Lời nói đầu
Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã đa nền kinh tế
toàn cầu sang một hình thái mới. Cơ chế thị trờng ra đời làm cho các hoạt động tài
chính và sở hữu ngày càng đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm tra kế toán không
đáp ứng đợc nhu cầu của ngời sử dụng thông tin. Chính vì thế, kiểm toán ra đời
nh một đòi hỏi khách quan để đáp ứng nhu cầu đó. Càng ngày, kiểm toán càng trở
nên có vai trò quan trọng và càng phát triển, khẳng định là một môn khoa học, một
lĩnh vực nghiên cứu riêng.
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt
Nam đã có những bớc chuyển đổi to lớn trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch
hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc. Quá trình đổi
mới đã đa Việt Nam từng bớc vơn lên và đạt đợc nhiều thắng lợi trong kinh tế và
phát triển xã hội. Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, các doanh
nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nớc đã và đang đổi mới mạnh
mẽ và toàn diện, từng bớc vơn lên khẳng định vai trò chủ đạo của mình trong nền
kinh tế. Thành tựu của 10 năm đổi mới gần đây của nớc ta là đạt đợc sự tăng trởng
kinh tế ổn định và mạnh mẽ.
Theo sự đổi mới đó, ở tầm vĩ mô, Nhà nớc đã và đang cố gắng tạo dựng một
môi trờng pháp lý, một hành lang pháp luật kinh tế rõ ràng và bình đẳng cho mọi
thành phần kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là cơ chế thị trờng cạnh tranh gay
gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên từ chính bản thân mình, các nhà
quản trị phải có những quyết định và phơng pháp quản lý đúng đắn để đảm bảo
cho việc kinh doanh có hiệu quả. Một trong những công cụ để giúp cho các nhà
quản trị có đợc các thông tin chính xác và kịp thời để ra các quyết định đúng đắn
của mình là hệ thống kiểm soát nội bộ. Cũng chính từ đó, kiểm toán nội bộ ra đời
nh một tất yếu khách quan và cần thiết để giúp cho các nhà quản trị có đầy đủ
thông tin chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, về các báo cáo
tài chính đợc lập để làm cơ sở cho việc quản trị doanh nghiệp. ở Việt Nam hiện
nay, kiểm toán nội bộ vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ nhng nó đã khẳng định đợc
vị thế của mình trong thời gian qua và đang là một nhu cầu cấp thiết đối với các
phận kiểm toán nội bộ tại Tổng Công ty Muối Việt Nam.
- Chơng III: Định hớng xây dựng hệ thống kiểm toán nội bộ tại Tổng Công
ty Muối Việt Nam.
Để hoàn thành Đề tài này tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng kế
toán Tổng Công ty Muối và sự hớng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thầy giáo - Tiến sĩ:
Ngô Trí Tuệ, qua đây tôi xin đợc gửi lời chân thành cảm ơn tới những sự giúp đỡ
chỉ bảo đó. Mặt khác, do còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn cũng nh thời
gian nên đề tài chắc chắn còn nhiều hạn chế và sai sót. Với tinh thần học hỏi tôi
rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn và những ng-
ời quan tâm để tôi hoàn thiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2
Chơng I
Những luận cứ khoa học để thiết lập hệ thống kiểm
toán nội bộ trong các đơn vị và tổ chức kinh tế.
1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý và vị trí của kiểm toán nội bộ
trong kiểm tra kiểm soát nội bộ.
1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ.
Kiểm tra, kiểm soát luôn là một chức năng quan trọng của quản lý và đợc
thực hiện bởi một công cụ chính yếu là hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Việc
xác lập và duy trì một hệ thống kế toán thích hợp, kết hợp với quy chế kiểm soát
nội bộ khác để mở rộng kinh doanh và mở rộng loại hình kinh doanh thuộc trách
nhiệm quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Các nhà quản lý cần cung cấp
cho các cổ đông (hoặc Chính phủ) một sự bảo đảm thích hợp về công việc kinh
doanh đợc kiểm soát chính đáng. Đồng thời, bộ phận quản lý còn có trách nhiệm
cung cấp cho cho các cổ đông, Chính phủ và những ngời đầu t tiềm tàng (ngân
hàng, chủ đầu t, ngời liên doanh....) những thông tin tài chính trên cơ sở hợp thời.
Một hệ thống bao gồm rất nhiều chế độ và thể thức đặc thù đợc thiết kế để cung
cấp cho các nhà quản lý sự bảo đảm hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan
phơng tiện hoặc biện pháp này sẽ bảo vệ trực tiếp hoặc gián tiếp các tài sản vật
chất nh hàng tồn kho, thiết bị, tiền.... Các tài sản vô hình cần đợc bảo vệ và giữ gìn
bằng các biện pháp tổ chức, quy chế và cả những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ.
* Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin.
