Truyền thuyết Phi Bồng Nguyên soái và lễ hội đền Sinh, đền Hoá ở Lê Lợi - Chí Linh - Hải Dương - Pdf 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Văn hoá là cái còn lại sau khi mọi thứ đã qua đi. Đồng thời cũng là cái
còn thiếu sau khi chúng ta đã đầy đủ tất cả. Có thể nói, văn hoá là tài sản vĩnh
hằng cao quý nhất cho mọi thời đại. Trong bản sắc văn hoá quý giá ấy thì văn
hoá tâm linh thể hiện ở các di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng là nét văn
hoá đặc sắc nhất.
Lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứa đựng
từ trong mình rất nhiều những di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng có giá trị,
đó là những tài sản vô giá của dân tộc. Khẳng định những giá trị văn hoá vĩnh
hằng, phản ánh đầy đủ lịch sử, truyền thống, bản sắc văn hoá Việt Nam.
Xứ Đông nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, là một trong các tỉnh ở
đồng bằng Bắc Bộ. Do vị trí địa lý, chiến lược thuận lợi, gắn liền với những
lịch sử truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Nơi đây vẫn
còn lưu giữ những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống, những công trình di
tích lịch sử văn hoá và danh thắng đã được cả dân tộc giữ gìn và bảo vệ: Di
tích lịch sử Kiếp Bạc – Côn Sơn, đền An Phụ, đền thờ Yết Kiêu, Chử Đồng
Tử – Tiên Dung, chùa Thanh Mai, đền Chu Văn An, đền Sinh, đền Hoá… Do
được sự quan tâm của Nhà nước cùng với những ý nguyện tâm linh của toàn
dân nên những giá trị văn hoá đó vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay.
Huyện Chí Linh nằm trong vùng văn hoá xứ Đông, nơi gắn liền với
nhiều anh hùng lịch sử dân tộc cùng với một bề dầy văn hoá, đã tạo nên một
vùng đất Địa linh nhân kiệt, vùng đất của truyền thuyết, vùng đất của tâm
linh. Trong tổng thể các di tích lịch sử thì đền Sinh, đền Hoá ở xã Lê Lợi
được coi là lâu đời nhất ở vùng đất này gắn với Truyền thuyết Phi Bồng
Nguyên soái. Cùng với thời gian, Truyền thuyết Phi Bồng Nguyên soái vẫn
được truyền tụng và ngợi ca từ đời này sang đời khác, trải rộng ra nhiều địa
phương, vùng miền trong cả nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2

công dựng nước và giữ nước. Công trình này cũng chính là một nén hương
thành kính tưởng nhớ đến cha ông, là cây cầu nối giữa lịch sử đầy oai hùng
với hiện tại, góp phần làm cho mảnh đất Chí Linh mãi là niềm tự hào của
người viết nói riêng và của người dân Hải Dương nói chung.

