Bài soạn Các dịch của cơ thể - Pdf 83

CÁC DỊCH KHÁC CỦA CƠ THỂ
1. DỊCH NỘI BÀO VÀ DỊCH GIAN BÀO
Một cơ thể trưởng thành, bình thường có khoảng 25 lít dịch nằm trong các tế bào (chiếm 45%
trọng lượng cơ thể), gọi là dịch nội bào, có khoảng 9 lít dịch nằm xung quanh các tế bào, thuộc
tổ chức gian bào (chiếm 15% trọng lượng cơ thể), gọi là dịch gian bào. Dịch gian bào là môi
trường sống của tế bào nên còn được gọi là ngoại môi của tế bào. Thành phần các chất của dịch
nội bào và gian bào là:
Các chất và chỉ số Dịch nội bào Dịch gian bào
Na
+
10 mEq/l 142 mEq/l
K
+
140 mEq/l 4 mEq/l
Ca
++
0,0001 mEq/l 2,4 mEq/l
Mg
++
58 mEq/l 1,2 mEq/l
Cl
-
4 mEq/l 103 mEq/l
HCO
3
-
10 mEq/l 28 mEq/l
PO
4
3-
75 mEq/l 4 mEq/l

trung gian vô cùng quan trọng giữa dịch nội bào và huyết tương.
1.1. Sự trao đổi nước giữa huyết tương và dịch gian bào.
Sự trao đổi nước và các chất hoà tan trong nước giữa huyết tương và gian bào phụ thuộc vào:
áp lực keo và áp lực thuỷ tĩnh giữa hai khu vực này. Thành mao mạch là một màng bán thấm
ngăn cách huyết tương và gian bào
- Tại mao động mạch:
Áp lực máu mao mạch( áp lực thuỷ tĩnh) : 30 mmg Hg
Áp lực keo của huyết tương : 28 mmg Hg
Áp lực thuỷ tĩnh dịch gian bào :-3 mmg Hg
Áp lục keo của dịch gian bào : 8 mmg Hg
Áp lực lọc là : ( 30-28 ) +( 3+ 8 ) = 13 mmg Hg
-Tại giữa mao động mạch và mao tĩnh mạch:
Áp lực thuỷ tĩnh máu mao mạch : 17 mmg Hg
Áp lực keo của huyết tương : 28 mmg Hg
Áp lực thuỷ tĩnh dịch gian bào : -3 mmg Hg
Áp lực keo của dịch gian bào : 8 mmg Hg
Áp lực lọc là : (17 - 28 ) + ( 3 = 8 ) = 0 mmg Hg
- Tại mao tĩnh mạch:
Áp lực thuỷ tĩnh máu mao mạch : 10mmg Hg
Áp lực keo của huyết tương : 28mmg Hg
Áp lực thuỷ tĩnh dịch gian bào : -3 mmg Hg
Áp lực keo của dịch gian bào : 8 mmg Hg
Áp lực lọc là : (10 - 28 ) + ( 3 + 8 ) = -7 mmg Hg
trong nước bị lọc sang dịch gian bào với 1 lực là 13 Qua đây ta nhận thấy rằng tại mao động
mạch: nước và các chất hoà tan mmHg, tại vùng giữa mao mạch gần như không có hiện tượng
lọc, còn tại mao tĩnh mạch: nước và các chất hoà tan trong nước bị tái hấp thu trở lại máu với
một lực lọc là - 7mmHg. Áp lực tái hấp thu nhỏ hơn nhiều so với áp lực lọc nhưng vẫn có khả
năng đưa 9/10 lượng dịch bị lọc ra trở lại mạch vì số lượng mao tĩnh mạch bao giờ cũng nhiều
hơn và có tính thấm cao hơn mao động mạch. 1/10 lượng dịch còn lại sẽ đi theo mao mạch bạch
huyết.

thì áp lực gel gian bào bằng 0. áp suất gel gian bào đóng vai trò chống lại “dịch tự do” (chống
phù nề).
Compliance dịch gian bào là một cái van điều chỉnh sự trao đổi dịch thể giữa máu và mô. Nếu
thể tích máu tăng thì dịch được vào khoảng gian bào, nếu thể tích máu giảm thì dịch từ khoảng
gian bào vào máu. Đương nhiên giới hạn điều hoà này chỉ là 30% thể tích dịch gian bào
(khoảng 2 - 2,5l). Vượt quá giới hạn này cơ thể sẽ không tự điều chỉnh được; hoặc là bị phù nề
hoặc là bị mất nước.
2. DỊCH BẠCH HUYẾT
2.1. Thành phần và số lượng dịch bạch huyết.
Dịch bạch huyết là dịch lưu thông trong hệ bạch huyết. Dịch này là dịch khoảng gian bào vào
hệ thống bạch huyết. Một phần lớn rất quan trọng của dịch bạch huyết xuất phát từ mao bạch
mạch của mao tràng. Từ đây bạch huyết được gom vào các hạch bạch huyết, rồi đổ vào bể
Pecquet, sau đó theo ống ngực, đổ vào tĩnh mạch dưới đòn trái, về tĩnh mạch chủ trên, rồi đổ
vào tâm nhĩ phải.
Có khoảng 2/ 3 tổng số dịch bạch huyết là xuất phát từ hệ thống bạch mạch của gan và của
ruột. Còn 1/3 tổng số dịch bạch huyết là xuất phát từ hệ thống bạch huyết khác của cơ thể. Bản
chất của dịch bạch huyết là dịch gian bào nên hàm lượng các chất có trong dịch bạch huyết gần
giống dịch gian bào. Riêng dịch bạch huyết của gan hàm lượng protein rất cao: 6g/dl (gấp 3 lần
so với dịch gian bào), dịch bạch huyết của ruột có hàm lượng protein 3- 4 g/dl ( gấp khoảng 2
lần so với dịch gian bào).
Đặc biệt dịch bạch huyết của ruột có hàm lượng lipid rất cao (vì 70% lipid sau quá trình tiêu
hoá ở ruột được hấp thu theo con đường này), đặc biệt là sau khi ăn. Lipid trong hệ bạch huyết
ở dạng lipoprotein. Do có sự pha trộn dịch bạch huyết của gan, ruột và các mô nên dịch bạch
huyết trong ống ngực chứa lipid khoảng 2g/dl, protein: 3-5 g/dl. Lympho bào vào máu qua hệ
bạch huyết nên trong dịch bạch huyết có nhiều tế bào lympho. Ngoài ra cũng còn có một số
chất có kích thước lớn hoặc vi khuẩn sau khi đi qua vách giữa các tế bào nội mạc mao bạch
mạch, vào được hệ bạch huyết. Những phần tử này bị giữ lại ở hạch bạch huyết và bị phá huỷ
tại đây.
Số lượng dịch bạch huyết không nhiều, đại bộ phận nằm trong ống ngực, hệ thống bạch huyết
gan và ruột. Trung bình có khoảng 120ml dịch bạch huyết vào trong hệ thống tuần hoàn trong 1

