trường của bà Đoàn Thị Điểm (TK XVIII) ở huyện Mỹ Hào – Hải Dương.
3.3. Trường công:
3
Từ thời nhà Trần trở đi, ở mỗi phủ, huyện có các quan giáo thụ và huấn học trong
nom việc học và dạy tứ thư, ngũ kinh cho các nhà nho.
- Trường Quốc tử giám là trường đại học đầu tiên của VN được xây dựng từ thế kỉ XI
(năm 1076) dưới triều Lý Công Uẩn. Đây là nơi biểu trưng cho trí tuệ và nền văn hiến
VN dưới chế độ PK.
Sự phát triển của nó tùy thuộc vào sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại phong
kiến.
a. Bộ máy tổ chức quản lí nhà trường (thời Nguyễn)
- Tế tửu và Tư nghiệp là chức quan quản lí cao nhất của nhà trường.
- Đội ngũ quan văn làm công tác giảng dạy gồm có: học chánh, giáo thụ, trợ giáo (tối
thiểu phải đỗ cử nhân).
- Nhà Mạc: Lập một số văn miếu tại các tỉnh, cứ 3 năm mở một kỳ thi hội, thi đình để
tuyển chọn nhân tài.
- Nhà Lê – Trịnh: Việc học vẫn phát triển, các khoa thi vẫn mở để tuyển chọn nhân tài.
Nhưng cuối đời nảy sinh nhiều tiêu cực, nền giáo dục bị suy thoái.
- Vua Quang Trung: Việc học được mở rộng, chế độ thi cử được chấn chỉnh lại. Quang
Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức, chữ Hán không còn giữ vị trí độc tôn.
- Nhà Nguyễn: Năm 1918 là khoa thi Hương cuối cùng ở Việt Nam. Địa vị thống trị của
Nho giáo không còn nữa.
Ưu và nhược điểm của nền giáo dục dưới chế độ PK
- Ưu điểm:
+ Tạo nên một đất nước có truyền thống hiếu học, yêu chuộng văn hóa, Tôn sư trọng đạo
+ Tạo nên những nhà văn hóa, nhà giáo dục, nhà sử học, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu,
nhà quân sự nổi tiếng….
- Nhược điểm:
+ Đào tạo ra thế hệ những con người bảo thủ, kìm hãm sự phát triển của xh.
+ Tư tưởng GD độc quyền chi phối nền GD và chế độ khoa cử, tức là đào tạo và lựa chọn
quan lại cho bộ máy nhà nước PK (Trần Đình Hượu, 1989).
Mục đích đầu tiên của GD là truyền đạt các khái niệm về đạo đức nho giáo và dạy
chữ Hán.
Tạo ra một lớp người hạn chế về suy nghĩ và tình cảm thực sự, những xác chết,
những cỗ máy phục vụ cho cấp trên (Đào Duy Anh, 1937).
6. Một số nhà trí thức tiêu biểu
- Chu Văn An (1292-1370): là người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà
Nội. Ông đã làm đến chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám đời nhà Trần.
- Hồ Quý Ly (1330- 1407): người làng Đại La, tỉnh Thanh Hóa, làm quan đời nhà Trần
và lập ra nhà Hồ.
Ông đã chỉ ra những chỗ đáng nghi ngờ trong sách kinh điển, dịch Kinh Thi ra chữ
Nôm.
- Nguyễn Trãi (1380- 1442): là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn thế kỷ XV.
- Lê Quý Đôn (1726- 1784) là nhà bác học lớn của VN TK XVIII, người làng Diên Hạ,
2. Tìm hiểu những cống hiến về giáo dục của các nhà giáo dục PK lỗi lạc nước ta.
- Thời gian: 5 tuần
- Cơ sở để tìm hiểu: Mạng Internet, các thư viện, các di tích văn hóa giáo dục như Quốc
tử giám, Văn miếu Mao Điền, Bảo tàng….
- Sản phẩm: Báo cáo, album, PowerPoit, Videoclip, kịch…….để tổ chức một triển lãm
vào dịp 20/11.
Chương 2
NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC
1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc
1.2. Hoàn cảnh lịch sử (1858-1898)
- Triều đại PK cuối cùng trong lịch sử VN là triều đại nhà Nguyễn, ra đời năm 1802.