Thông tin kinh tế tài chính do kế toán tổng hợp xử lý và trình bày là căn cứ
quan trọng cho việc hình thành và lựa chọn các quyết định kinh tế của các nhà
quản lý. Nhà quản lý phải có các thông tin chính xác để điều hành các mặt của
hoạt động kinh doanh. Một lợng lớn thông tin đợc sử dụng để đề ra các quyết định
kinh doanh then chốt, do vậy thông tin phải bảo đảm không đợc lạm dụng và sử
dụng sai mục đích. Các thông tin đợc cung cấp phải bảo đảm:
- Độ tin cậy của các tài liệu tài chính, kế toán do bộ phận kế toán chuẩn bị,
do Giám đốc ký duyệt hoặc báo cáo với Ban Giám đốc, với Hội đồng
Quản trị.
- Tính thích đáng, phù hợp của các thông tin tài chính, kế toán. Các thông
tin này phải phản ánh đầy đủ, đúng và khách quan các nội dung chủ yếu
của hoạt động kinh tế.
* Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các chính
sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị.
Nhà quản trị xây dựng các thể thức và nguyên tắc để thoả mãn các mục tiêu
của Doanh nghiệp. Cơ cấu kiểm soát nội bộ đợc thiết kế để mang lại sự bảo đảm
chắc chắn các quyết định và chế độ quản lý đợc thực hiện đúng thể thức, đồng thời
giám sát mức hiệu quả của các chế độ và các thể thức đó. Nhân viên trong công ty
phải tuân thủ các chính sách, quyết định nội bộ, cụ thể là:
- Phát hiện kịp thời những rắc rối trong kinh doanh để hoạch định và thực
hiện các biện pháp đối phó.
- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và các gian lận trong kinh doanh.
- Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ của
hoạt động kinh doanh.
- Lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp
định có liên quan.
2 Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
3 Nguyên tắc uỷ quyền phê chuẩn
Tóm lại, kiểm tra - kiểm soát là những hệ thống có chức năng xác minh,
đánh giá, nhận xét về đối tợng kiểm tra - kiểm soát. Hoạt động kiểm tra kiểm
soát nảy sinh và phát triển từ chính nhu cầu của quản lý. Các yếu tố của hệ
thống kiểm tra - kiểm soát bao gồm tất cả các yếu tố đối chiếu, xem xét, xác
minh đối tợng của quản lý. Tổ chức kiểm tra - kiểm soát thể hiện cả tính khoa
học và tính nghiệp vụ kỹ thuật về việc thực hiện các chiến lợc và bớc đi cụ thể
trong hoạch định chính sách và tổ chức bộ máy kiểm tra - kiểm soát ở cả tầm vĩ
mô và vi mô của nền kinh tế.
1.1.2 Vị trí của kiểm toán nội bộ trong kiểm tra, kiểm soát nội bộ.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một doanh nghiệp thờng đợc xem gồm 3
yếu tố cấu thành nên, đó là: Môi trờng kiểm soát; Hệ thống kế toán; và các thủ
tục kiểm soát.
Kiểm toán nội bộ là một nhân tố cơ bản trong môi trờng kiểm soát. Kiểm
toán nội bộ thực hiện việc kiểm tra, giám sát và đánh giá thờng xuyên về hoạt
động của đơn vị bao gồm cả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc
kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Từ đó, bộ phận này sẽ giúp cho đơn vị
có những thông tin kịp thời, xác thực về hoạt động của đơn vị và chất lợng của các
thủ tục kiểm soát nhằm điều chỉnh, bổ sung các thủ tục kiểm soát thích hợp và có
hiệu lực hơn.
Bên cạnh vai trò của mình trong môi trờng kiểm soát của đơn vị, kiểm toán
nội bộ còn có thể góp phần làm giảm chi phí kiểm toán thuê ngoài bằng cách trực
tiếp cung cấp sự giúp đỡ cho các kiểm toán viên độc lập. Nếu kiểm toán viên bên
ngoài có đủ bằng chứng chứng minh cho tính khách quan, chính trực và năng lực
5
của kiểm toán viên nội bộ thì kiểm toán viên bên ngoài có thể dựa trên công việc
của kiểm toán viên nội bộ theo nhiều cách.
Nh vậy, kiểm toán nội bộ là một phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Hơn
b) Bản chất của kiểm toán nội bộ.
Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và đợc sử dụng ở Việt Nam từ
những năm đầu của thập kỷ 90. Trên thế giới thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ
khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của các thông tin báo
cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế.
Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về kiểm toán, song có thể hiểu đợc bản chất
của kiểm toán qua định nghĩa: Kiểm toán là sự xem xét và bày tỏ ý kiến về thực
trạng hoạt động đợc kiểm toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ thuật của kiểm
toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ t-
6
ơng xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. Hoặc qua khái niệm
khá phổ biến sau: Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập có
thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lợng có liên
quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ
phù hợp giữa thông tin số lợng đó với các chuẩn mực đã đợc xây dựng.