II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU.
Quá trình nghiên cứu Truyền thuyết Phi Bồng Nguyên soái đã được ghi
chép qua nhiều thế kỷ với nhiều hình thức khác nhau. Việc ghi chép, lưu
truyền và nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội đã thu hút
nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Lịch sử, văn hoá, khảo cổ
học, văn học dân gian… Mặc dù vậy, giữa công việc nghiên cứu với tâm thức
của người dân địa phương vẫn còn chưa trùng khít tạo nên tâm linh thờ cúng
bị phân tán và chưa nhất quán.
Trong cuốn “Hải Dương di tích và danh thắng” (Do Sở Văn hoá thông
tin tỉnh Hải Dương phát hành, 1999) [36/96] cho rằng đền Sinh, đền Hoá thờ
người anh hùng Chu Phúc Uy – uy vũ đại tướng quân, trấn thủ xứ Hải Dương
đã có công giúp Lý Nam Đế (Thế kỷ thứ VI) khởi nghĩa ở An Thảo chống quân
Lương đô hộ và ông đã mất vào ngày 11 tháng 8. Đến triều Lý ông đã hiển
linh và phù trợ cho Lý Thái Tông(1028-1054) đánh dẹp được giặc Chiêm
Thành.
Trong cuốn “Truyện cổ dân gian Hải Dương”(Do Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh Hải Dương phát hành, 1998) cho rằng Phi Bồng Nguyên soái mang yếu tố
Nhiên thần, ngài được sinh ra trong khe đá, được trẻ chăn trâu phát hiện và do có
tranh chấp trong việc rước ngài về làng mình giữa trẻ trâu làng Mô và làng Ngái
nên ngài đã hoá. Vì vậy, người dân thấy lạ nên xây hai ngôi đền là đền Sinh (nơi
ngài sinh ra) và đền Hoá (nơi ngài bay về trời). Sau đó ngài cũng đã hiển linh và
phù trợ cho Trần Hưng Đạo đánh thắng giặc Nguyên Mông lần 2 và 3.
Đặc biệt trong cuốn “Di sản Hán Nôm. Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng
Sơn” (Do Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Hải Dương – Ban quản lý di tích Côn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
ta một nguồn tư liệu phong phú, giúp cho việc nghiên cứu Truyền thuyết Phi
Bồng Nguyên soái được sâu sắc hơn. Đặc biệt trong các công trình nghiên cứu
trước đây, các tác giả chưa chú ý đến yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh
hưởng nhất định đến truyền thuyết và lễ hội đền Sinh, đền Hoá. Chính yếu tố
này tạo nên chiều sâu của truyền thuyết, là quá trình khúc xạ của văn hoá bản
địa trong việc bảo tồn và phát triển một di sản văn hoá.
Về lễ hội tại đền Sinh, đền Hoá quá trình nghiên cứu còn chưa có
nhiều. Năm 2001 Phòng Văn hoá- Thông tin huyện Chí Linh đã biên soạn và
xuất bản cuốn “Lễ tục - Lễ hội trên địa bàn huyện Chí Linh”. Đây là cuốn
sách tập trung miêu tả hai loại lễ hội: Lễ hội tín ngưỡng phong tục và lễ hội
lịch sử. Lễ hội đền Sinh, đền Hoá thuộc lễ hội tín ngưỡng phong tục mang
đậm màu sắc văn hoá tín ngưỡng thờ cúng những vị Thần bảo trợ, trợ giúp
nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, có sự xen kẽ của lễ hội
lịch sử.
Điểm lại quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về Truyền thuyết Phi Bồng
Nguyên soái từ trước tới nay đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu đó có lúc thiên về văn bản, có lúc thiên về truyền thuyết
dân gian nhưng chưa toàn diện và sâu sắc. Hầu như truyền thuyết chỉ dừng lại
ở việc sưu tầm góp phần khẳng định tín ngưỡng hoà chung với những chiến
công trong lịch sử dân tộc gắn với địa danh thắng giặc trên địa bàn. Có thể
khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề này. Đó là một cách
tìm về với cội nguồn, khám phá cái hay, cái đẹp của nền văn hoá dân gian quê
nhà. Vì thế, khảo sát, mô tả một cách hệ thống, chi tiết, cụ thể truyền thuyết
và lễ hội đền Sinh, đền Hoá ở Lê Lợi – Chí Linh – Hải Dương là công việc
vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc góp phần làm sáng
tỏ bản chất của thể loại truyền thuyết và dấu ấn của văn hoá tâm linh, tôn
giáo, tín ngưỡng trong quá trình hình thành, lưu truyền, phát triển.

III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN.

khăng khít với lễ hội, tín ngưỡng và tôn giáo. Từ đó đi tìm những giá trị cơ
bản như nội dung, nghệ thuật, đề tài, môtíp cơ bản, từ đó có cái nhìn tổng
quan nhất về Truyền thuyết Phi Bồng Nguyên soái trên cả phương diện Nhiên
thần và Nhân thần.

2. Phạm vi tƣ liệu
Tư liệu chính của luận văn là tất cả các truyền thuyết dân gian về Phi
Bồng Nguyên soái. Tư liệu chúng tôi lấy từ ba nguồn chính: Một là các truyền
thuyết trong các tổng tập, tuyển tập truyền thuyết, truyện cổ dân gian người
Việt. Hai là trích dẫn các công trình nghiên cứu. Ba là các tài liệu sưu tầm điền
dã chưa công bố bằng văn bản viết. Các tập sách biên soạn truyền thuyết gồm:
Truyện dân gian Hải Dương – Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hải Dương
(Năm 2000).
Di sản Hán Nôm. Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn – Nhiều tác giả,
NXB Chính trị Quốc gia (Năm 2006).
Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 4,5 – Kiều Thu Hoạch (chủ
biên – Năm 2004).
Nghiên cứu truyền thuyết địa phương trong mối quan hệ với lễ hội,
chúng tôi có dựa trên tài liệu:
Hải Dương di tích và danh thắng – Sở văn hoá thông tin Hải Dương
(Năm 1999).
Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam – Nhiều tác giả (Năm 2000).
Lễ tục – Lễ hội trên địa bàn huyện Chí linh – Phòng văn hoá thông tin
huyện Chí Linh (Năm 2001).

