Viện Đại học Mở Hà Nội
Khoa Du Lịch
BÀI TẬP NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Mạnh Tùng
Thực hiện: Lớp A3K18
Năm 2010
ĐỀ TÀI : HỒ QUÝ LY............130
Người thực hiện: Trần Đình Hưng
............................130
Lớp: A3K18.....................................................................................................................................130
I.TIỂU SỬ ......................................................................................................................................130
Người thực hiện: Nguyễn Xuân Huy............................................................................................140
Lớp: A3K18.....................................................................................................................................140
I. TIỂU SỬ .........................................................................................................140
II. CUỘC ĐỜI .............................................................................................................................140
1.Gặp gỡ Nguyễn Trãi...................................................................................................................140
2.Vụ án Lệ Chi Viên.......................................................................................................................141
* Quan điểm của các sử gia.........................................................................................................141
* Trong văn học nghệ thuật.........................................................................................................143
3.Được lập miếu thờ....................................................................................................................143
4.Truyền thuyết rắn báo oán........................................................................................................143
ĐỀ TÀI: LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ
Người thực hiện: Lê Thị Ngọc Ánh
Lớp: A3K18
Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam luôn tự hào có một nền văn hiến lâu đời với hơn
4000 nghìn năm lịch sử hào hùng. Có được những trang sử hào hùng ấy là nhờ công lao của biết
bao thế hệ cha ông, tổ tiên và các bậc tiền nhân hào kiệt đã nối tiếp nhau thêu dệt nên. Đặc biệt
phải kể đến những trang sử vẻ vang của buổi đầu dựng nước khi khai thiên lập địa,đánh dấu sự
khởi đầu của đất nước ta, làm nên bước ngoặt cho lịch sử dân tộc Việt. Đó là trang sử về Lạc
Long Quân và Âu Cơ – về tổ tiên con dân nước Việt, về nguồn cội dòng giống dân tộc Việt và sự
Vương thứ nhất, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chia nước làm 15 bộ. Nơi
vua ở là bộ Văn Lang, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, tướng văn gọi
là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ chính, đời đời cha truyền con nối gọi là
Phụ đạo.Tương truyền đã truyền cho nhau 18 đời vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, trị vì đất nước
trong 2621 năm (từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN đến năm 258 TCN), trở thành tổ tiên của các tộc
người, dòng họ Việt Nam ngày nay.
Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là
người dựng nước, truyền nối được mười tám đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân
tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.
Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên lần đầu tiên được chép trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quái
của Trần Thế Pháp với tựa đề Hồng Bàng Thị.
Không đơn thuần chỉ phản ánh một nguồn cội con người, một giống nòi dân tộc, truyền thuyết
về Lạc Long Quân và Âu Cơ còn chứa đựng biết bao ý nghĩa sâu xa toát lên ở nhiều khía cạnh về
đất nước và con người Việt Nam: về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, tâm linh…
3
Câu chuyện thần thoại mà thấm đẫm ý nghĩa, giá trị lịch sử và nhân văn cao cả; ăn sâu vào nếp
nghĩ và tâm hồn người Việt.
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đánh dấu sự ra đời nhà nước đầu tiên của dân tộc ta,
quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô đóng ở Phong Châu (Phú Thọ), chia nước làm 15 bộ (bao gồm
:Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phú Lộc, Việt Thường, Cửu Đức, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục
Hải,Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, nơi vua ở là bộ Văn Lang ) đều là đất
thần thuộc của Hùng Vương. Nhà nước Văn Lang từ khi thành lập đã là một nhà nước độc lập, tự
chủ, có bờ cõi, lãnh thổ riêng, có tổ chức chính trị riêng, được phân công quản lí rõ ràng , đứng
đầu là vua Hùng.
Qua câu chuyện, chúng ta có thể thấy sự hình thành nhiều tập tục trong đời sống sinh hoạt, sản
xuất và văn hóa có giá trị sâu sắc còn lưu truyền đến ngày nay như: Làm nhà sàn, trồng lúa nếp,
thổi cơm lam, tục vẽ mình, vẽ mắt thuyền khi ra khơi đánh bắt…Nhân dân biết giúp đỡ nhau , dựa
vào nhau cùng chung sống.