Kiểm toán gồm nhiều loại hình khác nhau. Nếu căn cứ vào chủ thể kiểm toán
(một tiêu thức phân loại phổ biến) thì kiểm toán bao gồm: kiểm toán độc lập, kiểm
toán Nhà nớc và kiểm toán nội bộ. Các loại hình kiểm toán này khác nhau về chức
năng, tính chất, địa vị pháp lý, phạm vi và hoàn toàn không thể thay thế cho nhau
(Phụ lục 1.1). Trong đó kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên
nội bộ của đơn vị tiến hành. Lịch sử phát triển hoạt động kiểm toán ở các nớc có
nền kinh tế thị trờng cho thấy kiểm toán nội bộ là một nghề nghiệp mới mẻ. Tuy
lúc đầu kiểm toán nội bộ mang tính chất không chuyên, không tồn tại ở các doanh
nghiệp hoặc đợc coi nh một phần của kiểm toán độc lập, nhng về sau nó đã trở
thành một nghề có tính chuyên nghiệp.
Một cách cơ bản có thể hiểu kiểm toán nội bộ là một bộ phận đợc lập ra
trong một đơn vị, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát để giúp các nhà quản
lý cấp cao trong đơn vị đó gia tăng đợc quyền lực của mình nhằm quán xuyến đ-
ợc các hoạt động đã và đang diễn ra trong đơn vị, bao gồm: những quy tắc đặt
trình thiết kế, vận hành và tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ và bao gồm những
yếu tố cơ bản sau: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác
kế hoạch, Uỷ ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ.
Theo mối quan hệ này, kiểm toán nội bộ đợc xem là một bộ phận chịu trách
nhiệm thực hiện kiểm tra, giám sát và đánh giá thờng xuyên về hoạt động của đơn
vị, qua đó phát hiện những sai phạm làm thất thoát tài sản, đề xuất những biện
pháp cải tiến hoạt động.
Trong quan hệ với hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nớc, khái niệm kiểm
toán nội bộ có thể đợc cụ thể nh sau: Kiểm toán nội bộ là một hoạt động nội
kiểm có tính độc lập trong các cơ quan, đơn vị kinh tế thực hiện chức năng là kiểm
tra đánh giá các hoạt động tài chính và phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả các
hoạt động đó và góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý tại các đơn vị kinh tế cơ
sở.
Nói tóm lại, các định nghĩa đã nêu tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ
thể xác định song chung quy đều bao hàm vào khái niệm kiểm toán nội bộ với
các yếu tố cơ bản sau:
1. Chức năng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, giám sát và đánh giá.
2. Nội dung trực tiếp của kiểm toán nội bộ không chỉ giới hạn trong thực trạng
hoạt động tài chính mà cả những lĩnh vực khác của quản lý.
3. Để thực hiện chức năng trên phạm vi của hoạt động tài chính cũng nh phi
tài chính với nhiều mối quan hệ phức tạp đòi hỏi kiểm toán nội bộ phải hình
thành một hệ thống phơng pháp kiểm toán riêng dựa trên hệ thống phơng
pháp kiểm toán nói chung gồm các thủ tục: quan sát, kiểm kê thực tế, xác
minh, thu thập và đánh giá các bằng chứng, tính toán, so sánh, phân tích,
kiểm tra trên máy tính; tổng hợp, lựa chọn thông tin, xác định nguyên nhân
và mức độ liên quan, đánh giá khác....
4. Chủ thể kiểm toán nội bộ là những kiểm toán viên nội bộ có trình độ nghiệp
vụ tơng xứng với công việc đảm nhận và độc lập tơng đối với các bộ phận
khác trong đơn vị.
Nh vậy, kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu
trong một số trờng hợp và nếu đợc phép của Uỷ ban quản trị tối cao, các kiểm toán
viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự u việt của các chính sách, quy định, kế
hoạch trớc khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ. Họ sẽ chỉ ra khoản lợi nhuận
(hay tiết kiệm đợc) từ các hoạt động bởi việc tuân thủ thích đáng các chính sách,
các kế hoạch và thủ tục đợc lập ra và các mất mát nếu không có sự tuân thủ đó.
Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính pháp lý của các thông
tin kế toán với chuẩn mực là các quy định pháp chế của Nhà nớc.
Thứ hai: Kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin trong đó chủ
yếu là kiểm tra và xác định mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáo quyết toán
do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra.
Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông
tin không chỉ của bản thân các thông tin tài chính mà cả các hoạt động và phơng
tiện đợc sử dụng để xác minh, đo đạc, phân loại và báo cáo các thông tin đó. Việc
kiểm tra hệ thống thông tin này là cơ sở để khẳng định các sổ sách và báo cáo tài
chính chứa đựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích. Các kiểm toán viên
nội bộ thực hiện kiểm tra các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hai trờng
hợp:
- Trờng hợp thứ nhất với mục đích giúp chủ Doanh nghiệp hay nhà quản lý
của Doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin tài chính, kiểm toán viên nội
bộ tiến hành kiểm tra, soát xét việc tính toán, phân loại báo cáo, thẩm
định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số
d tài khoản). Điều này cũng có tác dụng giảm phí kiểm toán của các kiểm
toán viên độc lập khi công việc của kiểm toán viên nội bộ đạt hiệu quả
tốt.
