LỜI MỞ ĐẦU
Một năm sau khi ra nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới, chúng ta đã
thấy rõ hơn cơ hội cũng như thách thức của việc là thành viên thứ một trăm
năm mươi của TWO. Cơ hội đó là chúng ta đã đưa được nền kinh tế của
chúng ta hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nên các doanh nghiệp Việt Nam
có cơ hội tham gia một sân chơi lớn. Được tự do cạnh tranh với các doanh
nghiệp nước ngoài, được hưởng những ưu đãi về thuế quan của các nước
thành viên trong tổ chức. Chúng ta cũng không phải đối mặt với những
hang rào thuế quan cũng như phi thuế quan của các nước như khi chúng ta
chưa phải là thành viên của tổ chức. Doanh nghiệp Việt Nam được cọ sát
với thị trường thế giới từ đó ngày càng lớn mạnh hơn và cùng với đó là nền
kinh tế nước ta phát triển nhanh hơn, mức sống của người dân cũng được
nâng cao.
Bên cạnh những thuận lợi chúng ta cũng gặp phải rất nhiều thách
thức. Đó là khi ra nhập WTO nền kinh tế Việt Nam mới chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, cho nên nền kinh tế
của chúng ta còn rất nôn trẻ. Cụ thể các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn
là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt
động trong nền kinh tế thị trường. Đã vậy các doanh nghiệp của chúng ta
vẫn bị ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế cụ. Đó là tư tưởng là ăn đôi khi còn
mang tính chụp dật. Tầm nhìn xa, tầm nhìn chiến lược còn hạn hẹp. Độ
nhạy bén, khả năng linh hoạt, tính thích ứng chưa cao. Trong khi đó khi gia
nhập WTO, chúng ta phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
thường lớn nhiều kinh nghiệm hoạt động trong kinh tế thị trường.vì vậy là
rất khó khăn cho các doanh nghiệp của
Tất cả những cơ hội cũng như thách thức đó tác động đên toàn bộ
nền kinh tế, không riêng ngành nghề nào,không riêng doanh nghiệp nào.
Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất nhà nước gập rất nhiều khó khăn.
Bởi vì, quy mô sản xuất nhỏ, năng xuất thấp, chất lượng sản phâm chưa
1
cao, chi phí sản xuất lớn, dịch vụ chưa chu đáo, chưa hoàn hảo hiểu biết thị
hàng chấp nhận thanh toán. Sản phẩm được làm ra được tiêu thụ thì tính
chất hữu ích của sản phẩm mới được xác định, khi đó, giá trị và giá trị sử
dụng mới được thực hiện, lao động của người sản xuất hàng hoá nói riêng
và của xã hội nói chung mới được thừa nhận. Nói tóm lại bản chất của hoạt
động tiêu thụ sản phẩm là làm cho sản phẩm chở thành hàng hoá và thoả
mãn nhu cầu của khách hàng cuối cùng.
• Vai trò của tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm thực hiện quá trình sản xuất có tính chu kỳ của
doanh nghiệp. Bởi vì, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối của quá trình sản
xuất, là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản
xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng.
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh do đó sản xuất
không phải cho bản thân mà là để cho thị trường. Tức sản xuất ra sản phẩm
3
để tiêu thụ. Vì vậy tiêu thụ sản phẩm là điều kiện quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Nếu sản phẩm không được tiêu thụ thì doanh
nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn không có đủ vốn đẻ sản xuất chứ chưa nói đến
việc mở rộng sản xuất. Nếu sản phẩm được tiêu thụ thì qua tiêu thụ hàng
hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và đồng thời
vòng chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hoàn thành. Tiêu
thụ giúp cho quá trình tái sản xuất được giữ vững và có điều kiện phát
triển.
Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo thực hiên các mục tiêu cơ bản của doanh
nghiệp như lợi nhuận, vị thế, an toàn. Thật vậy, số tiền thu được từ hoạt
động tiêu thụ sẽ giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí và có lợi nhuận. Tiêu thụ
sản phẩm là cơ sở để xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Nếu
sản phẩm của doanh nghiệp tiêu thụ tốt trên thị trường, doanh nghiệp sẽ
chiếm lĩnh được thị trường và doanh nghiệp sẽ có vị thế trên thị trường.