Với sức mạnh phi thường của Lạc Long Quân, chàng đã cứu giúp nhân dân khỏi 3 hoạn lớn.
Những địa danh nổi tiếng như: núi Cẩu Đầu Sơn, Cẩu Đầu Thủy, đảo Bạch Long Vĩ đã được hình
Lạc Việt. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương; tiếp theo là
1000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử; tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ về
cội nguồn. Ngày giỗ Tổ 10 – 3 là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc
Việt. Dù đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày giỗ tổ hang ba mùng mười
Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ mãi mãi trường tồn với non nước, con người Việt
Nam. Nó không những trở thành một ý niệm thiêng liêng, lòng tự hào , tự tôn dân tộc của nhân
dân Việt Nam, mà còn là một biểu tượng cao đẹp của dân tộc Việt Nam mà bạn bè khắp năm
châu luôn ngưỡng mộ.
Câu chuyện thuở xưa còn gìn giữ đến ngày nay đã phản ánh rất sinh động linh hồn người
Việt, xứng đáng mang một tầm vóc lịch sử quốc gia của một dân tộc anh hùng.
5
ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG BÁNH DÀY
Người thực hiện: Đặng Tuấn Anh
Lớp: A3K18
Trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, bánh chưng là món ăn truyền thồng nhằm thể
hiện lòng biết ơn của con cháu với cha ông và trời đất, xứ sở. Nó có nguồn gốc từ thời vua Hùng
thứ VI. Bánh chưng song hành cùng lịch sử dân tộc và trở thành biểu tượng của ngày Tết cổ
truyền Việt Nam.
Bánh chưng được gói từ lá dong với thịt lợn, đỗ xanh, gạo nếp. Bánh được làm vào các dịp Tết
Nguyên Đán và ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 Âm lịch). Dịp Tết ngày nay ít thấy
cảnh các bà các chị tất bật chuẩn bị làm bánh chưng, nào rửa lá dong, nào ngâm gạo hay đãi đỗ,
cảnh trẻ con háo hức xem bố mẹ gói bánh, cảnh già trẻ lớn bé ngồi quây quần bên bếp lửa nấu
bánh chưng, mặc cho ngoài trời sương lạnh giá. Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng là niềm hân
hoan của ngày Tết sum vầy, đoàn tụ. Những chiếc bánh đẹp, đầy đặn, vuông vức được dành riêng
để cúng Tổ tiên. Bánh chưng vẫn nhắc nhở con cháu ngàn đời về truyền thống dân tộc. Ngày nay,
nguyên liệu làm bánh chưng vẫn vậy, vẫn gạo nếp, lá dong, thịt mỡ, đỗ xanh. Bánh muốn ngon thì
phải chuẩn bị nguyên liệu thật kĩ: gạo ngâm đãi thật kĩ,đậu xanh đồ vừa chín tới, thịt phải có cả
ăn quý. Mỗi khi dùng, người ta xắt bánh ra thành miếng nhỏ, rồi nướng phồng trên bếp than như
bánh tổ
Dáng vuông của bánh chưng, dáng tròn của bánh dày đã thể hiện vũ trụ quan của người Việt
cổ. Hình tròn tượng trưng cho bầu trời,hình vuông tượng trưng cho mặt đất.Người xưa đã khéo léo
lựa chọn hai sản vật thật đặc biệt dâng lên trời đất, dâng lên tổ tiên. Hai thứ bánh này cũng thể
hiện sụ tương giao hòa hợp của hai hình thể "rỗng" và "đặc", "vuông" và "tròn"- tuy tương khắc
nhau như "trời" và "đất", "đàn ông" và "đàn bà" nhưng phải kết giao với nhau, tạo nên vạn vật.
"Lễ vuông tròn" của bánh chưng - bánh dày thể hiện tình cảm gắn bó thủy chung của vợ chồng,
giống như câu thơ của Nguyễn Du:
"Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông."
Bánh chưng - bánh dày đã trở thành món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam. Qua hàng
ngàn năm,bánh chưng-bánh dày vẫn trường tồn,vẫn cách làm ấy,vẫn nguyên liệu ấy, vẫn hương vị
ấy... Bánh chưng-bánh dày thể hiện truyền thống quý báu của nhân dân ta. Đặc biệt,chiếc bánh
chưng là tín hiệu của ngày Tết,là biểu tượng của sum họp,đoàn tụ,là món ăn không thể thiếu trong
mâm cỗ ngày Tết:
"Thịt mỡ,dưa hành,câu đối đỏ,
Cây nêu,tràng pháo,bánh chưng xanh."