V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Phương pháp tổng hợp thống kê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Phương pháp cụ thể:
+ Sưu tầm.

coi là hình thức tôn giáo sơ khai trong tâm thức của con người. Đó chính là
thời kỳ con người sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên nên trong ý thức
“trẻ thơ” của mình, họ sùng bái tự nhiên, mọi hiện tượng trong cuộc sống, họ
đều cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, có mọi quyền năng tạo ra mọi hiện
tượng như mưa, gió, sấm, chớp… Chính vì vậy, mà trong thần thoại Hy Lạp
có tất cả các vị thần đảm nhiệm mọi công việc từ lớn nhất đến nhỏ nhất, từ vật
chất đến tinh thần như: thần tình yêu, thần chiến tranh, thần gió, thần sét…
Ngoài những yếu tố siêu phàm của mình thì họ cũng rất con người, những vị
thần đó biết yêu, ghét, giận hờn, ghen tỵ… Thần thoại chính là một trong
những hoạt động sáng tác đầu tiên của con người có tính nghệ thuật nhưng
không mang tính tự giác. Xét ở khía cạnh văn hoá thì thần thoại chính là văn
hoá nguyên thuỷ, sơ khai của con người. Mặc dù thần thoại là những sáng tác
có tính nghệ thuật và chưa mang tính tự giác nhưng lại chứa đựng rất nhiều
yếu tố tiền đề của tôn giáo, khoa học, triết học, nghệ thuật, cả những thiết chế
ấu trĩ chính trị xã hội buổi đầu… Từ những nhận thức sơ khai đó mà con
người mới có ý thức nhận biết thế giới tự nhiên và từng bước chinh phục thế
giới tự nhiên, xã hội. Vì vậy, từ xa xưa con người đã biết trị thuỷ, cấy lúa,
thuần dưỡng vật nuôi… tự tạo ra cho mình của cải vật chất, biết sống hoà hợp
với tự nhiên .
Khi con người thoát khỏi cuộc sống bầy đàn, bước vào cuộc sống bộ
tộc, họ đã nhận thức được thế giới sâu sắc hơn, ý thức được về bản thân, đã
nhận biết được cuộc sống con người là mong manh, ngắn ngủi còn vũ trụ thì
vững chắc, vĩnh viễn… Vì vậy, họ sáng tạo ra truyền thuyết và sử thi nhằm ca
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
ngợi con người, đặc biệt là những vĩ nhân, anh hùng dân tộc để họ sống mãi.
Trong cuốn Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam - NXB Khoa học Xã hội, 1971. Tác giả Kiều Thu Hoạch đã khẳng
định: “Truyền thuyết là một thể tài của Văn học dân gian, thể tài chuyện kể
truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt kể của nó là kể
lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật

lực lượng tự nhiên, xung đột giữa cộng đồng này với cộng đồng kia. Để giải
quyết mâu thuẫn đó tác giả dân gian thơ mộng nó bằng một mối tình không
cân xứng, tranh giành người đẹp, công lao trong đánh giặc, ở mỗi thời đại
khác nhau nó được kể theo tâm lý của thời đại đó, do vậy trong truyền thuyết
vẫn có cái lõi của thần thoại. Từ lõi của thần thoại được truyền thuyết hoá nó
sẽ kéo theo các yếu tố khác trong đời sống xã hội đã được nhận thức cao hơn,
ngoài để ca ngợi thì truyền thuyết còn để kể sử truyền đời, tôn vinh, tạo sự
cấu kết cộng đồng, xây dựng cộng đồng mang tính truyền thống (cộng cảm).
Càng về sau này thì trong truyền thuyết còn có sự tác động nhiều hơn của các
yếu tố xã hội như: tín ngưỡng, tôn giáo, văn hoá vùng miền. Chính những yếu
tố này tạo cho truyền thuyết có nhiều dị bản và nhiều vấn đề phải nghiên cứu
ở cấp độ liên ngành.
Do truyền thuyết xuất phát từ thần thoại nên nó vẫn có thi pháp thần
thoại: Thụ thai thần kỳ, sinh ra một cách thần kỳ, tướng mạo khác người,
hành trạng và chiến công thần kỳ (kết hợp giữa đời thường và phi thường),
hoá thân, hiển linh (bắt đầu ở đâu kết thúc ở đó – Ví dụ như Thánh Gióng con
trời và kết thúc cũng trở về trời). Đơn vị hạt nhân tạo nên những nhân vật ấy
là những môtíp (là một hành vi, hành động, kết quả nào đấy, nó có tính khác
thường, tạo nghĩa, mang nghĩa và được lặp đi lặp lại). Ngoài yếu tố mang thi
pháp của thần thoại thì truyền thuyết cũng ảnh hưởng đậm nét của tôn giáo
như: Phật giáo (luôn khuyến khích con người làm điều thiện, nhân nào quả
đấy…), Nho giáo (hăm hở nhập thế, tôn ti chặt chẽ, xã hội lý tưởng có vua
sáng tôi hiền…), Đạo giáo (luôn biết điểm dừng để sống cùng thiên nhiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
hưởng thú thanh nhàn, không tranh giành, không ham muốn…). Truyền
thuyết còn có sự ảnh hưởng của truyền thống văn hoá, tín ngưỡng người Việt
(nền văn hoá lúa nước) như tôn vinh, lưu giữ, thờ cúng công trạng của cha
ông, tôn thờ đá. Đặc biệt trong bối cảnh đất nước luôn bị đe doạ bởi giặc
ngoại xâm thì ở các vùng miền, trong mỗi cá nhân ý thức về sự tồn tại độc lập
và rạch ròi một quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam có lẽ đã xuất hiện từ rất sớm,

cốt lõi hiện thực sau khi bác bỏ cái lớp ảo tưởng kia”[14/95]. Như vậy, sự
xuất hiện cảm hứng lịch sử đã trở thành một nét đặc trưng nổi bật của truyền
thuyết.
Trên thế giới việc phân loại truyền thuyết đã được các nhà nghiên cứu
đưa ra rất cụ thể dựa vào những đặc trưng phản ánh của nó. Ở Việt Nam cũng
có nhiều nhà nghiên cứu phân loại truyền thuyết như tác giả Ngô Chí Quế
chia truyền thuyết ra làm 3 tiểu loại:
Truyền thuyết lịch sử.
Truyền thuyết anh hùng.
Truyền thuyết các danh nhân văn hoá.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian tập 2 thông qua
các mốc của lịch sử để chia truyền thuyết ra làm 4 tiểu loại:
Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang.
Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc.
Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ.
Truyền thuyết về thời Pháp thuộc.
Trong luận án Tiến sỹ của Trần Thị An, tác giả phân chia truyền thuyết
thành 5 tiểu loại là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
Truyền thuyết nguồn gốc giống nòi.
Truyền thuyết anh hùng.
Truyền thuyết tôn giáo.
Truyền thuyết tín ngưỡng.
Truyền thuyết địa danh.
Trong luận văn Thạc sỹ Khảo sát truyền thuyết dân gian Hải Dương
của tác giả Phùng Thị Thanh Huyền có đề nghị phân chia truyền thuyết thành
4 tiểu loại:
Truyền thuyết lịch sử.
Truyền thuyết danh nhân văn hoá.
Truyền thuyết địa danh.