- Trờng hợp thứ hai công việc kiểm tra đợc thực hiện nhằm hoàn thiện việc
thẩm tra các lĩnh vực khác để có thể đa ra kết luận. Việc kiểm tra các báo
9
cáo tài chính trở thành hoạt động bổ trợ đối với nhiệm vụ kiểm toán
chính.
nguồn lực.
Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lợng thực hiện các nhiệm vụ đợc
giao. Việc thực hiện này liên quan đến các nhóm hay các nhân viên của đơn vị. ở
đây kiểm toán nội bộ không chỉ quan tâm tới việc các nhóm hay các nhân viên
thực hiện công việc của họ có mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho Doanh nghiệp hay
không? Do các công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật) rất đa dạng trong
một tổ chức kinh tế nên để hoàn thành đợc nhiệm vụ trên, bộ phận kiểm toán phải
tuyển chọn đợc những ngời có trình độ nghiệp vụ tơng xứng.
Thứ sáu: Thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp và u việt
của nó. Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của quy chế kiểm soát nội bộ, đồng
thời có kiến nghị hoàn thiện các quy chế này.
10
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đồng thời kiểm toán nội bộ phải thực
hiện việc giám sát thực hiện các quy chế kiểm soát nội bộ đã đề ra, qua đó phát
hiện những điểm cha hợp lý để tham gia hoàn thiện chúng.
Mục đích của việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để khẳng
định rằng hệ thống kiểm toán nội bộ vận hành đều đặn và có hiệu quả, đáp ứng
mọi mục tiêu đã định trớc. Việc thẩm tra sẽ phơi bày mọi hành vi gian lận, không
bình thờng và gây lãng phí với bản chất lặp đi lặp lại nhằm ngăn chặn và giảm
thiểu chúng.
Thứ bảy: Các nhiệm vụ đặc biệt khác.
Ngoài các nhiệm vụ chính trên, kiểm toán nội bộ có thể đợc giao bất cứ
nhiệm vụ gì mà có ích cho Ban Giám đốc chẳng hạn nh: điều tra về cá nhân, đại
diện cho Ban giám đốc hoặc giám sát trong các thoả thuận, tham gia vào các ch-
ơng trình đào tạo đơn vị.
Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, kiểm toán nội bộ có trách nhiệm
hớng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ kế toánvà các cán bộ nghiệp vụ khác có liên quan,
đề xuất các quyết định quản lý, xử lý về tài chính kế toán và các nội dung xử lý
khác.
những thông tin này, kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số d và các bớc công
việc.
- Kiểm tra tính hiệu quả, sự tiết kiệm và hiệu suất của các hoạt động, kể cả các
quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp.
Nh vậy, lĩnh vực hoạt động của kiểm toán nội bộ bao gồm cả kiểm toán tài
chính và kiểm toán nghiệp vụ trong doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ là kiểm
toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động
của các bộ phận trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó kiểm toán nội bộ cũng tiến
hành các nội dung kiểm toán tuân thủ để xem xét việc chấp hành các chính sách,
quy định của doanh nghiệp.
b) Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ.
Miền xác định hoạt động của kiểm toán nội bộ khá rộng lớn. Thật vậy, để
đạt đợc mục tiêu chung nhất của hoạt động kiểm toán nội bộ, các kiểm toán viên
phải tham gia vào các quá trình trong mọi hoạt động của đơn vị hay tổ chức kinh
tế, kiểm toán viên nội bộ phải đảm nhận tất cả các loại công việc mà không một
loại hình kiểm toán đơn lẻ nào có thể đáp ứng đợc.
Những chức năng của hoạt động kiểm toán sẽ đa kiểm toán viên tới tất cả các
lĩnh vực trong doanh nghiệp. Các lĩnh vực cụ thể để đánh giá và kiểm toán trong
phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ là:
* Đánh giá:
Công việc của kiểm toán nội bộ thờng đợc tiến hành trong nội bộ doanh
nghiệp trong đó đánh giá một trong những phần hành không thể thiếu với bất kỳ
một cuộc kiểm toán nội bộ nào. Phạm vi của công việc đánh giá trong cuộc kiểm
toán nội bộ thờng bao gồm:
- Các kế hoạch và mục tiêu của các nhà quản lý.
- Các quy định và chính sách hiện hành cho việc thực hiện các kế hoạch và
mục tiêu trên.
- Kiểm soát nội bộ và mức độ giám sát.
- Hoạt động nhân sự và các chơng trình đào tạo.
* Theo tính chất của cuộc kiểm toán.
của quá trình hoạt động rất khó đợc đánh giá một cách khách quan so với tính tuân
thủ và tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Thay vào đó, việc xây dựng
các chuẩn mực để đánh giá các thông tin có thể định lợng trong một cuộc kiểm
toán hoạt động là một việc mang nặng tính chất chủ quan.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thờng vợt ra khỏi phạm vi công tác
kế toán - tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực. Vì vậy, kiểm toán hoạt động
sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau: kế toán, tài chính, kinh tế, kỹ thuật, khoa học...