7
ĐỀ TÀI: NỮ TƯỚNG LÊ CHÂN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Mai Anh
Lớp A3K18
Nữ tướng Lê Chân không chỉ là niềm tự hào của người dân Hải Phòng nói riêng mà còn là
niềm tự hào của dân tộc ta đặc biệt là đối với người phụ nữ Việt Nam.
I. TIỂU SỬ
Về nữ tướng Lê Chân hiện nay không rõ cụ thể
năm sinh năm mất, chỉ biết bà xuất thân trong một gia
đình có truyền thống dạy học và chữa bệnh. Cha bà là
Lê Đạo nổi tiếng là ngươi nhân đức luôn sẵn lòng giúp
đỡ những người dân nghèo khổ. Mẹ bà là Trần Thị
Quảng Ninh và Hải Phòng ngày nay tiếp tục trấn giữ vùng trọng yếu phía đông Tổ quốc. Nàng đã
động viên khuyến khích nhân dân trong vùng chịu khó chăm lo sản xuất, tiếp tục khai khẩn đất
hoang biến nơi đây thành một vùng đất thực sự giàu có, trù phú, ấm no. Bà đặt tên cho nơi đây là
An Biên trang để tưởng nhớ về quê cũ. Học theo công đức người cha, Lê Chân thường xuyên giúp
đỡ chữa bệnh cứu ngươi. Có truyền thuyết cho rằng Lê Chân được phong là “Thánh Chân công
chúa” chuyên lo việc tiếp quản binh quyền, huấn luyện binh sĩ .
Có thể coi thời đại Hai Bà Trưng là chính quyền phong kiến đầu tiên của nước ta dù còn sơ
khai. Chính quyền này kéo dài đến năm 40 TCN, vua Hán đã sai tướng giỏi của hắn là Mã Viện
cầm quân sang đàn áp Hai Bà Trưng. Một lần nữa hai bà lại chiến đấu vô cùng quả cảm, nhưng
cảm thấy sự chênh lệch lớn về lực lượng, biết không thể thắng nổi quân giặc, Hai Bà đã trầm mình
tự vẫn ở dòng sông Hát, tuy nhiên đây mới chỉ là một trong số những giả thuyết về cái chết của
hai bà. Về phía Lê Chân bà cũng mất vào cùng năm đó nhưng xoay quanh cái chết của bà còn tồn
tại nhiều truyền thuyết:
• Có thế bà đã trầm mình tự vẫn cùng các Trưng Vương.
• Hoặc bà đã chiến đấu vô cùng anh dũng tại sông Bạch Đằng nhưng sau đó buộc phải rút về
Mai Động Hà Nội ngày nay và hy sinh tại đó.
• Giả thuyết thứ 3 là bà đã trầm mình tự vẫn hoăc hy sinh anh dũng tại vùng núi Kim Bảng.
III. TƯỞNG NHỚ
Tưởng nhớ đến công lao của bà, người dân Hải Phòng đã lập đền thờ bà. Hiên nay Đền Nghè
là ngôi đền tiêu biểu nhất thờ nữ tướng Lê Chân. Lúc đầu, đền thờ chỉ là một gian miếu nhỏ, mái
lợp gianh. Từ sau năm 1919, đền Nghè mới được xây dựng khang trang như hiện nay. Năm 1919
tòa Hậu Cung của đền được xây dựng. Năm 1925 tòa Hậu cung được trùng tu đến năm 1926 tòa
Tiền Bái được xây dựng. Hiện nay Đền có 2 nhà chính - Tiền tế và Hậu cung. Giữa Tiền tế và
Hậu cung là nhà Thiên Hương 2 tầng, mái tâm đầu đao. Trong toà hậu cung đặt tượng bà Lê
Chân, hai bên là tượng song thân của bà .