đổ vào các não thất, rồi từ các não thất qua các lỗ Magendie, Luschka, Monro đổ vào khoang
dưới nhện. Ngoài ra dịch não tuỷ còn được sản xuất từ màng ống nội tuỷ, màng nhện và một
phần do tế bào não bài tiết qua các khoang quanh mạch đi vào trong não.
Khoang quanh là phần giữa màng nuôi và thành mạch. Mô não không có hệ bạch huyết cho nên
các protein thoát ra từ mao mạch vào dịch gian bào theo khoang quanh mạch đến khoang dưới
nhện và được tái hấp thu vào tĩnh mạch qua các nhung mao của màng nhện. Khoang quanh
mạch có vai trò như hệ bạch huyết, vì vậy có một số chất từ não có thể qua khoang quanh mạch
đi vào máu.
3. 2. Thành phần dịch não tuỷ
Dịch não tuỷ là một dịch trong, không màu , có số lượng từ 60 - 100 ml, có tỷ trọng 1,005, có
chỉ số khúc xạ là 1,334 - 1,335, pH = 7,3- 7,4, có áp lựclà 10 - 15 cmH
2
O ( khi nằm ), 15 - 20
cmH
2
O (khi ngồi).
Thành phần dịch não tuỷ là:
Protein : 15 - 22 mg/dl
Cholesterol : < 1mg/dl
Dự trữ kiềm : 10 - 27 mEq/dl
Glucose : 50 - 75 mg/dl
Ure : 20 - 50 mg/dl
Acid béo : 43mg/dl
Acid uric toàn phần : 14 mg/dl
Phosphat : 9mg/dl
Calci : 5 mg/dl
NaCl : 70mg/dl
Bạch cầu lympho : 1 -3 BC/1mm
3
So với huyết tương người ta nhận thấy nồng độ Na

, O
2
và các chất hoà tan trong
lipid như rượu, các chất gây mê; ít có tính thấm đối với các chất như Na
+
, Cl
-
, H
+
và hầu như
không thấm đối với protein và các hợp chất hưũ cơ có phân tử lượng cao. Các kháng thể, các
thuốc không hoà tan trong lipid không thấm được vào dịch não tuỷ và nhu mô não. Vì vậy có
một số thuốc không có hiệu quả trên não bộ khi đưa vào máu nhưng lại có hiệu quả rất cao khi
đưa vào dịch não tuỷ.
Hàng rào máu não có hai chức năng chính: chức năng bảo vệ và chức năng điều hoà dinh
dưỡng. Hàng rào máu não ngăn cản không cho các chất độc lạ từ máu vào mô thần kinh. Để
đánh giá chức năng bảo vệ, người ta đưa ra chỉ số : hệ số thấm.
Hệ số thấm là tỷ số giữa nồng độ chất ở trong mô/ nồng độ chất đó ở trong máu.
Hệ số thấm giữa máu và dịch não tuỷ là tỷ số giữa nồng độ chất trong dịch não tuỷ/ nồng độ
chất đó trong máu động mạch.
Hệ số thấm giữa dịch não tuỷ và mô não là tỷ số giữa nồng độ chất trong mô não/nồng độ chất
đó trong dịch não tuỷ.
Thông thường các chất đi từ máu vào dịch não tuỷ, từ dịch não tuỷ vào mô não có hệ số <1.
Còn các sản phẩm chuyển hoá đi từ mô não vào dịch não tuỷ, từ dịch não tuỷ vào máu thì có hệ
số >1.
Chức năng điều hoà dinh dưỡng là duy trì tính hằng định của môi trường cho tế bào não hoạt
động. Chức năng này biểu hiện ở hệ số phân phối một chất nào đó.
Hệ số phân phối của một chất là tỷ số giữa hiệu nồng độ chất đó trong động mạch và tinh mạch
/ nồng độ chất đó trong dịch não tuỷ hoặc là tỷ số giữa hiệu nồng độ chất đó trong động mạch
và tĩnh mạch/ nồng độ chất đó trong mô não.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status