- Ngày 1/9/1858 liên quân Pháp- Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức mở
màn cho cuộc xâm lược nước ta.
- Các vua triều Nguyễn đầu hàng, từng bước cắt đất dâng cho giặc. Năm 1884 nhà
Nguyễn kí hiệp ước Patơnot đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp.
- Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi rời khỏi hoàng thành Huế, dựng cờ Cần Vương,
kêu gọi khởi nghĩa.
- Các phong trào khởi nghĩa diễn ra vô cùng sôi nổi nhưng đều thất bại vì chưa có một
giai cấp thực sự tiên tiến lãnh đạo.
- Trong thời gian 40 năm (1858-1898) thực dân Pháp đã hoàn thành cuộc xâm lược và
bình định Việt Nam.
6
- Từ những năm cuối TK XIX, nước ta mất tên trên bản đồ thế giới, trở thành thuộc địa
của Pháp.
1.2. Sự thiết lập và cai trị bộ máy cai trị thuộc địa của Pháp ở Việt Nam
Thực dân Pháp đã chia cắt nước ta thành 3 kì riêng biệt với 3 chế độ cai trị khác nhau,
mỗi kì là một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp.
- Ở Nam kì Pháp áp đặt chế độ trực trị mà đặc điểm của nó là sử dụng bộ máy quan lại
cai trị thời PK, chồng lên trên là hệ thống quan lại cao cấp người Pháp.
- Ở Trung Kì, áp đặt chế độ bảo hộ cho phép tồn tại triều đình Huế, vua, viện cơ mật
trong XH.
Giai cấp địa chủ PK trở thành chỗ dựa cho chính sách xâm lược của đế quốc Pháp.
7
Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất chiếm tuyệt đại đa số nhân dân trong cả
nước, là giai cấp bị áp bức bóc lột nặng nề.
Giai cấp tư sản ra đời khi giai cấp công nhân đã lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo.
Giai cấp nông dân hình thành trên quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân.
Giai cấp tiểu tư sản là giai cấp trung gian trong XH và là nơi đón nhận mọi tư tưởng từ
mọi nơi đến.
Sự phân hóa giai cấp mới dẫn đến sự xuất hiện của ý thức
hệ tư tưởng mới.
Hệ ý thức PK: đã lạc hậu lỗi thời
ý thức tư sản nhu nhập vào VN thông qua các sĩ phu yêu nước tiến bộ vào đầu TK XX.
ý thức vô sản: Tiếng nói của giai cấp công nhân dần dần là tiếng nói tiêu biểu của dân
tộc. Từ sau năm 1930, ý thức vô sản đã được xác lập trên vũ đài lịch sử.
2. Chính sách GD ngu dân của thực dân Pháp ở VN
.2.1. Mục đích thi hành chính sách ngu dân
Thực dân Pháp chủ trương làm suy thoái tinh thần phản kháng và trỗi dậy lâu dài
của dân ta để dễ bề thống trị.
Chú ý đến chính sách văn hóa giáo dục, xem đó là công cụ để chinh phục tâm hồn những
người dân thuộc địa.
Chính sách ngu dân nhằm nô dịch hóa, bần cùng hóa, gieo giắc tâm lí tự ty, khiếp
sợ uy quyền " Đại Pháp" được ngụy trang dưới những chiêu bài ôchấn hưng nền họcằ
của người bản xứ, núp dưới những luận điệu đem ngọn đuốc văn minh đến khai phá cho
các dân tộc còn lạc hậu.
2.2 Các chủ trương mới trong lĩnh vực trường học
- Đào tạo tay sai, đào tạo công nhân và thợ lành nghề phục vụ cho yêu cầu khai thác
thuộc địa.
- Phổ biến nền văn hóa giáo dục nô dịch, thực hiện mưu đồ đồng hóa lâu dài đối với dân
tộc ta.
hóa phong kiến dân tộc cũ. Đây là một biện pháp nhằm ngăn chặn những tư tưởng yêu
nước tiến bộ vào VN vì lúc đó chữ Hán đang được các sĩ phu yêu nước sử dụng để truyền
bá tư tưởng yêu nước và bài Pháp trong nhân dân. (Giáo trình không nói đến việc sử dụng
chữ Quốc ngữ, một phương tiện để trung hòa quá khứ tôn sùng văn hóa nho giáo, trong
hệ thống trường Pháp-Việt)
Đến năm 1919, chế độ khoa cử như dưới thời kì PK hoàn toàn bị bãi bỏ. (Sự tan rã của
trường học thầy đồ và sự ra đi của các ông đồ).