Đến thăm Đền Nghè, quí khách thường chú ý đến 2 vật tích độc đáo– đó là Khánh đá và Sập
đá. Khánh làm bằng một tấm đá nguyên dày 5cm được tách ra thành hình chiếc khánh (có chiều
cao 1m, rộng 1,6m). Mặt trước khánh khắc nổi 2 con rồng chầu mặt nguyệt và hình mây bay xung
9
quanh. Mặt sau khánh khắc hình mây bay và sóng nước cả hai mặt có 2 núm tròn, lồi cao là chỗ
những lễ nghi truyền thống, là các cuộc đấu vật diễn ra ở Đồng Vật. Tục truyền đây là nơi nữ
tướng Lê Chân từng luyện võ vật cho trai gái làng thuở đó. Hội vật làng Mai Động đến nay vẫn
được duy trì và tổ chức trong ngày hội làng .
Gần 96 Mê Linh Hải Phòng còn có một ngôi Đền nhỏ thờ nữ tướng Lê Chân của con cháu
dòng họ Lê nhưng được rất ít người biết đến.
10
Có thể nói nũ tướng Lê Chân là một niềm tự hào không chỉ của riêng người dân Hải Phòng.
Hy vọng rằng, trong một tương lai không xa những ngôi đền thờ vị nữ tướng miền biển này sẽ trở
thành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế
11
ĐỀ TÀI: THÁNH GIÓNG
Người thực hiện: Vũ Hồng Anh
Lớp: A3K18
Thánh Gióng hay gọi là Phù Đổng Thiên Vương hay Xung Thiên Thần Vương, là một trong
bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Tứ bất tử). Người có công dẹp giặc Ân
đem lại thái bình cho đất nước.
I. TRUYỀN THUYẾT
Truyền thuyết kể rằng: Ông sinh ra tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, thời vua
Hùng thứ 6. Thánh Gióng là người "trời" đầu thai làm đứa trẻ tuy lên ba mà không biết nói cười,
đi đứng. Nhưng khi có bộ tộc khác (truyền thuyết ghi là giặc Ân) tràn xuống thì cất tiếng gọi mẹ
nhờ ra gọi sứ giả của nhà vua, rồi bỗng chốc vươn vai thành một thanh niên cường tráng đi đánh
giặc. Sau khi đánh tan giặc Ân, ông bay về trời. Nơi ông hóa chính là núi Sóc thuộc huyện Sóc
Sơn, Hà Nội.
Trong trận chiến với nhà Ân Thánh Gióng cùng chiến đấu với Thánh Hùng Linh Công, cả hai
cùng hợp binh lại đánh một trận quyết định ở chân núi An Vũ Ninh Sơn. Hùng Linh Công là cháu
ruột Vua Hùng, một danh tướng thuộc đời Hùng Vương thứ sáu (1718 - 1631 TCN), ông được vua
trao cho kim đao và 3 vạn binh mã đi tiên phong cùng với Thánh Gióng đánh tan giặc Ân. Ông
được vua Hùng giao cho cai quản xứ Kinh Bắc, ông cũng có công trừ hổ để giữ cuộc sống an bình
cho dân. Ông sinh ra và mất trên đất Hiệp Hòa, Bắc Giang và được thờ ở Đền IA khoảng 3700
năm nay. Thánh Gióng thể hiện tinh thần và sức mạnh của người Việt trong đấu tranh chống ngoại
của các nhà khoa học. Gần đây Tiến sỹ Hán học Cung Khắc Lược và Tiến sĩ Lương Văn Kế đã
công bố những phát hiện mới về nguồn gốc Thánh Gióng. Những công bố này được căn cứ vào
một bản thần phả của đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội). Theo thần phả thì
Thánh Gióng có họ Đổng, xuất thân rõ ràng, có cha, có mẹ. Đặc biệt, dòng họ Đổng nổi tiếng với
những chiến công trị thủy, giúp nước cứu dân. Những phát hiện này đã mở rộng thêm tư liệu cho
vị thánh, mang đến những phát hiện thú vị, chân thực hơn.
Nếu ai đã từng đến với hội Gióng hẳn không thể nào bỏ qua được những điệu hát, những tích
truyện và những giá trị văn hóa lưu truyền đến ngày nay. Hội Gióng chứa đựng những giá trị văn
hóa dân tộc. Do đó Hội Gióng xứng đáng được bình chọn là Di sản Văn hóa Phi vật thể của toàn
nhân loại.