Ngược lại, sản phẩm tiêu thụ chậm hay không tiêu thụ được doanh nghiệp
sẽ không chiếm lĩnh được thị trường thì doanh nghiệp sẽ không có vị thế
Trong tiêu thụ cũng vấy doanh nghiệp có quyền quyết định tiêu thụ với
khối lượng bao nhiêu? Tiêu thụ ở đâu? Tiêu thụ vào thời gian nào? Tiêu
thu cho ai? Như thế nào… Vì vậy trọng cơ chế thị trường hoạt động tiêu
thụ sản phẩm là rất khó khăn. Nhưng nó lại đóng vai trò quyết định quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời quyết định sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản ở doanh nghiệp sản xuất
Tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng tổng thể các
biện pháp về tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiện nghiệp vụ liên
quan đến tiêu thụ sản phẩm như nắm bắt nhu cầu thị trường, tổ chức sản
xuất, tiếp nhận sản phẩm, chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của
khách hang với chi phí kinh doanh nhỏ nhất. Như vậy tiêu thụ sản phẩm ở
5
doanh nghiệp là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, bao gồm nhiều loại
công việc khác nhau liên quan đến các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các
nghiệp vụ tổ chứa quản lý quá trình tiêu thụ. Quá trình tiêu thụ sản phẩm có
thể mô tả ở sơ đồ 1.1
1.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cần thiết đối với mỗi
doanh nghiệp trong mọi hoạt đông sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu thị
trường nhằm trả lời các câu hỏi: Sản xuất những sản phẩm gì? Sản xuất
như thế nào? Sản phẩm bán cho ai?
Mục đích của nghiên cứu thị trường là nghiên cứu xác định khả năng
tiêu thụ những hàng hoá trên một địa bàn nhất định trong một khoảng thời
gian xác định. Trên cơ sỏ năng cao khả năng cung cấp để thoả mãn nhu cầu
của thị trường. Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì
đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng bán, giá bán, mạng lưới
6
và hiệu quả của công tác tiêu thụ. Nghiên cứu thị trường còn giúp doanh
nghiệp biết được xu hướng, sự biến đổi nhu cầu khách hàng, sự phản ứng
Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giụp doanh nghiệp
nắm bắt được nhu cầu khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi diễn
biến của thụ trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường mới, kế hoạch
hoá về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận,chọn kênh tiêu thụ và các
đối tượng khách hàng. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan trọng
và quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh.
Quy trình xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm gồm 3 bước theo
sơ đồ1.2:
1.2.2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Xây dựng kế hoạch tiêu thụ là cơ sở quan trọng đẩm bảo cho qá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành nhịp nhàng, liên tục theo
kế hoạch đã định. Kế hoạch tiêu thụ là căn cú để xây dựng kế hoạch hậu
cần vật tư và các bộ phận khách khác của kế hoạch sản xuất-kỹ thuật- tài
chính doanh nghiệp…
Bằng hệ thống các chỉ tiêu, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phải phản
ánh được các nội dung cơ bản như: Khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện
8
vật và giá trị có phân theo hình thức tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị
trường tiêu thụ và giá cả tiêu thụ… Các chỉ tiêu kế hoạch tiêu thụ có thể
tính theo hiện vật và giá trị, chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối.
Trong xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể sử
dụng các phương pháp cân đối, phương pháp quan hệ động và phương
pháp tỷ lệ cố định… Trong số phương pháp trên phương pháp cân đối được
coi là phương pháp chủ yếu.
1.2.3 Công tác định giá
1.2.3.1 Giá cả và vai trò của chính sách giá trong tiêu thụ
Giá cả là một phậm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng
với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Giá cả là biểu hiện bằng
tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biẻu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế
như cung cầu hàng hoá, tích luỹ và tiêu dùng, cạnhtranh…Giá trị hàng hoá
trình cụ thể như sơ đồ 1.3:
1.2.3.3 Chính sách giá trong tiêu thụ sản phẩm
Chính sách giá cao thường được sư dụng khi doanh nghiệp kiểm soát
được thị trường, lúc này doanh nghiệp cần bán với giá cao để thu lợi nhuận
độc quyền. Bán ở mức giá tương đối cao so với thị trường có thể coi là thủ
pháp tạm thời trong một số điều kiện nhất định. Chẳng hạn, một khi doanh
10
nghiệp quyết định tung ra một mặt hàng mới ra thị trường nhưng lo rằng nó
sẽ nhanh chống bị bắt chước, có thể định giá cao để thu hồi các chi phí
nghiên cứu thị trường, triển khai mặt hàng mới càng sớm trước khi xuất
hiện đối thủ cạnh tranh.