Sản phẩm của kiểm toán hoạt động là bản báo cáo cho ngời quản lý về kết quả
kiểm toán và những ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.
* Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit):
Kiểm toán tuân thủ là xác định liệu bên đợc kiểm toán có tuân thủ các thủ
tục hoặc các nguyên tắc quy định đặc thù mà cơ quan có thẩm định quyền hoặc
đơn vị đã đề ra hay không. Kiểm toán tuân thủ đối với một tổ chức hay một cá
nhân có thể bao gồm việc xác định cá nhân kế toán viên có tuân thủ các thủ tục
mà kế toán trởng đã đề ra, cấp có thẩm quyền phê duyệt hay không. Hoặc là một
nhân viên thanh toán có cháp hành các quy định trong quan hệ thanh toán của đơn
vị đã đề ra hay không...
13
Khi kiểm toán tuân thủ đối với cá nhân, tổ chức, kiểm toán viên nhằm vào
đánh giá việc chấp hành chính sách đã đề ra, các thoả hiệp và các quy định về
pháp lý. Kết quả kiểm toán tuân thủ sẽ đợc báo cáo cho ngời nào đó có trách
nhiệm cao nhất đơn vị.
* Kiểm toán tài chính (Audit of Financial Statements):
Kiểm toán tài chính là kiểm tra xác nhận xem các bảng khai tài chính đợc lập
có trung thực và hợp lý hay không, có phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực
kế toán thông dụng đã đợc chấp nhận hay không... Kết quả kiểm toán báo cáo tài
chính sẽ đợc báo cáo với ngời hoặc tổ chức yêu cầu hoặc đợc dùng công khai số
liệu báo cáo tài chính.
b) Dựa vào thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, có các loại hình kiểm toán:
ơng.
14
* Kiểm toán chức năng:
Kiểm toán chức năng là loại kiểm toán trong đó các bớc kiểm toán cụ thể và
xuyên suốt một vài bộ phận trong tổ chức. Nói cách khác quy trình kiểm toán đợc
thiết lập nhằm kiểm tra hoạt động của một chức năng riêng biệt từ khi bắt đầu đến
khi kết thúc và thông thờng hoạt động này liên quan tới một vài bộ phận hay
phòng ban trong tổ chức.
Trong kiểm toán chức năng, kiểm toán viên nội bộ kiểm tra, đánh giá tính
hiệu quả và các điều kiện hoạt động của một chức năng. Qua đó ngời ta phát hiện
đợc những khuyết điểm trong công tác kiểm soát nội bộ, tìm ra các cách khác
nhau để thực hiện một mục đích hay so sánh tính hiệu quả việc thực hiện một chức
năng ở những nơi khác nhau.
Loại hình kiểm toán này đợc sử dụng để kiểm toán các chức năng nh: thanh
toán tiền lơng, mua bán hàng hóa, nguyên vật liệu, quản lý tiền mặt, các hoạt động
vận tải và hoạt động điều phối...
* Kiểm toán các hoạt động quản trị:
Kiểm toán hoạt động quản trị là sự đánh giá đối với một lĩnh vực nhất định,
đối với một đơn vị trong tổ chức hoặc đối với một chức năng cụ thể. Phạm vi của
kiểm toán hoạt động quản trị có thể chỉ là một chức năng nh hoạt động nhân sự,
marketing, tài chính hay mua bán; nó có thể là một cuộc kiểm toán về tay nghề và
trình độ nhận thức của ngời lao động và nó có thể là cuộc kiểm toán toàn bộ các
hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán quản trị có thể áp dụng cho một đơn vị có
vài ngời hay cho một ban có hàng ngàn ngời. Kiểm toán quản trị là một có một vài
thể thức đánh giá, đó là: So sánh những việc đã thực hiện đợc với kế hoạch đề ra,
so sánh kết quả đạt đợc với các tiêu chuẩn hay so sánh những diễn biết thực tế với
phơng hớng, chính sách đã hoạch định. Mục đích của kiểm toán quản trị là xác
định xem đơn vị hay chức năng đợc kiểm toán hoạt động nh thế nào để thực hiện
các mục tiêu của tổ chức.
cầu của các nhà quản lý với sự kết hợp một vài loại hình kiểm toán. Kiểm toán
toàn diện đợc thực hiện dựa vào phơng pháp tiếp cận tổng hợp mà qua đó một vài
loại hình kiểm toán đợc thực hiện. Cuộc kiểm toán này thờng bắt đầu với việc xác
định tính tuân thủ với luật pháp, quy định và chế độ cụ thể, tiếp đến xác minh tính
kinh tế và tính hiệu quả và cuối cùng đa ra kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động
và sức cạnh tranh cho một đơn vị hay tổ chức kinh tế.
d) Dựa vào chu kỳ của kiểm toán, có thể có các loại hình kiểm toán sau:
Kiểm toán thờng xuyên và kiểm toán định kỳ.