Việc Hội Gióng đựợc công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại có ý nghĩa rất
lớn đối với người dân Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung.
Để bày tỏ tấm lòng thành kính với vị thánh bất tử này, vào ngày 21-9, tại Hà Nội, Trung ương
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (TƯGHPGVN) đã tổ chức họp báo công bố tiến độ xây dựng tượng
đài Thánh Gióng, chương trình Lễ khai quang yên vị - hô thần nhập tượng và cầu nguyện quốc
thái dân an. Vào lúc 21h 30 ngày 26/9, tại đỉnh núi Đá Chồng thuộc khu di tích đền Sóc, xã Phù
Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ Khai quang yên vị - Hô
thần nhập tượng Đức Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương. Đây là công trình trọng điểm kỷ
niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Thánh Gióng là vị Thánh lớn nhất trong hàng “Tứ
13
bất tử” biểu tượng tinh thần quật khởi ý chí vươn lên triệu người như một, biểu tượng tinh thần
“Từ bi bác ái”, “Công thành thần thoái” của dân tộc Việt Nam. Có thể nói Thánh Gióng là một
trong những vị thần tồn tại mãi mãi, trường cửu trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của dân tộc
Việt Nam ngàn đời.
ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU
14
Người thực hiện: Bùi Thị Kim Anh
Lớp: A3K18
Mỗi khi thưởng thức trái dưa hấu ngon ngọt, thơm mát, chắc hẳn ai cũng đã một lần được
nghe kể về “Sự tích dưa hấu” và chàng Mai An Tiêm – người đã có công phát hiện, gieo trồng trái
15
Kể từ đó, nước Văn Lang có thêm loại dưa hấu đỏ, đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn
ngày nay.
Ngoài ra vẫn còn nhiều dị bản về Mai An Tiêm, trong đó tôi xin đưa ra một dị bản mà bạn đọc
có thể tham khảo: Chuyện “dưa hấu” trong “Lĩnh Nam chích quái”.
II. Ý NGHĨA
Cũng như nhiều truyền thuyết khác kể về thời dựng nước của các vua Hùng, truyện "Sự tích
dưa hấu" giải thích thêm nguồn gốc một sản vật quý của đất nước cũng xuất hiện ở thời Hùng
Vương. Câu chuyện còn minh họa cho tục ngữ của người Việt đúc kết kinh nghiệm sống. Câu
chuyện có thể là một chứng tích mở đầu cuộc phiêu lưu trên biển đầu tiên của người Việt cổ, với
những chi tiết phong phú, sống động. Câu chuyện còn mang ý nghĩa ca ngợi ý chí vươn lên của
con người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào (gia đình An Tiêm trên đảo hoang), tinh thần đoàn
kết, giúp đỡ lẫn nhau của cư dân đất Việt (bà con hàng xóm giúp đỡ gia đình An Tiêm). Đồng
thời, đề cao tình cảm gia đình khăng khít bền chặt, càng thêm cảm phục người phụ nữ Việt Nam
qua hình ảnh nàng Ba - người phụ nữ : có tấm lòng thuỷ chung son sắt, hiền hậu, đảm đang, chăm
chỉ, tháo vát, yêu thương chồng con…
Bên cạnh cái mẫu chung: Mai An Tiêm và sự tích Quả dưa hấu cũng chỉ là truyền thuyết, là
truyện dân gian như ngàn vạn câu chuyện dân gian và sự tích khác, thì ở đây nó còn có một đặc
trưng rất riêng, đó là vì nó gắn với mảnh đất, ngọn núi Mai An Tiêm, tên người và một dòng họ
Mai có thực. Mảnh đất Nga Sơn được biểu tượng như thánh địa của dòng họ này. Trong tất cả các
dòng họ đang hiện hữu ở Việt Nam thì có lẽ dòng họ Mai có một niềm tự hào lớn nhất, vì theo
truyền thuyết thì đây là dòng họ có nguồn gốc từ Vua Hùng. Mai An Tiêm là con trai vua Hùng.