chỉ có tài chỉ huy mà còn là một người anh hùng luôn đứng đầu trận tuyến
chống quân Nguyên Mông xâm lược. Đó là vua Lê Đại Hành khoác áo bào để
chống lại quân Tống, giữ yên bờ cõi cho đất nước. Ngoài ra, một đặc điểm nổi
bật trong Truyền thuyết Phi Bồng Nguyên soái mang tính văn hoá làng Việt
Nam, vừa thể hiện sự gắn kết giữa làng với nước trong sự kết hợp chặt chẽ và
tình nguyện của nhân dân.
2. Dấu ấn tín ngƣỡng, tôn giáo trong truyền thuyết.
Tôn giáo phát triển từ một học thuyết đạo đức đến một hệ tư tưởng.
Con đường phát triển của tôn giáo như vậy trở nên là đối tượng nghiên cứu
trước hết của lịch sử triết học, lịch sử tư tưởng, sau mới là đối tượng của
thông sử. Các triết thuyết và tôn giáo lớn trong lịch sử loài người xưa nay
đều có tác động lớn tới số phận của văn học, cho nên việc nghiên cứu mối
quan hệ qua lại giữa các tôn giáo, học thuyết với văn học trở nên là một công
việc quen thuộc và hẳn đó là một công việc mang tính chất liên ngành. Chúng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
ta cũng phải khẳng định rằng việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và
các học thuyết tôn giáo, triết học hay chính trị, đạo đức đã trở thành một con
đường nhiều người đi, số lượng công trình khoa học là không đếm hết được.
Trong văn học nói chung và Văn học dân gian nói riêng không có sự
rạch ròi, mạch lạc như ta mong muốn. Trong một tác phẩm có thể có sự đan
cài những cương yếu (từ của Giáo sư Trần Đình Hượu) của nhiều giáo lý
Phật, Nho hay Đạo giáo. Văn học Việt Nam nằm trên địa bàn Đông Nam Á
nên việc ảnh của các học thuyết có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Trung Quốc là
điều đương nhiên. Mà trong quá trình tồn tại của nó ở nước ta cũng đã bị Việt
hoá cho phù hợp với phong tục, tập quán. Chính vì điều đó mà khi ảnh hưởng
của những giáo lý này vào trong văn học nó đòi hỏi cần phải dựa trên nhiều
các lĩnh vực khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi không có tham vọng đi
tìm hiểu sâu ảnh hưởng của tôn giáo vào toàn bộ nền văn học hay một thời kỳ,
một giai đoạn văn học trên cơ sở của ý thức hệ mà chỉ nghiên cứu ở mức độ
khiêm tốn là ảnh hưởng của nó đến một truyền thuyết cụ thể dựa trên cương

1. Vài nét về vùng đất xứ Đông.
Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng văn hoá xứ Đông, nơi gắn liền với
tên tuổi nhiều anh hùng dân tộc, nhiều danh nhân văn hoá. Là vùng đất có
nhiều sinh hoạt văn hoá đa dạng được hình thành từ hàng nghìn năm trước,
vùng đất này còn lưu giữ hàng nghìn di tích lịch sử, di tích cách mạng gắn
liền với những chiến tích oai hùng của bao thế hệ dựng nước và giữ nước.
Hải Dương nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc, thuộc các tỉnh đồng
bằng Bắc Bộ. Mặc dù Hải Dương hiện nay so với thừa tuyên Hải Dương thời
Lê sơ hay tỉnh Hải Dương khi mới thành lập, năm Minh Mệnh 12 (1831) diện
tích chỉ còn 1.661km2 bằng 50% diện tích cũ với 11/18 huyện ban đầu. Cùng
với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì hiện nay Hải Dương đã thay
da đổi thịt với một thành phố và 11 huyện trực thuộc. Bên cạnh đó Hải Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
còn là một trong những tỉnh có nguồn thu hút đầu tư nước ngoài lớn với nhiều
khu công nghiệp tạo công ăn việc làm cho hàng vạn con em trong tỉnh, đóng
góp vào ngân sách Nhà nước mỗi năm hàng trăm tỷ đồng. Cùng với sự phát
triển chung của cả nước thì trong tương lai Hải Dương sẽ là một trong những
vùng trọng điểm về kinh tế của miền Bắc.
Cùng với những thành tích trong phát triển kinh tế thì Hải Dương cũng
là tỉnh có bề dày văn hoá vật thể và phi vật thể được gìn giữ đến ngày nay.
Hiện nay ở Hải Dương đã có trên 1.000 di tích được kiểm kê, đăng ký, bảo vệ
theo quy định của pháp lệnh, 97 di tích và cụm di tích được xếp hạng quốc
gia, bằng 4% số di tích được xếp hạng của cả nước. Trong số những di tích đã
xếp hạng có 47 đình, 27 chùa, 19 đền, 4 miếu và nghè, 1 nhà thờ họ, 1 cầu đá,
4 di tích về lịch sử cách mạng, 5 danh thắng, 7 lăng mộ, 1 văn miếu, trong đó
có 2 di tích xếp vào hạng đặc biệt quan trọng là Côn Sơn – Kiếp Bạc. Cùng
với một loạt những danh thắng thì Hải Dương cũng được biết đến là nơi phát
tích của thiền phái Trúc Lâm, đến thế kỷ XV được ghi trên bản đồ như một
danh lam cổ tích. Ngoài ra Hải Dương cũng là quê hương của những làn điệu
hát chầu văn mượt mà đầy tình tứ, hàng trăm những truyền thuyết như đưa

