Bài giảng ĐIỆN TÂM ĐỒ - Pdf 83

ĐIỆN TÂM ĐỒ

Từ giữa thế kỷ 19 người ta đã biết có những hiện tượng điện đi kèm theo những
hoạt động của các cơ nói chung cũng như của cơ tim nói riêng. Waller (1867) trong
thực nghiệm đã thu được sức điện động của tim ở vùng lồng ngực. Nhưng dòng điện
đó rất nhỏ, phải tính bằng milivon (mV) nên khi đó không có máy ghi lại được.
Cho mãi đến 1903 Einthoven sử dụng một điện kế có dây rất nhạy cảm và ghi được
dòng điện đó lên giấy, mở đầu cho sự phát triển khoa điện tim học.
Bình thường, cũng như mọi tế bào sống, màng của sợi cơ tim có hiện tượng phân
cực, tức là khi nghỉ mặt ngoài có điện tích (+) so với bên trong, hiệu điện thế ở mặt
ngoài so với mặt trong vào khoảng 80 đến 90 mV, gọi là điện thế màng. Khi hoạt
động, ở mỗi sợi cơ tim xuất hiện một dao động của điện thế màng gọi là dòng điện
hoạt động. Tổng hợp những dòng điện hoạt động của các sợi cơ tim gọi là dòng điện
hoạt động của tim. Cơ thể con người là một môi trường dẫn điện tương đối đồng
nhất, cho nên dòng điện do tim phát ra có thể truyền đi khắp cơ thể, ra tới da. Ta có
thể ghi được dòng điện tim bằng cách nối hai cực của máy ghi điện tim với hai điểm
khác nhau của cơ thể.
Cách mắc điện cực để ghi dòng điện hoạt động của tim gọi là chuyển đạo. Đồ thị ghi
lại các biến thiên của dòng điện do tim phát ra trong khi hoạt động gọi là điện tâm đồ
(ECG: electrocardiogram).
I. CÁC CHUYỂN ĐẠO TIM
Có hai loại chuyển đạo (đạo trình) là: Chuyển đạo trực tiếp và chuyển đạo gián
tiếp.
- Chuyển đạo trực tiếp: là chuyển đạo khi đặt điện cực chạm vào cơ tim. Chỉ dùng
chuyển đạo trực tiếp trên những người mở lồng ngực trong phẫu thuật, hoặc trên
các động vật thí nghiệm.
Trên người bình thường thì dùng chuyển đạo gián tiếp, ngoài lồng ngực.
- Chuyển đạo gián tiếp: Có 3 loại chuyển đạo gián tiếp là:
+ Chuyển đạo song cực chi (chuyển đạo mẫu).
+ Chuyển đạo đơn cực chi.
+ Chuyển đạo trước tim.

đạo trước tim:
- V
1
: điện cực thăm dò đặt ở khe liên sườn IV, sát bờ phải xương ức.
- V
2
: điện cực thăm dò đặt ở khe liên sườn IV, sát bờ trái xương ức.
- V
3
: điện cực thăm dò đặt ở giữa V2 và V4.
- V
4
: điện cực thăm dò đặt ở giao điểm của khe liên sườn V với đường giữa xương
đòn trái.
- V
5
: điện cực thăm dò đặt ở giao điểm của khe liên sườn V với đường nách trước
bên trái.
- V
6
: điện cực thăm dò đặt ở giao điểm của khe liên sườn V với đường nách bên trái.
Chuyển đạo V
1
, V
2
có điện cực thăm dò đặt trúng lên vùng thành ngực ở sát ngay
trên mặt thất phải và gần khối tâm nhĩ, do đó V
1
, V
2

. Màu đỏ đặt ở cổ tay phải.
. Màu vàng đặt ở cổ tay trái.
. Màu xanh lá cây đặt ở cổ chân trái.
. Màu đen cho điện cực trung tính, đặt ở cổ chân phải.
2.2. Định chuẩn điện thế và thời gian:
Trước khi ghi điện tim phải xác định tiêu chuẩn cho điện thế và thời gian.
- Điện thế: Trước khi cho dòng điện tim chạy vào máy, ta phải phóng một dòng điện
1mV vào máy làm cần máy lên độ cao 1 cm, gọi đó là định chuẩn (calibration).
Khi muốn cho các làn sóng cao lên để nghiên cứu kỹ hơn, người ta điều chỉnh cho
1mV làm cần máy lên độ cao 2 cm và ký hiệu là 2N vào giấy ghi điện tim.
Khi sóng điện tim có biên độ quá cao, vượt ra ngoài khổ giấy, thì điều chỉnh cho
0,5 cm tương ứng với 1mV và ký hiệu là N/2.
Do đó, muốn cho người đọc biết một bản điện tâm đồ ghi theo định chuẩn nào thì
phải làm định chuẩn một đoạn ở đầu bản điện tâm đồ và ghi cạnh đó 2N hay N/2 tùy
theo mức định chuẩn đã chọn.
- Thời gian: Khi vặn cho giấy chạy theo tốc độ 25 mm/s thì mỗi ô dài 1 mm tương
ứng với 1s/25 = 0,04s.
Khi vặn cho giấy chạy theo tốc độ 50 mm/s thì mỗi ô dài 1 mm tương ứng với
1s/50 = 0,02s.
Các máy hiện đại có khả năng chạy nhiều tốc độ: 2,5; 10; 25; 50; 100 mm/s nên cứ
theo cách tính trên mà tính ra giá trị thời gian của 1 ô.
Bình thương, người ta hay sử dụng tốc độ 25 mm/s tức là giá trị thời gian của 1 ô 1
mm là 0,04s.
2.3. Ghi các chuyển đạo:
Bật nút điều chỉnh cho máy ghi lần lượt các chuyển đạo sau (nếu máy một cần).
- D
1
, D
2
, D

) rồi lấy 60 chia cho nó, sẽ được tần số F.
F = 60 / RR
s
Thí dụ: ta đo được một khoảng RR = 0,80s, thì tần số tim là:
F = 60 / 0,80 = 75 ck/min.
- Dùng thước đo:
* Xác định trục điện tim: để tính trục điện tim ta tính góc α của trục so với đường nằm
ngang (còn gọi là trục 0°).
Quá trình khử cực thất luôn luôn đổi hướng, tạo ra nhiều vectơ biểu hiện dòng điện
khử cực và điện trường tim ở các điểm khác nhau, được gọi là vectơ khử cực tức
thời. Tổng hợp các trục điện tức thời sẽ được trục điện tim trung bình. Bình thường
góc α ≈ 58°.
Xác định góc α: Có nhiều cách xác định góc α, ở đây chỉ nêu hai cách là dùng tam
giác Einthoven và dùng tam trục kép Bayley.
+ Sử dụng tam giác Einthoven: Phải dùng chuyển đạo D
1
và D
3
. Các bước tiến hành
như sau:
. Đo biên độ của các làn sóng Q, R, S ở D
1
và D
3
với đơn vị milimet (1/10 mV). Trị số
của các sóng dương (R, R’ …) được mang dấu (+), trị số các sóng âm (Q, S, S’ …)
được mang dấu (-).
Thí dụ:
D
1

: Q
3
+ R
3
= (-2) + (+4,1) = + 2,1
. Thể hiện các con số tính được thành những vectơ, đặt chúng trên nửa trục (+) hay
nửa trục (-) của mỗi chuyển đạo tùy theo chúng có dấu (+) hay (-). Về độ dài của
vectơ thì cứ mỗi đơn vị điện thế 1/10 mV tương đương với mỗi đơn vị của trục đã
chia, ở đây là ½ cm.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status