Thực dân Pháp ngăn cấm HS VN đi du học ở nước ngoài vì đó chính là con đường
tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản TG và của chính cách mạng Pháp
hoặc những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản để tiến hành cách mạng trong nước. Chính
sách này thực sự thâm độc, nhằm hạn chế người VN tiếp xúc được những tư tưởng cách
mạng tiến bộ trên TG.
2.3. Các chủ trương trong lĩnh vực hoạt động văn hóa xã hội
Triệt để dùng báo chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền chính sách thực dân,
các quan niệm sống phương Tây, tuyên truyền đề cao văn hóa Pháp, miệt thị văn hóa dân
tộc.
Thực dân Pháp cho ấn hành, xuất bản các loại sách triết học, lưu hành các loại sân
khấu điện ảnh.
Trong đời sống sinh hoạt xã hội, thực dân Pháp cổ vũ lối sống xa hoa trụy lạc của
CNTB: cho phép nấu rượu, mở sòng bạc, lập nhà chứa, tiêm hút thuốc phiện, tổ chức các
trò chơi nhân dịp kỉ niệm cách mạng TS Pháp.
2.4. Dùng luật pháp để ngăn chặn ảnh hưởng và đàn áp những tư tưởng GD tiến bộ
Ngăn chặn ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng GD tiến bộ trên TG vào VN.
Kiểm soát chăt chẽ các con đường giao lưu văn hóa, ngăn cấm những tài liệu
tuyên truyền, sách báo có tư tưởng tiến bộ được du nhập vào VN.
9
Tăng cường bộ máy cai trị, tổ chức quân đội, mật thám, chỉ điểm theo dõi các hoạt
động GD tiến bộ. Xử phạt nặng nề GV và HS có những tư tưởng hoặc hoạt động GD tiến
bộ. Đàn áp các gia đình có con em tham gia vào các tổ chức GDCM, khủng bố các phong
trào đấu tranh của HS, SV đòi tự do, dân chủ.
sĩ phu yêu nước VN. Một xu hướng Duy tân trỗi dậy: phong trào Đông du, đi về phương
Đông (Nhật Bản) để học tập và tìm đường cứu nước được phát động do Phan Bội Châu
lãnh đạo.
Mục đích của phong trào duy tân là dùng bạo lực đánh đuổi thực dân Pháp giành
độc lập cho Tổ Quốc với chủ trương là dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản và các nước
phương Tây.
10
Năm 1905, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật để vận động cho du học sinh sang
học. Từ năm 1905- 1908, phong trào phát triển rất mạnh mẽ sôi nổi, số HS tăng lên rất
nhanh và đã tạo nên một phong trào cách mạng sôi nổi, được nhân dân ta tích cực hưởng
ứng.
Tháng 8/1908, sau khi kí hiệp ước bắt tay với Nhật, Pháp thẳng tay đàn áp những
gia đình có con em du học, Nhật giải tán HS VN và trục xuất các lãnh tụ của phong trào.
Vì vậy phong trào đã nhanh chóng tan rã và đi đến thất bại.
Những đóng góp của phong trào Đông Du:
- Là phong trào đấu tranh sôi nổi nhất đầu TK 20.
- Giác ngộ cho quần chúng ND thấy rõ bộ mặt của kẻ cướp nước, GD lòng yêu nước, căm
thù giặc, ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của TQ.
- Đào tạo được một đội ngũ chiến sĩ cách mạng có năng lực, thúc đẩy, lôi cuốn các sĩ phu
trong nước.
Nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào Đông Du:
- Phan Bội Châu đã tin tưởng vào sự giúp đỡ của Nhật Bản mà không nhận thấy bản chất
giai cấp giống nhau của thực dân và đế quốc: chúng đều là kẻ xâm lược và bóc lột nhân
dân thuộc địa.