* Kiểm toán thờng xuyên: Là thực hiện các việc kiểm tra, xem xét liên tục,
hàng tuần, hàng tháng, trong suốt năm. Hình thức này tỏ ra khá hữu hiệu và có thể
giúp cho việc phát hiện mau chóng, kịp thời các sai sót, nhờ đó hạn chế ngăn chặn
đợc các tác hại. Mặt khác do đợc thực hiện thờng xuyên, các cuộc kiểm toán này
có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa rất hiệu quả.
* Kiểm toán định kỳ: Trái lại với kiểm toán thờng xuyên, kiểm toán định kỳ
chỉ nhằm theo dõi tình hình qua các báo cáo tài chính kế toán hàng tháng, hàng
quý hoặc cả năm nghiên cứu, đánh giá bảng cân đối kế toán giữa năm hoặc cuối
năm để đa ra những nhận xét, kết luận, đánh giá về công việc kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, do khoảng cách về thời gian kiểm toán cách nhau quá xa nên
nhiều khi không mang lại kết quả mong muốn về các sai trái, tiêu cực (nếu có) đã
gây ra những hậu quả khó có thể khắc phục.
1.2.5 Vị trí, ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán nội bộ.
Xét về vị trí của kiểm toán nội bộ trong cơ cấu tổ chức: Trong sơ đồ quản lý
doanh nghiệp, trách nhiệm và nhiệm vụ càng lớn thì vị trí càng cao. Do tính chất
đặc thù của hoạt động kiểm toán, đảm bảo tính khách quan trong công việc, bộ
phận kiểm toán nội bộ cần đợc tổ chức độc lập với các bộ phận quản lý và điều
hành kinh doanh trong doanh nghiệp và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của (Tổng) Giám
đốc hoặc HĐQT của doanh nghiệp.
ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán nội bộ:
Kiểm toán nội bộ là một hoạt động nội kiểm sinh ra từ nhu cầu quản lý, nên
Tóm lại kiểm toán nội bộ hoạt động đúng với chức năng của mình sẽ có ý
nghĩa và tác dụng to lớn đối với Doanh nghiệp mà trớc hết là cho những nhà
quản lý.
1.3 Các tiêu chuẩn để thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ.
Trên thực tế không có những tiêu chuẩn tuyệt đối quyết định việc thành lập
bộ phận kiểm toán nội bộ, nhng cũng có thể kể ra một số nhân tố mà hầu hết các
doanh nghiệp khi lập một bộ phận kiểm toán nội bộ đều cần phải quan tâm.
Quy mô của doanh nghiệp.
Quy mô, tầm vóc của doanh nghiệp là một tiêu chuẩn tiên quyết cho mục
đích thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ, ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ít khi có
bộ phận kiểm toán nội bộ. Các doanh nghiệp lớn thờng lập ra bộ phận kiểm toán
nội bộ để giải quyết một số vấn đề phát sinh do quy mô của mình. Quy mô doanh
nghiệp có thể đợc đo lờng theo chỉ tiêu doanh thu, tổng sản lợng hay tổng số công
nhân viên. Thờng ngời ta hay lấy theo tiêu thức cuối cùng là số lợng công nhân
viên. ở Pháp, mức độ trung độ trung bình là một kiểm toán viên nội bộ cho 1000
17
công nhân viên. Tiêu chuẩn theo nhân sự này chỉ ra rằng, không hẳn chỉ có sự
phức tạp của những vấn đề kỹ thuật, tài chính hay thơng mại quyết định cho sự tồn
tại của đội ngũ kiểm toán viên nội bộ, mà vấn đề quan trọng hơn hết là khoảng
cách giữa Ban giám đốc và các cấp thi hành công việc trong doanh nghiệp.
Khoảng cách này có thể dẫn đến sự biến dạng của những thông tin phản hồi về
Ban giám đốc hay sự hiểu sai các quyết định của Ban giám đốc. Bằng việc kiểm
tra, giải thích các thông tin này của hệ thống kiểm toán nội bộ sẽ làm giảm bớt
hiện tợng phân tán vốn và sai lệch thông tin không thể tránh khỏi trong các doanh
nghiệp lớn.
Phạm vi hoạt động hay sự phân tán về địa lý.
Độc lập với quy mô của doanh nghiệp, việc phân tán theo địa lý của các bộ
phận, đơn vị cũng là một tiêu chuẩn chủ yếu cho việc xây dựng hệ thống kiểm
toán nội bộ, nếu xét theo khía cạnh chất lợng thông tin. Nhiều doanh nghiệp có thể
Nh vậy kiểm toán nội bộ là cần thiết để đảm bảo rằng các chính sách quản lý
đợc tuân thủ trong tất cả các phòng, ban và các đơn vị trực thuộc.
Năng lực, trình độ của nhân viên.