hàng năm đón hàng trăm ngàn du khách trong nước và quốc tế về thăm quan
tưởng niệm.
Di tích lịch sử văn hoá và danh lam chùa Côn Sơn, nơi thờ thiền phái
Trúc Lâm tam tổ. Côn Sơn còn gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của vị anh
hùng dân tộc Nguyễn Trãi – nhà chiến lược, nhà quân sự, nhà văn hoá lớn mà
tâm hồn sáng như Sao Khuê.
Cạnh Côn Sơn qua dãy núi Ngũ Nhạc, phía Bắc đến xã Lê Lợi là đến với
sự tích đền Sinh - đền Hoá. Nơi thờ Đức Thánh Phi Bồng Hạo Thiên tướng quân
giáng hạ đã có công giúp vua Lý Nam Đế chống lại ách đô hộ của nhà Lương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
(thế kỷ VI), phù trợ cho Lê Đại Hành đánh thắng quân Tống xâm lược (thế kỷ
X) và giúp Trần Hưng Đạo đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược lần 2, 3
(thế kỷ XIII). Di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992.
Di tích Đền Cao nơi thờ 5 anh em họ Vương đã có công giúp vua Lê
Hoàn đánh giặc Tống thế kỷ thứ X. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm
1988. Đây là một quần thể gồm 5 đền thuộc xã An Lạc.
Di tích Chu Văn An, nơi thờ thầy giáo Chu Văn An - ông tổ của ngành
giáo dục Việt Nam. Di tích nằm trên dãy núi Phượng Hoàng thuộc xã Văn An,
là một trong Bát cổ Chí Linh, gọi là Tiều ẩn cổ bích. Di tích được xếp hạng
cấp quốc gia năm 1998.
Giữa các di tích lớn ấy còn có vô số những di tích đã được xếp hạng
cấp quốc gia như di tích chùa Thanh Mai, nơi thờ Đệ Nhị Phật Tổ của thiền
phái Trúc Lâm tam tổ – Pháp Loa, thuộc xã Hoa Thám, được xếp hạng cấp
quốc gia năm 2000. Di tích Đền Gốm – nơi thờ danh tướng Trần Khánh Dư,
một tướng giỏi thời Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên Mông, di tích thuộc xã
Cổ Thành nằm ngay bên dòng sông Kinh Thầy lịch sử, di tích được xếp hạng
cấp quốc gia năm 1994. Đền Quốc Phụ – nơi thờ danh tướng Trần Quốc Chẩn
vừa là danh tướng vừa là bố vợ Trần Dụ Tông, di tích thuộc xã Chí Minh,
được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2002. Di tích Đình Chí Linh - đây là
ngôi đình cổ duy nhất của Chí Linh được xếp hạng về di tích và lịch sử, di

(thế kỷ XV), nằm ở phía Bắc của huyện Chí Linh, là một xã thuần nông, đất
rộng, người không đông, với 1/2 diện tích đồi rừng và cây ăn quả. Xã Lê Lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
là một trong những xã còn nghèo so với mặt bằng chung của huyện nhưng
trong thời gian vừa qua đã có nhiều những thay đổi vượt bậc trong việc phát
triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc phát triển du lịch đã
làm thay đổi bộ mặt của xã. Hiện nay, xã Lê Lợi là một trong 17 xã của huyện
có sản lượng nông nghiệp cao nhất và là xã có các làng đạt làng văn hoá nhiều
nhất trong các xã trên địa bàn huyện. Cùng với phát triển nông nghiệp thì xã
còn là nơi phát triển kinh tế lâm nghiệp mạnh mẽ dựa trên điều kiện tự nhiên
sẵn có của vùng. Chính vì vậy, đã tạo nên một cảnh quan thiên nhiên hỗ trợ
rất tốt để xã phát triển du lịch, văn hoá tín ngưỡng.
3.2. Địa danh lịch sử huyền thoại.
Lê Lợi có danh lam thắng cảnh, có di tích lịch sử văn hoá và danh nhân
nổi tiếng. Đình, đền, chùa ở Lê Lợi được xây dựng chủ yếu vào cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX. Cá biệt có ngôi đền xây dựng từ thế kỷ thứ VI. Cả xã có
7 ngôi đình, 7 ngôi chùa và 3 đền. Thôn nào cũng có đình và chùa.
Đình, đền, chùa ở Lê Lợi được xây dựng theo lối kiến trúc cổ, với
những nét văn hoa tinh xảo, trạm khắc tinh vi, khéo léo thể hiện bàn tay tài
hoa của người dân nơi đây.
Ở Lê Lợi đình đều thờ thần, chùa thờ Phật, đền thờ những người có
công với dân với nước.
“…Trong số những đình, đền, chùa ở Lê Lợi nổi bật là đền Sinh, đền
Hoá. Đền Hoá thờ Đức Tiên Đế Đại Vương, Phi Bồng Nguyên soái - đại tướng
quân, Thượng - Thượng - Thượng đẳng thần và Chu Phúc Uy có công giúp dân
đánh giặc cứu nước. Khánh đản vào ngày 8/5 âm lịch, nhân dân mở hội truyền
thống.
Đền Sinh, đền Hoá là cơ sở của Việt Minh bí mật của xã, là nơi mở lớp
lý luận chính trị cho cán bộ năm 1945 – 1946, là nơi đặt công binh xưởng sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23

