Việt Nam sử ca
Nguyễn Sinh TPHCM
VIỆT NAM SỬ CA
(Ngọc Diện Hoa chuyển thể thơ dựa theo
Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim)
cảm ơn anh Nguyễn Sinh, TP HCM đã sưu tập và chuyển cho sugia.vn
toàn bộ sử ca này
NƯỚC VIỆT NAM (越南)
I. QUỐC HIỆU
Hồng Bàng lập nước Văn Lang
Âu Lạc, Thục Phán sửa sang bội phần.
Tượng Quận gọi bởi nhà Tần
Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam:
Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam
Giao Chỉ, Đông Hán đổi làm Giao Châu.
Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:
“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!
Nhà Đinh dẹp loạn sứ xong
Đổi Đại Cồ Việt ngoài trong một lòng.
Sang đời nhà Lý Thánh Tông
Xưng danh Đại Việt, tuyên ngôn sử hồng.
Cùng thời, vua Lý Anh Tông
"An Nam quốc" nhận gia phong Tống triều.
Bắc Nam tranh chấp tiêu điều
Gia Long thống nhất, xây triều Việt Nam.
Dân tình khổ cực đã cam
Việt Nam, Minh Mệnh đổi làm Đại Nam.
Bá quyền chưa bỏ ý tham
Phương trời đất Bắc nhúng chàm đảo điên.
Sử vàng dệt một trường thiên
Việt Nam hai chữ gắn liền tự do!
Luân thường đạo lý đã phân rõ ràng!
Đàn bà mẫu mực, trung can
"Tiết, Nghĩa, Cần, Kiệm" đảm đang việc nhà.
Đàn ông giữ vững sơn hà
Xông pha sóng gió xứng là... mày râu!
Dầu rằng vóc sắc khác nhau
Cho dù tốt, xấu cũng đâu khác nguồn?
Muôn lòng giữ cội, gìn khuôn
Bắc - Nam kết một chiếc xuồng Việt Nam!
Quyển I
THƯỢNG CỔ THỜI ĐẠI
上古時代
Chương I
1. Họ Hồng Bàng 鴻龐
2. Nước Văn Lang 郎
(2879-258 trước Tây Lịch)
Người xa bến bãi sông Lam
Ta về Đồng Tháp không cam lỗi thề?
"Giấy rách còn giữ lấy lề"
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ
Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san
Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!
3. Chuyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
Giặc Ân thua bởi nhiễu nhương
Thiên Vương Phù Đổng phi thường lớn mau.
Núi cao theo nước nông, sâu
Năm nào Sơn, Thủy tranh cầu Mỵ nương.
Sử xanh chép lại mà thương:
XÃ HỘI NƯỚC TÀU VỀ ĐỜI
TAM ĐẠI VÀ ĐỜI NHÀ TẤN
Triệu - Thục hỗn chiến máu rơi
Bên Tàu, nhà Hán đánh rơi họ Tần.
1. Phong kiến:
Mỗi người thủ lãnh một phần
Lập thành một nước, cống thần mỗi năm.
Chư hầu có đến tám trăm
Chia công, hầu, bá, tử, nam hưởng cùng.
2. Quan chế:
Tam công, nhà Hạ ra khung:
Đại khanh, Nguyên sĩ với cùng Cửu khanh.
Nhà Ân, hai tướng, năm quan
Sáu quan thái, sáu phủ đàn, sáu công.
Sáu quan, đặt bởi Chu Công
Thiên, Xuân, Địa, Hạ, Thu, Đông, được thành.
Thiên quan, cấp đứng đầu ngành
Tên là Chủng tể, tuần hành ở trong.
Đại tư đồ giữ thương, công
Giáo dục, cảnh sát, hội đồng: Địa quan.
Đại tư mã, đầu Hạ quan
Cầm binh phụng mạng, trị an nước nhà.
Tam công một chức đặt ra
Quan trên chính sự, dưới là lục quan.
Hành chính chẳng được cùng can
Tam cô, Thái, Thiếu phó bàn chiến chinh.
3. Pháp chế:
Đời Thái Tổ có năm hình
Thêm roi da với đày mình: tội lưu.
Nhà Ân, nhà Hạ, nhà Châu
Công, thương, nông, sĩ đã phân
Phu tùy, phụ xướng mười phần lễ nghi.
Tổ tiên thờ phụng kính tri
Đến đời Ngũ bá mất đi tục này.
Văn minh Tần đã đổi thay
Triệu Đà truyền luật mới này mọi nơi.