Các dòng họ lớn như Ngô, Đinh, Lí, Trần, Lê, Nguyễn... đồ sộ hoành tráng gắn với lịch sử dựng
nước oai hùng của dân tộc, với những tài năng trác tuyệt là vậy mà cũng chưa có được minh
chứng là trực hệ của vua Hùng, dù chỉ là truyền thuyết. Nó vừa là truyền thuyết, vừa là dã sử, lại
cũng vừa là hình bóng của lịch sử. Từ chính truyền thuyết, người xưa đã cung cấp cho chúng ta
những cứ liệu tham chiếu về một thời đại rất đáng quan tâm: Thời đại Hồng Bàng - Nhà nước
Văn Lang của các Vua Hùng.
Truyền thuyết là của dân gian tạo ra, truyền đời này qua đời khác, ai muốn cảm nhận nó theo
góc độ nào tuỳ ý. Mọi người Việt Nam đều có chung quyền lợi thụ hưởng tinh hoa và cùng nhau
Là một loại quả có hình dáng khá đẹp, đối với những người phụ nữ khéo tay thì dưa hấu rất
thích hợp dùng để trang trí. Tuy nhiên để trang trí được một quả dưa đẹp còn phụ thuộc nhiều vào
sự khéo léo, tỉ mỉ và cả tấm lòng người khắc. Ngoài ra, dưa hấu còn được dùng tươi tráng miệng
sau bữa ăn và giải khát chống nhiệt. Đặc biệt, vào những ngày nắng nóng, đối với những người
làm việc mệt nhọc hoặc đi đường xa khát nước, một vài miếng dưa hấu cũng đủ làm bớt mệt, đỡ
khát, sảng khoái, dễ chịu. Không chỉ là một loại quả may mắn bày trên mâm ngũ quả ngày Tết,
món quả giải khát tuyệt vời ấy còn là một vị thuốc thanh nhiệt, tiêu khát, giải độc rất hiệu quả.
Thật là một sản vật quý hiếm của tạo hoá.
ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH TRẦU CAU
17
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan Anh
Lớp: A3K18
Ngày nay, qua nhiều sách vở và các tài liệu khảo cổ, người ta được biết trầu cau là hai loại cây
đã xuất hiện rất lâu đời ở vùng Trung Ấn, Đông Nam Á và ở một số quần đảo trên Thái Bình
Dương. Có lẽ người xưa, do kinh nghiệm mà có, đã biết sử dụng vôi, trầu, cau, cũng như các loại
lá, rễ, quả của nhiều thứ cây khác tìm được để bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa hay trị bệnh. Quả
thực, ăn trầu đã giúp cho cơ thể được ấm nóng chống lạnh, chống sơn lam thủy khí; ăn trầu lại
sạch miệng, răng lợi và xương cốt được bồi dưỡng, vững mạnh.
Trong sự tích Trầu Cau, ta thấy tác giả muốn giải thích cho mọi người hiểu rằng, dân tộc ta đã
có một đời sống văn hoá khá cao ngay từ thuở xa xưa, từ thời Hùng Vương kia.
Ngay từ thuở đó, xã hội Việt Nam đã có truyền thống lấy gia đình làm gốc, anh em biết
thương quí nhau, trên kính dưới nhường; vợ chồng lấy nhau vì tình nghĩa, và người đàn bà đã biết
trọn niềm chung thuỷ, son sắt với chồng…. Không phải đợi đến khi người Trung Hoa sang đô hộ
nước ta, dân ta mới biết thế nào là hiếu đễ, thế nào là tiết nghĩa. Và cũng vì Sự tích Trầu Cau có ý
nghĩa sâu sắc như thế nên tục ăn trầu của dân ta đã được thăng hoa, trở thành một mỹ tục mang
tính chất đặc thù của một nền văn minh cổ Đông Nam Á.
I. TRẦU CAU NƠI QUÊ HƯƠNG
Với chúng ta, hình ảnh những hang cau thẳng tắp, cao vút cùng hình ảnh những giàn trầu
không xanh rờn với những chiếc lá to bằng bàn tay, có hình trái tim duyên dáng nơi góc vườn,…
đều là những hình ảnh thân quen đãin sâu vào kí ức của nhiều người. Ngày nay chúng đã trở thành
• Lễ Thỉnh kì: xin định ngày cưới
• Lễ Nạp tệ: tệ là lụa, nghĩa là đem lụa hay phẩm vật quí đến nhà gái, nói chung là đem đồ
sính lễ đến nhà gái trong ngày cưới.