Chính sách giá thấp có thể là cách thức tạm thời tương đối hữu hiệu
để phù hợp với các điều kiện trong thị trường thường xuyên biến động.
Chính sách giá thấp cho thấy xu hướng mở rộng thị trường, thu hút sức cầu
lớn và tạo cho người bán cơ hội để sử dụng hết năng lực sản xuất kinh
doanh của mình. Mình mặt khác, trong trường hợp sản phẩm của doanh
nghiệp đang ở pha cuối của chu kỳ sống sản phẩm thì doanh nghiệp có thể
bán phá giá để thu hồi vốn chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Tuy
nhiên áp dụng chính sách giá thấp thường gây tâm lý nghi ngờ về chất
lượng sản phẩm của người tiêu dùng, mặt khác bán giá thấp gây bất lợi cho
doanh nghiệp khi tăng giá trong dài hạn.
1.2.4 Lựa chọn hình thức phân phối
• Khái niệm kênh phân phối
Theo quan điểm marketing, kênh phân phối là một tập hợp các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình
đưa hàng hoá từ người sản xuất tới người tiêu dùng. Nói cách khác, đây là
một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động làm cho sản phẩm
hoặc dịch vụ sẵn sang cho người tiêu dùng hay người sử dụng công
nghiệp, để họ mua và sử dụng.
• Phân loại kênh phân phối
trước nhằm chuẩn bị thị trường tiêu thụ, khuyếch trương thanh thế gây chú
ý khách hang. Dịch vụ trong quá trình tiêu thụ nhằm chứng minh sự hiện
hữu của doanh nghiệp với khách hàng nhằm tạo dựng niềm tin với khách
hàng. Dịch vụ sau khi bán nhằm tái tạo nhu cầu khách hàng kéo khách chở
lại với doanh nghiệp. Sau đây là một số loại hình dịch vụ chủ yếu:
12
1.2.5.1 Dịch vụ gắn với sản xuất
Dịch vụ gắn với sản xuất bao gồm: bán hàng và vận chuyển theo
yêu cầu của khách hàng; chuẩn bị hàng hoá trước khi bán và đưa vào sử
dụng; dịch vụ kỹ thuật khách hàng, dịch vụ cho thuê máy móc thiết bị; dịch
vụ giao nhận hàng. Trong đó có dịch vụ kỹ thuật khách hàng là quan trọng
nhất.
Dịch vụ kỹ thuật khách hang là hình thức dịch vụ giới thiệu hàng,
hướng dẫn và sử dụng hàng hoá, tổ chức bảo dưỡng máy móc thiết bị…
Dịch vụ bảo hành sửa chữa là một loại hình dịch vụ kỹ thuật quan trọng
thông qua việc tổ chức các cửa hàng, trạm sửa chữa, bảo hành sản phẩm.
Dịch vụ này tạo sự tin tưởng cho khách hàng vào sản phẩm của doanh
nghiệp.
1.2.5.2 Dịch vụ gắn với lưu thông hàng hoá ở doanh nghiệp
- Quảng cáo là tuyên truyền, giới thiệu về hang hoá bằng cách sử
dụng các phương tiện khác nhau trong khoảng không gian và thời
gian nhất định.
Quảng cáo là việc người bán sử dụng các phương tiện truyền thong
có trả tiền để truyền đi thông tin thuyết phục và sản phẩm, dịch vụ hay
doanh nghiệp tới khách hàng và thúc đẩy họ mua. Quảng cáo có nhiều hình
thức và được thiết kế nhằm đạt được các mục tiêu khác nhau.
- Khuyến mại là hoạt động truyền thông trong đó sử dụng các công
cụ trực tiếp, tạo lợi ích vật chất bổ xung cho khách hàng như phiếu
mua hàng, các cuộc thi, xổ sổ, trò vui có thưởng, quà tặng… Chúng
thu hút sự chú ý và thường xuyên cung cấp thông tin để dẫn khách
bao giờ cũng được phục vụ bằng những phương tiện thuận tiện và
hiện đại nhất.
- Tổ chức tốt hoạt động bán hàng, đảm bảo cho thời gian lao động
của người bán hàng được sử dụng có hiệu quả nhất.