hiện vào thời Lê Đại Hành (thế kỷ thứ X). “…Trong một lần Lê Đại Hành
tuần du qua địa phận trang Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang,
xứ Kinh Bắc và nghỉ tại đây. Đêm đó vua mơ màng nhìn lên thấy ánh sáng
mầu đỏ đầy chùa. Trên điện kim thân sắc tướng toạ mười mấy vị, bên trái là
Bát bộ Kim Cương, bên phải là mười vị La Hán, một vị kim thân sắc tướng
nói: “Đêm qua Thiên đình tụ hội bách thần nghị định về việc của nước Nam
dưới hạ giới. Cho phép một thiên tinh giáng trần để cứu vớt đại hạn ở dân
gian , nhưng xét thấy bảy tám đời nay ở nước Nam chưa từng có một nhà nào
gây nền phúc đức. Nay tại đầu khu đất trang Chi Ngại, Yên Mô, huyện
Phượng Nhãn, xứ Kinh Bắc có một hòn đá vuông, như chiếc chiếu lớn, bên
ngoài đột khởi lên ba toà khom khom như hình mặc áo gấm. Nơi đây địa thế
sơn thuỷ hữu tình, linh chung tú khí. Lời bài ký giáng xuống là hòn đá này,
đợi nhà nào không làm điều gì ác thì đầu thai xuất thế”. Thiên đế lập tức sai
Hắc Y nhi ở phương Bắc giáng hạ vào hòn đá.” [35/19].
Trong quá trình truyền tụng dân gian thì nhân dân cho rằng sự xuất
hiện của Phi Bồng Nguyên soái xuất hiện vào thời Tiền Lý (thế kỷ thứ VI).
“… Ở thời Tiền Lý. Bấy giờ là giờ Dần, ngày 8/5 âm lịch. Trẻ mục đồng
thường tụ tập chốn này, chợt nghe có tiếng trẻ con khóc ở tảng đá lớn bèn gọi
nhau đến đó thì thấy một hài nhi dáng vẻ khôi ngô, thiên tư đĩnh ngộ, nằm
trên chỗ lõm của hòn đá mà khóc vang như tiếng chuông lớn. Bọn trẻ bèn lấy
tay làm kiệu, lấy khăn vuông làm cờ rước về làng. Bỗng mưa gió sấm chớp
đùng đùng, cát bay đá cuộn khắp nơi. Đứa trẻ đó hét lên một tiếng vang rồi
vọt thẳng lên trời. Bọn trẻ đều nghe trên không trung có tiếng nói vọng rằng:
Ta là Phi Bồng Hạo Thiên đại tướng quân giáng hạ nhưng đã lộ trong cõi
trần thế nên lại phụng chiếu về chầu Thượng đế…” [36/93].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25
Về nội dung, truyền thuyết và thần tích cơ bản không có gì khác biệt,
sự khác biệt chỉ là thời gian xuất hiện của ngài. Nhưng về hình thức kể, thần
tích có lối kẻ dài dòng, tỉ mỉ, trong mỗi môtíp thần tích bao giờ cũng có nhiều
chi tiết hơn và trong một chừng mực nào đó có nghiêng về yếu tố ca ngợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status