- Những người đuợc Phan Bội Châu lựa chọn đi du học phần lớn đều là con em gia đình
giàu có, thuộc tầng lớp trên và tầng lớp trung gian. Điều này cho thầy phong trào Đông
du chủ yếu dựa vào sự phân biệt về nghề nghiệp, tôn giáo, địa vi, mà không dựa trên một
quan điểm giai cấp nhất định. Vì thế mà phong trào chưa gây được ảnh hưởng một cách
sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân lao động.
1.2. Cuộc đấu tranh theo khuynh hướng cải lương, đại diện là Phan Chu Trinh
- Thực chất phong trào là đòn giáng mạnh vào hệ tư tưởng nho giáo và nền giáo dục PK
phản động đang được thực dân lợi dụng để duy trì chính sách ngu dân.
Phân tích sự chuyển biến của XH về phương diện GD kể từ khi TD Pháp xâm lược Vn, từ
chỗ tẩy chay NT thực dân, tiếp tục mở trường tư ở nông thôn do các thầy đồ đảm nhiệm
đến chỗ mở ra các trường học mới: đã có sự tiếp thu và cải cách nền GD của thực dân.
Đông kinh nghĩa thục thực sự là nơi thực hành tư tưởng Duy tân, phổ biến cho một nền
GD mới với nội dung, PP GD hoàn toàn mới. Những tiến bộ của NT có thể ghi nhận ở
những điểm sau:
- Đề cao phương châm tự lực cánh sinh: NT đã dựa vào sự nhiệt tình của các sáng lập
viên, của đông đảo quần chúng và sự đóng góp của các học viên để xây dựng cơ sở vật
chất, biên soạn sách vở, đồ dùng và chương trình DH.
- Xây dựng PP DH mới: xuất hiện các hình thức tổ chức mới; diễn thuyết, đọc báo,
đóng kịch, ngoại khóa, thảo luận, bàn bạc về các đề tài chính trị, thời sự quốc tế, KH
thường thức.
(Phân tích sự khác biệt với lối DH giáo điều, tầm chương trích cú trong thời kì phong
kiến và hậu quả của nó. PPDH mới này đã được phát huy trong NT hiện nay chưa?)
- PP GD đề cao nhân bản, tôn trọng con người: GD góp phần thúc đẩy nhân cách của
người học, tôn trọng tự do và phẩm cách của họ và mong muốn cho phụ nữ có quyền bình
đẳng hưởng GD từ đó phát huy vai trò của mình trong công cuộc duy tân đất nước.
- Chú trọng GD sơ đẳng gắn với chuyên môn nghề nghiệp: quan niệm học để làm người
hữu dụng chứ không phải để đỗ đạt làm quan vì thế mà phải chú ý đào tạo cán bộ chuyên
môn cho từng ngành.
- Đông kinh nghĩa thục là trường đầu tiên trong lịch sử GD VN có công trong việc xây
dựng PP đào tạo con người theo quan điểm dân tộc, khoa học và hiện đại.
Do ảnh hưởng của phong trào ngày càng lan rộng, Đông kinh nghĩa thục bị đóng cửa,
các yếu nhân của phong trào lần lượt bị bắt bớ tù đầy. Tuy chỉ tồn tại trong vòng 9
tháng nhưng phong trào đã gieo được những hạt giống đầu tiên cho một nền GD dân
tộc, dân chủ.
12
Sự thất bại của phong trào thể hiện những hạn chế của thời đại và của giai cấp. Các sĩ
học tập: tự do báo chí và tự do tư tưởng (điểm 3); tự do học tập và mở trường kĩ thuật và
chuyên nghiệp cho người bản xứ (điểm 6). Các yêu sách đó đã khẳng định quyền tự quyết
học tập của nhân dân VN và gây được tác động mạnh mẽ đến dư luận thế giới.
3. Cuộc đấu tranh chống nền GD nô dịch do Nguyễn Ái Quốc và ĐCS Đông Dương
lãnh đạo
Năm 1930, ĐCS Đông Dương ra đời xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản.
Cách mạng VN là CM dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp nhân dân lãnh đạo.
Lực lượng chính của CM là công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo của ĐCS.
Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của CM VN, Đảng đã vạch ra đường lối đúng
đắn trên lĩnh vực giáo dục.
13