14
- Làm tốt công tác quảng cáo, kết hợp quảng cáo với bán hàng làm
cho quảng cáo phát huy tác dụng thúc đẩy bán hàng, là công cụ
cạnh tranh, là công cụ của marketing thương mại.
- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật trong kinh doanh.
- Xây dựng thái độ bán hàng văn minh lịch sự. Tất cả vì khách hàng,
“khách hàng là người trả lương cho nhân viên bán hàng”
1.2.6.2 Quy trình bán hàng căn bản
Quy trình bán hàng căn bản được chia thành ba giai đoạn gồm tám
bước như sơ đồ 1.3:
1.2.7 Đánh giá kết quả hoạt động tiêu thụ sản
Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, đánh giá
hoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp
thị trường tiêu thụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ… nhằm kịp thời
có các biện pháp thích hợp để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Đánh
giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thể xem xét trên các khía cạnh như: Tình
hình tiêu thụ sản phẩm theo khối lượng, mặt hàng, trị giá, thị trường và giá
cả các mặt hàng tiêu thụ.
15
Kết quả của việc phân tích, đánh giá, quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ
là căn cứ để doanh nghiệp có biện pháp thúc đẩy tiêu thụ và hoàn thiện quá
trình hoạt động kinh doanh trên mọi phương diện. Vì vậy, mỗi doanh
nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác, đồng thời phải làm rõ được những
điểm mạnh, diểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp trong quá
trình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
với toàn ngành và các đối thủ cạnh tranh khác.
- Các chính sách của doanh nghiệp đối với CBCNV trong lao động,
cũng như sự khuyến khích, động viên người lao động năng cao năng xuất,
kết quả và hiệu quả của lao động.
- Khả năng cân đối giữa mức độ sử dụng nhân công ở mức độ tối đa
và mức độ tối thiểu.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của thị trường về nguồn
nhân lực con người, tình hình thuyên chuyển cán bộ và mức độ bỏ việc…
Quản trị nhân sự và nguồn nhân lực có vai trò quyết định đến sự
thành công của doanh nghiệ. “Dụng nhân như dụng mộc”, suy cho cùng thì
mọi quản tri đều có liên quan đến quản trị nhân sự. Mọi hoạt động của
doanh nghiệp đều do con gnười thực hiện. Hoạt động tiêu thụ cũng vậy.
Quản trị nhân sự và nguồn nhân lực cũng đóng vai trò quyết định
Quản trị tài chính- kế toán
Các yếu tố tài chính và kế toán có liên quan và ảnh hưởng sâu rộng
đến toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ chiến
lược sản xuất kinh doanh đến các kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đều có liên quan đến nguồn lực tài chính và hoạt động
của bộ phận tài chính doanh nghiệp. Bộ phận tiêu thụ sản phẩm cũng có
mối quan hệ tương tác trực tiếp với bộ phận tài chính - kế toán.
Hệ thống thông tin của doanh nghiệp
17
Trong thời kỳ công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, thì
doanh nghiệp nào nắm được thông tin thì sẽ phát triển. Như vậy hề thống
thông tin có vai trò rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp. Hệ thống thông tin
quản trị và hệ thống thông tin chiến lược là yếu tố quan trọng giúp cho nhà
quản trị doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn kịp thời. Tuỳ theo quy
mô và phạm vi hoat động của doanh nghiệp và sự cần thiết của thông tin
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần phài xây dựng hệ thống thông
hợp, đồng thời tổ chức tốt công tác dịch vụ khách hàng, cũng như công tác
bán hàng để thu hút và giữ chân khách hàng. Như vậy hiệu quả tiêu thụ sẽ
cao. Khi khách hàng được thoả mãn cả chuỗi nhu cầu khách hàng sẽ hài
long và trung thành với doanh nghiệp và điều đó sẽ đem lại lợi ích lâu dài
cho doanh nghiệp.
Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm có cùng chức năng đáp ứng
nhu cầu giống nhau của khách hàng. Khi có sản phẩm thay thế thì hoạt
động tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng mạnh. Bởi lẽ, doanh
nghiệp sẽ phải cạnh tranh cả với những sản phẩm thay thế này. Nếu sản
phẩm này được tung ra thị trường mà thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách
hàng giá cả lại phù hợp thì điều đó có thể làm tốc độ tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp sẽ chậm lại, sau đó nó sẽ ảnh hưởng đến khối lượng sản
phẩm tiêu thụ. Nếu doanh nghiệp không có những chính sách tiêu thụ tốt có
thể bị thay thế hoàn toàn tức doanh nghiệp bị đánh bật khỏi thị trường.
Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tiêu
thụ nhưng nếu các nhà cung ứng vật tư cung ứng vật tư chậm cho doanh
nghiệp làm gián đoạn quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Do đó làm ảnh
hưởng đến khối lượng sản phẩm được đưa vào tiêu thụ. Nếu không thoả
mãn kịp thời nhu cầu khách hàng sẽ ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp mới tham gia vào sản
xuất kinh doanh. Họ đưa vào khai thác những năng lực sản xuất kinh doanh
mới mong muốn dành được thị phần và khách hàng trên thị trường. Sự ra
nhập ngành của họ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp.
Hơn nữa vì họ là những doanh nghiệp mới nên doanh nghiệp còn rất ít hiểu
biết về ọo nên rất khó đối phó.
1.3.3 Nhân tố vĩ mô
20
công ty đầu tư phát triển đô thị. Thành lập 17-04-1974 (do uỷ ban nhân dân
thành phố quản lý) với tên gọi là xí nghiệp khoá Việt Tiệp khoá Hà Nội.
Đổi tên thành xí nghiệp khoá Việt Tiệp theo quyết đinh số: 2842/QĐ-UB,
ngày 16-11-1992 của thành phố Hà Nội và đến ngày 13-09-1994 thì đổi
thành công ty khoá Việt Tiệp theo quyết định số: 2006/QĐ của UBND
thành phố Hà Nội.
Trụ sở chính của công ty đặt trên địa bàn : Khối 6- Thị trấn Đông
Anh-Hà Nội. Công ty có các chi nhánh giới thiệu và bán sản phẩm tại thành
phố lớn:
• Số 7 Thuốc Bắc-Hà Nội
• Số 37 Hàng Điếu-Hà Nội
• Số 138 F Nguyễn Tri Phương- Phường 9, Quận 5-TP Hồ Chí
Minh
• Số 48 Nguyễn Tri Phương- Phường Chính Gián, Quận Thanh
Khê-TP Đà Nẵng
Ngoài ra công ty còn có rất nhiều đại lý trên khắp các tỉnh thành phố,
thị xã trên cả nước.
Từ năm 1989, khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, công ty
khoá Việt Tiệp gặp rất nhiều khó khăn tưởng chừng đứng bên bờ vực thẳm:
Mẫu mã sản phẩm xấu, chủng loại ít không còn phù hợp với tình hình hiện
tại, sản phẩm ứ đọng, tồn kho không tiêu thụ được, đời sống việc làm của
người lao đọng có nguy cơ bế tắc.
23
Trong bối cảnh đó, quán triệt tinh thần nghị quyết TW6 của Đảng
Cộng Sản Việt Nam, lãnh đạo công ty đã bàn bạc và xác định hướng đi mới
sẵn sàng huỷ bỏ cái cũ không còn phù hợp, tập trung đầu tư xây dựng cái
mới, cải tiến mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và
dẫn dắt đưa công ty sống lại. Bước sang năm1990, đã có thị trường xuất
khẩu sang Liên Xô cũ, Angiểia, Lào, Campuchia. Từ đó đến nay công ty
khoá Việt Tiệp đã có mặt trên thị trường Châu Phi, Châu Mỹ, và hoàn toàn
doanh.
+ Chịu trách nhiệm trước nhà nước, tổng công ty đầu tư phát triển đô
thị về kết quả kinh doanh của đơn vị kình.
+ Thực hiện nghĩa vụ với người lao động theo quy định của bộ luật
lao động nhà nước ban hành.
+ Chịu trách nhiệm nộp thuế và nghĩa vụ tà chính theo quy định của
nhà nước.
+Thực hiện chế độ quy định kế toán, kiểm toán, chịu trách nhiệm về
tính xác thực về hoạt động tài chính của công ty
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty
Muốn đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh bộ máy quản lý
của công ty phải được bố trí chặt chẽ và khoa học với mô hình quản lý trực
tuyến chức năng.
Công ty khoá Việt Tiệp phân chia các bộ phận sản xuất và mối quan
hệ giữa chúng dựa trên cơ sở dây truyền thiết bị và công nghệ để phân chia
các bộ phận.
Công ty gồm có tám phòng và sáu phân xưởng được bố trí theo mô
hình sau:
25