• Lễ Thân nghênh: lễ đón dâu.
Sáu lễ kể trên về sau ta giảm xuống còn ba là lễ Sơ vấn ( chạm ngõ) , lễ Vấn danh (ăn hỏi) và
lễ Thân nghênh (đón dâu). Nghi thức cũng đã được thây đổi phần nào cho hợp với phong cách
Việt Nam. Theo phong tục của nước ta thì cả ba lễ này, trầu cau đều là lễ vật căn bản.
V. PHONG TỤC ĂN TRẦU
Tự bao giờ, trầu cau đã gắn liền với đời sống của người Việt. Trầu cau dùng để tiếp khách
hàng ngày như bát nước chè xanh, như điếu thuốc lào, trầu có mặt trong mỗi cuộc vui, buồn của
làng quê, trầu trong các buổi lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ thọ, lễ mừng.... Trầu cau còn là quà
tặng, là sính lễ trong đám hỏi, trầu thay thiệp báo, thiệp mời trước ngày hôn lễ. Miếng trầu tuy đơn
giản nhưng mang bao ý nghĩa sâu đậm trong đời sống văn hóa của người Việt Nam…
Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện nét văn hóa độc đáo của dân tộc. Miếng trầu chứa
đựng nhiều tình cảm, nhiều ý nghĩa thiêng liêng, gắn bó thân thiết trong tâm hồn mỗi người.
Trong mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay và có lẽ là mãi mãi, trầu cau luôn hiện diện trong
19
đời sống các dân tộc Việt Nam và các dân tộc châu Á. Dù giàu nghèo ai cũng có thể có, miếng
trầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám, bổ tư quyện vào rễ vỏ chay đỏ luôn là sự bắt đầu, sự
khơi mở tình cảm. Dân gian có câu "Miếng trầu là đầu câu chuyện", miếng trầu đi đôi với lời
chào, lời thăm hỏi hay làm quen.
Đối với các nam nữ thanh niên nam nữ xưa kia thì miếng trầu là nguyên cớ để bắt đầu một
tình yêu, một cuộc hôn nhân - "Miếng trầu nên dâu nhà người". Trong việc cưới, hỏi nhận lễ vật
trầu cau là đồng nghĩa với việc nhận lời cầu hôn, là giao ước giữa hai họ. Đó là một nghi thức độc
đáo của người Việt.
Trong hôn nhân, trầu cau có một vai trò quan trọng. Tuy chỉ "Ba đồng một mớ trầu cay"
nhưng "Miếng trầu nên dâu nhà người". Trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng - vị thần của
hôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu. Người ta xem buồng cau có đẹp không,
cuống lá trầu có tươi không mà ước đoán được rằng đôi lứa ấy có đẹp duyên không.
Miếng trầu nồng thắm luôn có mặt trong hôn lễ là sự khơi gợi, nhắc nhở mọi người hướng về
Trầu là món ăn không giải quyết việc đói, no. Người ta ăn trầu là để thưởng thức vị cay thơm
của lá trầu không, vị chát của vỏ, vị ngọt bùi của cau, vị nồng nàn của vôi... tất cả hòa quyện với
nhau trong một màu đỏ sẫm. Nhiều người ăn trầu đã thành thói quen, rồi thành nghiện-nghiện
trầu. Nhưng điều kì diệu của thói nghiện trầu phải chăng là ở chỗ, người ăn thấy nó gắn bó với số
phận con người, bởi tách riêng, thì cay đắng, éo le, nhưng khi đã hòa chung thì tình cảm của họ lại
thắm tươi, đẹp đẽ.
Nói đến trầu têm cánh phượng là nói đến miếng trầu vùng Kinh Bắc. Cũng vẫn nguyên liệu ấy,
nhưng cách têm đẹp, kiểu cách, đã thể hiện sự khéo léo của những liền chị-người gái quê Kinh
Bắc. Vì thế, miếng trầu có sức hấp dẫn đặc biệt và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, dù chỉ
một lần được mời.