Chương IV
NHÀ TRIỆU 趙
(207 - 111 trước Tây lịch)
1. Triệu Vũ Vương:
Tránh cho máu chảy đầu rơi
Triệu Vũ Vương mới chịu lời Hán Vương.
Nam Việt một cõi nhún nhường
Vua con yếu nhược, tính phương bán nhà.
2. Vũ Vương thụ phong nhà Hán:
Vũ Vương lập nghiệp bên ta
Bên Tàu, Hán diệt Sở là Lưu Bang.
Cao Tổ thấy Vũ đăng quang
Bèn sai Lục Giả chiêu hàng, tấn vương.
Kiêu căng, Vương mới coi thường
Lục Giả phân giải hư tường, mới thông.
3. Vũ Vương xưng Đế:
Khi Cao Tổ khuất ngôi rồng
Lữ Hậu quay lại tranh dòng, lấn vua.
Cấm quan hệ với bán mua
Vũ Vương bất mãn mới xua lính càn.
Xưng làm Hoàng Đế lại gan
Trường Sa đánh tới mở màn chiến chinh.
Quân Hán chẳng thuộc địa hình
Không quen thủy thổ muôn tình bệnh đau.
6. Triệu Minh Vương:
Nghe Vũ mất, Anh Tề về
Lập hậu, xưng Đế đâu ngờ kẻ gian.
Tư thông kiếm lợi hai đàng
Cù bà vợ lẽ, ra màn cướp ngôi.
7. Triệu Ai vương:
Minh Vương khi đã mất rồi
Thái tử Hưng được lên ngôi trị vì.
Hán sai Thái Qúi tùy nghi
Cùng bà Thái hậu thị phi mập mờ.
Dụ con dâng nước, bán bờ
Hai bên chỉ đợi đến giờ nạp ra.
May nhờ Tể tướng Lữ Gia
Vạch mưu Cù Thái hậu và Ai Vương.
Người Nam đánh Hán kiên cường
Cho rằng vĩnh cữu, ai tường bại vong!
Quyển II
BẮC THUỘC THỜI ĐẠI
北屬時代
(111 tr. Tây lịch – 931 s. Tây lịch)
Chương I
BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
1. Chính trị nhà Tây Hán:
Vũ Đế chiếm Đại Việt xong
Đổi Giao Chỉ bộ mà hòng nuốt tươi.
Thái thú, Thứ sử trêu ngươi
Lạc hầu, Lạc tướng, chia người trực phiên.
Thạch Đái đóng phủ Long Yên
Là quan thứ sử trước tiên quận này.
Vương Mãng cướp Hán vào tay
Hai bên giáp chiến tử sinh
Hát Môn đẫm máu giấu hình Nữ Vương.
Trung lưu nữ kiệt can trường
Thua cơ Mã Viện, cùng đường nhảy sông.
Sông xanh nước chảy mênh mông
Ghi trang quốc sử muôn dòng tiếc thương.
Hồn thiêng phảng phất trong sương
Hát Giang sông sáng soi gương Hai Bà!
Ba năm một cõi sơn hà
Nghìn năm Bắc thuộc sao mà sánh qua!
Anh thư, lịch sử nước ta
Nữ vương chỉ có Hai Bà, chẳng ai!
Qúy Mão mồng sáu tháng hai
Hương hoa khói tỏa tạc đài ngợi ca!
Chương IIIBẮC THUỘC LẦN HAI (43-544)
I. NHÀ ĐÔNG HÁN:
1. Chính trị nhà Đông Hán:
Nhà Đông Hán trị dân ta
Tham tàn, hiếp đáp quả là Khuyển Ưng.
Người Giao Chỉ khổ vô chừng
Tìm vàng dưới biển, lên rừng kiếm châu.
2. Lý Tiến và Lý Cầm:
Nhân tài bị bỏ, còn đâu
Lý Cầm, Lý Tiến cùng nhau khẩn cầu.
Hán Minh Đế ngẫm lời tâu
Thăng quan chức hậu, nễ nhau mấy phần.
Trương Trọng đi sứ cầu thân
Lữ Đại - Thứ sử đứng đầu
Đem quân lấn chiếm chư hầu Cửu Chân.
2. Triệu Ẩu:
Giao Châu, Giao Chỉ tương phân
Thứ sử Lục Dận muôn phần ác tinh.
Mậu Thìn, Quốc Đạt khởi binh
Quân tôn nữ Triệu Thị Trinh đứng đầu.