Ngay cả khi những doanh nghiệp lớn, phân tán về mặt địa lý và chính sách
quản lý là phân quyền thì tất cả các thông tin đều có thể tin cậy nếu nh có một đội
ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ, năng lực cao và đồng nhất, cũng nh khả năng
thích ứng cao. Tuy nhiên, trong thực tế không phải bao giờ doanh nghiệp cũng có
đội ngũ cán bộ hội đủ những điều kiện cần thiết. Đặc biệt, trình độ năng lực là
thoả đáng tại một thời điểm nào đó, có thể không còn phù hợp với những đòi hỏi
mới phát sinh từ sự phát triển của doanh nghiệp. Kiểm toán viên nội bộ có thể hạn
chế các rủi ro, sai sót do trình độ kém của nhân viên bằng cách mở ra những khoá
đào tạo về mục tiêu, các thủ tục cần tuân thủ và bằng cách trình bày giải thích cho
các nhân viên về những sai sót đã phát hiện ra.
Các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Các rủi ro, sai sót về thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu tồn tại ở những
doanh nghiệp có nhiều lĩnh vực hoạt động. Trên thực tế, vì muốn có các thủ tục
đồng nhất cho tất cả các lĩnh vực hoạt động, nên các thông tin nhận đợc có thể
không phản ánh trung thực tình hình trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Các sai
sót này chủ yếu là các thông tin liên quan đến chu trình sản xuất, kinh doanh và
việc xác định các chuẩn mực (định tính và định lợng). Kiểm toán viên nội bộ có
thể nêu lên việc đa ra các thủ tục cung cấp thông tin riêng cho từng lĩnh vực hoạt
động.
Các tiêu chuẩn khác.
Cần thấy rằng, ngoài các tiêu chuẩn hợp lý nói trên, việc thiết lập bộ phận
kiểm toán nội bộ trong thực tế còn có các lý do và nguyên nhân chủ quan của
doanh nghiệp. Vì muốn đề cao uy tín của doanh nghiệp đôi khi dẫn đến việc gán
chức danh kiểm toán viên nội bộ cho ngời chỉ làm chức năng kiểm soát hành
chính cụ thể. Trong một số trờng hợp, bộ phận kiểm toán nội bộ đợc sử dụng nh
một nơi dừng chân tạm bợ của cán bộ trớc khi chuyển đi nơi khác. Đáng lẽ, bộ
- Phải đảm đủ về số lợng nhân viên trong bộ phận kiểm toán cũng là một
vấn đề quan trọng.
Số lợng nhân viên kiểm toán có thể đợc xác định qua công thức sau:
Số lợng nhân viên KTNB =
k
btai
n
i
=
+
1
*
Trong đó:
+ ai: Thời gian cần thiết để tiến hành kiểm toán một hoạt động hoặc một bộ
phần của doanh nghiệp bao gồm cả thời gian kiểm toán dự tính, thời gian đi
lại nếu có.
+ t: Tần suất kiểm toán các bộ phận hoặc các hoạt động tơng ứng/năm.
+ b: Thời gian dự kiến phát sinh cho các hoạt động đào tạo, nghỉ phép, hội
họp.......
+ k: Thời gian làm việc trung bình của một kiểm toán viên /năm.
+ n: Tổng số bộ phận hoặc hoạt động cần đợc kiểm toán.
- Điều quan trọng trong tổ chức kiểm toán nội bộ là phải xác định quy mô của
doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thực sự cần bộ máy kiểm toán nội bộ hay không,
quy mô của doanh nghiệp nh thế thì bộ máy kiểm toán nội bộ nên có quy mô nh
thế nào thì thích hợp...
- Tùy theo cơ cấu của doanh nghiệp nh thế nào mà tổ chức kiểm toán nội bộ cho
phù hợp sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít nhất.
- Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải quán triệt nguyên tắc tập trung dân
chủ: Tập trung dân chủ thích ứng với từng bộ phận kiểm toán.
Tất nhiên, Uỷ ban kiểm toán hoặc ngời phụ trách chỉ có chức năng tổ chức, chỉ
đạo thực hiện công việc kiểm toán. Ngời thực hiện kiểm toán nội bộ là những
kiểm toán viên khônng chuyên nghiệp trong đơn vị hoặc chuyên gia (giám định
viên kế toán) từ bên ngoài. Từ đó, có thể có hai loại hình tổ chức kiểm toán nội bộ
cơ bản là Hội đồng nội kiểm (hay bộ phận kiểm toán nội bộ) và Hội đồng các
Giám định viên kế toán (hoặc Giám sát viên Nhà nớc).
Hội đồng nội kiểm hay bộ phận kiểm toán nội bộ là mô hình phổ biến đặc
biệt ở các nớc Bắc Mỹ. Thành viên của bộ phận này là các kiểm toán viên nội bộ.
Số lợng và cơ cấu các thành viên tuỳ thuộc vào quy mô của đơn vị, vào nhiệm vụ
kiểm toán nội bộ cụ thể trong từng thời kỳ. Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện tất cả
các công việc do Uỷ ban kiểm toán giao cho kể cả việc xây dựng hoặc hoàn thiện
quy chế kiểm toán nội bộ (nếu có), tổ chức thực hiện đều đặn và có hiệu lực quy
chế đã ban hành và cả công việc đột xuất khác.
21
Mô hình này có nhiều u điểm và rất thích hợp với các doanh nghiệp có quy
mô lớn, Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để phát huy tính u việt này là chất lợng
của đội ngũ kiểm toán viên.