Ngày nay không còn nhiều người Việt ăn trầu nữa nhưng nó đã trở thành một nét văn hóa, một
tập tục không thể thiếu được trong các nghi lễ thường thức của nhân dân. Miếng trầu vẫn là hình
ảnh đầu tiên của một tiệc cưởi hỏi. Người ta trao nhau miếng trầu để dễ bắt nhịp vào câu chuyện,
để mong một khởi đầu thành ý, thuận lợi.
21
ĐỀ TÀI: SỰ TÍCH MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY
Người thực hiện: Đàm Thị Lan Anh
Lớp: A3K18
I. SỰ TÍCH
An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây mãi vẫn đổ, nhờ có Rùa Vàng giúp mới xây xong.
Rùa cho nhà vua lẫy nỏ, nhờ đó mà đánh bại quân xâm lược Triệu Đà. Triệu Đà cầu hoà, cho con
trai Trọng Thuỷ sang kết thân với Mị Châu, con gái An Dương Vương và ở rể trong thành Cổ Loa.
Trọng Thuỷ ăn cắp lẫy nỏ, Triệu Đà liền cử quân sang tái xâm lược Âu Lạc. An Dương Vương
thua trận, đem theo Mị Châu chạy trốn. Đến bờ biển, Rùa Vàng hiện lên kết tội Mị Châu, vua
chém đầu con gái rồi đi xuống biển. Trọng Thuỷ tiếc Mị Châu, tự vẫn ở giếng trong thành. Mị
Châu chết, máu thành ngọc trai, xác thành ngọc thạch, ngọc đem rửa nước giếng trong thành thì
sáng hơn.
II. Ý NGHĨA
Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng thuỷ là một trong những truyền thuyết tiêu
biểu hấp dẫn và có ý nghĩa nhất trong chuỗi truyền thuyết về Âu Lạc và An Dương Vương trong
Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ vẫn mãi là một câu chuyện, một bài học lớn lao về bi kịch mất
nước và bi kịch tình yêu đã từng diễn ra trong lịch sử. Truyền thuyết ấy sẽ còn tiếp tục được kể
cho muôn thế hệ con cháu đời sau để cùng nhau khắc cốt, ghi tâm, lời căn dặn cảnh giác trước kẻ
thù để bảo vệ quê hương đất nước, bảo vệ quyền độc lập thiêng liêng và hạnh phúc của mỗi gia
đình .
Tuy đây chỉ là một truyền thuyết nhưng là một bài học cảnh giác cho con cháu đời sau trong
quá trình xây dựng đất nước. Câu chuyện đó cũng có thể phán quyết bằng những quy định của
pháp luật ngày nay. Từ nội dung câu chuyện trên đây, chiếu theo những quy định của pháp luật
ngày nay ta có thể định tội danh cho từng người. Trọng Thuỷ sẽ bị truy tố về Tội gián điệp theo
khoản 1 Điều 80 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 điều này quy định: Người nào có một trong các hành
vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Theo luật
ngày nay, nàng Mị Châu cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vô ý làm lộ bí mật Nhà
nước theo Điều 264 BLHS. 1. Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất tài liệu bí mật
nhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 2.
Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Vì sự ngây thơ của
nàng mà mất nước, do vậy nàng sẽ bị truy tố theo khoản 2 và hình phạt cao nhất có thể lên tới 7
năm tù.
Thông điệp về văn hoá, nhất là văn hoá ứng xử của người Việt mà cha ông ta gửi gắm trong
tác phẩm khiến chúng ta lấy đó làm tự hào. Thông điệp đó cứ lung linh như viên ngọc được giấu
kín trong từng câu chữ, như một mạch nước ngầm trong mát nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ độc
giả.
23
III. TƯỞNG NHỚ
Thành Cổ Loa gắn liền với những truyền thuyết kỳ thú của dân tộc Việt, về việc vua An
Dương Vương định đô, xây thành; về chiếc nỏ thần Kim Quy bắn một phát hạ hàng trăm tên giặc;
về mối tình bi thương và cảm động của Mị Châu - Trọng Thuỷ... Từ bao đời nay, ngôi thành cổ
này cùng với những nhân vật lịch sử được huyền thoại hoá đã đi vào tiềm thức của người dân Việt
Nam.
Đây là toà thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục Phán An Dương Vương xây từ thế
kỷ thứ III trước Công nguyên để làm kinh đô nước Âu Lạc, nay thuộc huyện Ðông Anh, ngoại