Anh em bảo bọc cho nhau
Ai ngờ gặp phải chị dâu chẳng hiền.
Thị Trinh lập tức giết liền
Lên rừng mộ lính, múa quyền, cỡi voi.
Non nhà lửa bỏng, dầu sôi
Anh em Triệu Ẩu song đôi chém Kình.
Anh hùng, nữ tướng kiên trinh
Lục Dận lạc phách, hồn kinh lắm điều.
Theo mây về cõi tiêu diêu
Non sông tạc tiếng: "Nhụy Kiều tướng quân"!
“Tài trinh đệ nhất phu nhân
Bậc chính anh liệt nữ thần” tỉnh Thanh.
3. Nhà Ngô chia đất Giao Châu:
Nhà Ngô chặt cội, đẵng cành
Đem đất Nam Việt chia thành hai Châu.
Quảng Châu cùng với Giao Châu
Quan Tàu Thái thú thay nhau bạo tàn.
Dân gian loạn lạc, mới bàn
Giết quan Thái thú mà hàng Ngụy quân.
Giao Châu mục, có Đào Hoàng
Đầu Ngô, hàng Tấn để còn Giao Châu.
III. NHÀ TẤN (265-420)
1. Chính trị nhà Tấn:
Thấy Tàu nội loạn ra chi
Sai cống nhà Tống muốn vì Giao Châu.
Tống triều nào há chịu đâu
Họ Phạm kia mới hái dâu nhử tằm.
Hòa Chi, Tông Xác đã căm
Mang binh sang đánh, Phạm ngầm chạy mau.
Đàn Hòa Chi vội tóm thâu
Người vàng một tượng, báu châu chật nhà.
Gian tham chẳng đổi thật thà
Vàng kia cái lộng cũng là con dao.
Hòa Chi rớt chức, mất bào
Giao Châu Thứ sử lộn nhào, hỡi ôi!
3. Sự biến loạn ở đất Giao Châu:
Kỷ Mùi, nhà Tống mất ngôi
Nhà Tề kế nghiệp không thôi cướp giành.
Nhà Lương khởi sự máu tanh
Tiêu Tư tàn bạo lòng đành dửng dưng.
Chương IV
NHÀ TIỀN LÝ 前李 (544-602)
1. Lý Nam Đế (544-548):
Giao Châu thóc chín lưng chừng
Thân trâu, kiếp ngựa vang lừng trống khua.Ngoài biên, giặc Tống hơn thua
Bên trong, Lâm Ấp vào mùa phá ranh.
Bên Tàu, lưỡng thổ phân tranh
Tề vừa phế Tống, Lương thanh toán Tề.
Tham tàn thái thú, người ghê
Giết người, cướp của nên chăng
Mạng đi thay của họa rằng đã vương.
II. NHÀ ĐƯỜNG (618-907)
1. Chính trị nhà Đường:
Mậu Dần, Tùy mất bởi Đường
Tân Tỵ, Cao Tổ phô trương thế ngoài.
Cắt Đại tổng quản trông coi
Cùng việc cai trị coi mòi ở lâu.
Khâu Hòa quản đất Giao Châu
Ngang tàn, bạo ngược như nhau, một phường!
2. An Nam đô hộ phủ:
Nhà Tùy tiếp đến nhà Đường
Đời nào cũng vẫn coi thường Giao Châu.
Dân ta lệ thuộc vào Tàu
Mười hai mảnh đất chư hầu ngó nhau!
3. MAI HẮC ĐẾ (722)
Nhằm trừ giặc cướp nương dâu
Họ Mai một cõi Hoan Châu đứng đầu.
Nhỏ người, sức khỏe tựa trâu
Thúc Loan mặt mũi, mày râu đen sì!
Xưng vua Hắc Đế gây uy
Đánh nhau nổi tiếng gan lỳ tướng quân!
Anh hùng, thất thế sa chân
Họ Mai kia chốn phong trần, lánh xa.
4. Giặc bể:
Tân Tỵ có quân Đồ Bà
Ngoài bể vào phá với là Côn Lôn.
Ra vào cướp giật cô thôn
Quan Kinh lược đánh, hoảng hồn chạy nhanh.
Trương Bá Nghi xây La thành
Ta - Tàu nội loạn, sa trường tử thương.
III. ĐỜI NGŨ QÚY (907-959)
1. Tình thế nước Tàu:
Bên Tàu, Ngũ Quý phân vương:
Hậu Đường, Hán, Tấn, hậu Lương, ngũ vùng.