Hội đồng giám định viên kế toán (hoặc Giám sát viên Nhà nớc) là mô hình
ứng dụng phổ biến ở các xí nghiệp Nhà nớc và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Trong trờng hợp này, ngời thực hiện công việc kiểm toán có thể là kiểm toán viên
chuyên nghiệp (hành nghề) thậm chí ở một số nớc Tây Âu, kiểm toán viên Nhà n-
ớc trong các xí nghiệp công và doanh nghiệp Nhà nớc đợc biên chế trong bộ máy
kiểm toán Nhà nớc.
Mô hình này rất phù hợp với các xí nghiệp công, các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ không cần thiết biên chế kiểm toán viên nội bộ. Nó cũng thích hợp với các
tổ chức kinh tế Nhà nớc do tính độc lập của kiểm toán viên bên ngoài trong kiểm
toán nội bộ doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho công việc của kiểm toán Nhà n-
ớc va phát huy đợc thế mạnh nghề nghiệp của các chuyên gia giỏi bên ngoài. Tuy
nhiên, trong trờng hợp này chi phí kiểm toán thờng cao do phải thuê nhân viên và
Mô hình 1: Mô hình bộ máy KTNB theo quan điểm này nh sau
Mô hình trên đợc coi là mô hình lý tởng, nó bảo đảm điều kiện về tính độc
lập của kiểm toán nội bộ nhng không có tính thực tế. Đó là vì Hội đồng quản trị và
Ban kiểm soát không trực tiếp điều hành và quản lý doanh nghiệp, hơn nữa, Hội
đồng quản trị ở Tổng Công ty nhà nớc hiện nay còn nhiều thành viên kiêm chức
nên không đảm bảo đợc tính độc lập đặt ra.
Quan điểm thứ hai: Bộ phận KTNB nên đặt trực thuộc (Tổng) Giám đốc
của doanh nghiệp.
Quan điểm này dựa trên cơ sở kiểm toán nội bộ là một bộ phận quan trọng
của doanh nghiệp, đặt tại doanh nghiệp, tiếp cận thờng xuyên, liên tục với mọi
hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá kệ thống kiểm soát nội bộ và phát hiện kịp
thời những sai sót, sơ hở, những điểm yếu để báo cáo kịp thời cho lãnh đạo để có
các kiện pháp khắc phục, hoàn thiện. Để đạt đợc mục tiêu, vai trò của kiểm toán
nội bộ cần phải đặt kiểm toán nội bộ trực thuộc cấp lãnh đạo cao nhất điều hành
hoạt động của doanh nghiệp.
23
Hội đồng Quản trị.
Bộ phận KTNB
Ban kiểm soát
Các bộ phận khác
Cán bộ quản lý
cấp trung gian
Ban Giám đốc
Cán bộ quản lý
cấp DN
Quan hệ trực thuộc
Quan hệ kiểm tra
trung gian
Cán bộ quản lý cấp
DN
Quan hệ trực thuộc
Quan hệ kiểm tra
Luồng thông tin phản hồi
1.4.3 Tuyển chọn, huấn luyện và phát triển đội ngũ kiểm toán viên nội bộ.
Công việc kiểm toán nội bộ đợc thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ - th-
ờng là những ngời làm nghề kiểm toán không chuyên nghiệp, họ có thể là những
kế toán viên giỏi, những nhà quản lý có kinh nghiệm, những kỹ thuật viên có hiểu
biết về những lĩnh vực có liên quan đến kiểm toán đặc biệt là các loại hình công
nghệ, các quy trình kỹ thuật, các định mức... Các kiểm toán viên nói chung, kiểm
toán viên nội bộ nói riêng luôn phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp khắt khe. Chính vì vậy, những kiểm toán viên là những ngời có trình độ đ-
ợc tuyển chọn, sàng lọc, huấn luyện và thờng xuyên đợc bồi dỡng phát triển đáp
ứng đợc các yêu cầu nghề nghiệp. Đội ngũ kiểm toán viên là linh hồn để vận hành
hệ thống kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp, chính vì thế mà đối với vấn đề này
trong tổ chức kiểm toán nội bộ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Bàn về kiểm
toán viên nội bộ ta đề cập đến khía cạnh sau:
a) Tuyển chọn nhân viên:
Đây là công việc quan trọng trong giai đoạn tổ chức hoạt động hệ thống kiểm
toán nội bộ và có ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng hoạt động sau này. Nhân viên
kiểm toán nội bộ có thể đợc tuyển từ bên ngoài hay từ bên trong đơn vị.
Bên trong đơn vị: Nhân viên trong đơn vị đợc coi là quen thuộc với các
nghiệp vụ và trình tự hoạt động của tổ chức và có thể đợc tuyển vào phòng kiểm
toán nội bộ theo một trong các cách sau:
- Đề bạt kiểm toán viên nội bộ: Phơng pháp này đợc thực hiện nếu tiến
hành đào tạo các nhân viên trong biên chế qua các chơng trình huấn luyện
và phát triển tích cực và có hiệu quả.