Hậu Chu: năm nước xưng hùng
Để Khúc Thừa Dụ được cùng tấn quan.
2. Họ Khúc dấy nghiệp:
Khúc Thừa Dụ (906-907)
Giao Châu, họ Khúc xây làng
Người giàu tốt bụng, không màng dã tâm.
3. Khúc Hạo (907-917):
Làm quan chỉ độ tròn năm
Trao quyền Khúc Hạo lo chăm nước nhà.
4. Khúc Thừa Mỹ (917-923):
Khúc Thừa Mỹ, nối nghiệp cha
Mất lòng phải vạ, họa nhà: Tù binh!
Khúc cha đại nghĩa thâm tình
Khúc con chính nghĩa thường tình bỏ đi!
5. Dương Diên Nghệ và Kiều Công Tiễn
(931-938)
Lý Khắc Chính ác ai bì
Nên Dương Diên Nghệ mới vì Khúc gia.
Đánh cho Lý Tiến chạy xa
Dạy cho Khắc Chính biết ta, biết mình!
Ai ngờ nội phản, tham sinh
Kiều Công Tiễn lại vong tình, giết đi!
Gian thần, lịch sử còn ghi:
Trong lo thí chúa, ngoài thì loạn tâm.
Ngô Quyền khởi nghiệp Đường Lâm
Thủy Hoàng đốt sách, máu tanh học trò!
Đời Cao Tổ, đạo thịnh to
Nhà Hán bớt khó nên cho mở trường.
Đạo nào mà có chủ trương:
Lập trường "Nhân-Nghĩa": Đạo đường Việt Nam.
3. Đạo Giáo:
''Vô tri, điềm tỉnh'', trừ tham
Không dùng "trí lực" mà cam khổ mình.
Đạo giáo triết học cao minh.
Tu tâm, trị nước mô hình "trường sinh".
Lý Đan nước Sở phát sinh
Làm dây Tầm gởi qua mình nhà Chu.
Quên chuyện tình, lo ''chuyên tu''
Cho mình "bất tử" mà đu với đời.
Trương Đạo Lăng, quả gặp thời
Tần, Đường, Hán mới tin lời viễn vong.
Đồng hành tiên thuật, hạnh thông
Hoàng Cân Trương Giác, Cát Hồng nối nhau.
Tử - Sinh vốn đã từ lâu
''Trường sinh" ai đã được đâu, phép màu?
4. Phật Giáo:
Đời người đầy ải khổ đau
"Sinh, lão, bệnh, tử'', nỗi sầu biến thiên.
Luân hồi kiếp bởi nhân duyên
Làm sao thoát được ưu phiền thế gian?
Đức Thích Ca đã không màng
Quên thân Thái tử, tìm đàng Phật ngay.
"Niết bàn" khi đã rũ tay
Bất sinh, bất diệt thành thầy Phật gia.
Bà-La-Môn, gốc Thích Ca
I.
1. Tiền Ngô Vương (939-944)
Ngô Quyền nối tiếp ngôi trời
Xưng Vương, Kỷ Hợi, sáng ngời Cổ Loa.
Sáu năm chỉnh đốn gần xa
Giáp Thìn, chèo chống sơn hà, hết duyên.
2. Dương Tam Kha: (945-950)
Tam Kha em vợ cướp quyền
Xưng Bình Vương phản, đời nguyền rủa không?
Non nhà ngập cảnh bão giông
Xương Ngập trốn ở Lịnh Công đợi thời.
3. Hậu Ngô Vương (950-965):
Xương Văn, em ruột thay lời
Giam cha nuôi - cậu, vạ trời tạm qua.
Người nhà, chẳng giết, nên tha
Truyền cho giáng chức còn là lệnh Công.
Cùng anh, trị quốc song song.
Hai Vua một nước theo dòng Hậu Ngô.
Anh em dựng lại cơ đồ
Như tình Trắc - Nhị cùng khô máu đào.
Hiềm rằng đại loạn gươm đao
Công Ngô Quyền đã rơi vào đáy sông!
II. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967)
Thổ hào Trần Lãm, Kiều Công
Thái Bình, Cảnh Thạc với dòng Nguyễn Khoan.
Lý Khuê, Nguyễn Siêu sống còn
Lữ Đường, Khánh, Thuận thủ đòn Tá Công.
Đằng Châu, Bạch Hổ, Phạm Phòng
Tranh ngôi, trở mặt, sanh lòng đánh nhau.
Chương II
Đời người dễ được trăm năm
Làm con giòi chết, tiếng tăm để đời!
Nam Việt Vương - Liễn, một thời
Lẫy lừng trận mạc, ngôi rơi mới cuồng.
Giết em cũng giống một tuồng
Bị người giết lại rặc khuôn sử Tàu.
Tội đồ Đỗ Thích trước sau
Đình thần bắt được chặt đầu, bệu thây.
Cùng ngày, Đinh Tuệ lên ngay
Nhiếp chính: Thái hậu cùng thầy họ Lê.
2. Phế Đế (979-980):
Nước nguy, vua bé, mập mờ
Lê Hoàn, Thái hậu đến giờ tự thông.
Vua - chồng chết cũng coi không
Xem ra chẳng phải là dòng chính chuyên!
Ai người dựng tích mà truyền
Khen Dương Thái hậu người hiền, thiện chân?!
Đinh Điền, Nguyễn Bặc trung thần
Can ngăn đổi chúa, vào phần thảm thê!
Vừa phiên Tống đế thừa cơ
Vua còn nhỏ dại, giương cờ xâm lăng.
Tướng quân họ Phạm bàn rằng:
- Ai luận thưởng, phạt? Chi bằng phế vua?
Dù trong, quả thật hơn, thua
Nhưng ngoài đánh giặc cần vua có tài.
Thái hậu có một không hai
Lột áo con mặc, chuyển ngai họ Hoàn!
Đinh Triều thế phổ cung son
Hai vua, mười bốn năm tròn phải cam!
Chương III
Hăm bốn năm Đế, thọ là sáu lăm.
Công lao xóa trắng lỗi lầm
Người dân Nam Việt rầm rầm ngợi ca.
Thanh danh lừng lẫy gần xa
Buồn thay! Cốt nhục toàn là bạo quân.
Anh lo đấm đá tưng bừng
Giành ngôi thể chẳng chưa từng đệ huynh!
5. Lê Trung Tông (1005):
Đăng cơ, thái tử vạ rình
Ba ngày tại vị, đầu mình... rớt êm!
Long Đĩnh ngày ác, dâm đêm
Giết em Long Việt, đã thèm thú riêng!
6. Lê Long Đỉnh (1005-1009):
Lê Ngọa Triều quả vua... điên
Ác bằng Kiệt, Trụ lại ghiền máu tanh.
Hành người khác, tính trời sanh
Tẩm rơm đốt sống đã thành trò chơi.
Đẵng cây, người té khơi khơi.
Đầu sư: Róc mía, vẽ vời xảy tay!
Giữa triều trò nhái, vua bày
Đem người bỏ sọt, ban ngày thả sông!
Vua nòi "khát máu, tanh dòng"
Ăn chơi trụy lạc, không lòng nghĩa nhân.
"Ngọa Triều" cho đáng tấm thân
Ngàn năm bia miệng hại dân, để lời.
Tiền Lê truyền dẫn ba đời
Hăm chín năm Đế, hết thời, công… toi!
Chương IV
NHÀ LÝ 李 (1010-1225)
I. LÝ THÁI TỔ (1010-1028)
Hoàng triều phải cảnh tai ương
Hoàng tử thì lại như phường bọ sâu.
Giữa triều, lấy nghĩa can nhau
Không nghe, Phụng Hiểu chém đầu Võ Vương!
Đông Chinh, Dực Thánh cùng đường
Hai vương rớt lại coi dường chịu thua.
Thương tình cốt nhục, nhà vua:
''Chức cũ không được hơn thua, hãy dùng''.
2. Sự đánh dẹp:
Nhà vua trước dẹp giặc Nùng
Sau bình Chiêm cũng là cùng giúp dân.
Thái Tông vốn thật từ nhân
Thứ tha Nùng Trí, nới chân kẻ thù.
Thương dân, tiếng để thiên thu
Người nào có tội được bù chuộc thân.
3. Giặc Nùng:
Trí Cao chẳng chịu yên phần
Xưng là Hoàng Đế mở dần Đại Nam.
Tám Châu chiếm lấy vì tham
Địch Thanh phá trận, Trí cam mất đầu.
4. Đánh Chiêm Thành:
Chiêm Thành quấy nhiễu từ lâu
Thái Tông ngự giá tiến sâu Phật thành.
Tướng Chiêm phản chúa đoạn đành
Chém đầu Sạ Đẩu để thành quốc vong.
Thái Tông trông thấy động lòng
Lệnh truyền các tướng chớ hòng giết dân.
Bắt vương phi với cung nhân