Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 83

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ
VỌNG KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT
ĐỊNH CHO VAY – BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TỪ KHU VỰC NGÂN HÀNG TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG
KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH CHO
VAY – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ KHU VỰC
NGÂN HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHUN NGÀNH: KẾ TỐN
MÃ SỐ: 60340301


4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ..................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ..........................................................5
6.1.

Ý nghĩa khoa học ...........................................................................................5

6.2.

Ý nghĩa thực tiễn ...........................................................................................5

7. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 5
CHƢƠNG 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ............................... 7

1.1.

Các nghiên cứu nước ngoài ...........................................................................7

1.2.

Các nghiên cứu trong nước..........................................................................13

1.3.

Khe trống nghiên cứu ..................................................................................18

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................19
CHƢƠNG 2:


2.1.5.

Đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...........................................29

2.1.6. Các nhân tố cá nhân liên quan đến nhân viên tín dụng và khoảng cách
kỳ vọng kiểm tốn .............................................................................................. 30
2.2.

Khung lý thuyết giải thích tồn tại AEG .......................................................32

2.2.1.

Lý thuyết vai trò ....................................................................................32

2.2.2.

Lý thuyết ủy nhiệm ...............................................................................32

2.2.3.

Lý thuyết hồi ứng của người đọc ..........................................................33

2.2.4.

Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence) ...............33

2.3.

Chất lượng quyết định cho vay....................................................................34


Nghiên cứu định tính ............................................................................43

3.1.3.

Nghiên cứu định lượng .........................................................................43

3.1.3.1.

Chọn mẫu và thu thập dữ liệu ........................................................43


3.2.

3.1.3.2.

Kích thước mẫu nghiên cứu ........................................................... 44

3.1.3.3.

Phương pháp phân tích dữ liệu ......................................................44

Xây dựng thang đo lường ............................................................................45

3.2.1.

Thang đo khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ...........................................45

3.2.2.


4.3.

Phân tích hồi quy .........................................................................................55

4.3.1.

Phân tích mơ hình hồi quy 1 .................................................................57

4.3.2.

Phân tích mơ hình hồi quy 2 .................................................................60

4.3.3.

Tính hệ số phù hợp tổng hợp ................................................................ 62

4.4.

Bàn luận về kết quả nghiên cứu...................................................................62

4.4.1.

Giả thuyết H1 ........................................................................................62

4.4.2.

Giả thuyết H2 ........................................................................................63

KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 ........................................................................................65
CHƢƠNG 5:


Báo cáo tài chính

BCKT

Báo cáo kiểm tốn

BTC

Bộ Tài Chính

BGĐ

Ban giám đốc

BQT

Ban quản trị

CMKT
DN
NVTD

Chuẩn mực kiểm tốn
Doanh nghiệp
Nhân viên tín dụng

NQL

Nhà quản lý

Hình 2.1: Mơ hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm tốn (Porter, 1993)
Hình 2.2: Tác động của báo cáo của kiểm toán viên đến việc thực hiện quyết định
(Libby, 1979)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghề nghiệp kiểm tốn ngày càng đóng vai trị quan trọng đối với xã hội, có
thể ví von nghề nghiệp kiểm tốn như là nghề “bán lịng tin” cho cơng chúng. Tầm
quan trọng của nghề nghiệp sẽ càng gia tăng khi các đối tượng sử dụng tin cậy vào
dữ liệu BCTC và BCKT cho việc ra quyết định.
BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ tài chính kế
tốn hiện hành, phản ánh các thơng tin kinh tế tài chính tổng hợp của đơn vị. Tuy
nhiên, những người sử dụng BCTC chưa thể tin cậy vào chất lượng BCTC mà đơn
vị lập do cịn mang tính chủ quan. Vì thế cần thiết cần có một bên thứ ba, kiểm tra
và đưa ra ý kiến khách quan, đó chính là ý kiến từ KTV và cơng ty kiểm tốn. Mặt
khác, đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán rất đa dạng, họ có thể là các nhà quản lý
DN, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, … và cũng khơng phải tất cả những người sử
dụng này đều có thể hiểu rõ về bản chất của BCTC cũng như hoạt động kiểm tốn
mà KTV thực hiện. Vì vậy một câu hỏi được đặt ra, liệu những người sử dụng hay
những người có lợi ích liên quan có thể tin cậy vào các thơng tin tài chính trên báo
cáo đã được kiểm toán để đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn hay không?
Kết quả của một số vụ bê bối trên phạm vi quốc gia và quốc tế đã làm cho độ
tin cậy của kết quả kiểm toán trở nên bị hoài nghi như qua các vụ bê bối kiểm toán
liên quan đến sự phá sản của World Com, sự sụp đổ của Enron, bơng Bạch Tuyết…
Theo đó, sự hồi nghi và khơng tin tưởng vào hoạt động kiểm toán đã xuất hiện
trong nhận thức của những người sử dụng BCTC.

(Dixon và cộng sự, 2006), … ; AEG tác động đến quyết định cho vay, quyết định
của nhà đầu tư (Noghondari, A.T và Foong, S.Y, 2009), Rien Agustin F (2014), …;
các giải pháp thu hẹp AEG thông qua giáo dục (Monroe và Woodliff, 1993), …
nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu về AEG cũng như tác động của AEG đến việc
ra quyết định chưa nhiều. Vấn đề về khoảng cách kỳ vọng trên các trang các tạp chí,
báo, web điện tử cũng rất ít ỏi. Gần như chưa có nghiên cứu cụ thể nào về khoảng
cách kỳ vọng trong khu vực ngân hàng, đối tượng có sử dụng BCTC và BCKT, cụ
thể là bộ phận tín dụng - những người sử dụng thơng tin tài chính trên BCTC đã
được kiểm toán cho việc ra quyết định cho vay (khách hàng là DN), khe trống trong


3

các nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả nhận thấy sự cần thiết của nghiên cứu vấn đề
này đóng góp vào việc giảm thiểu AEG và hữu ích trong tình hình kinh tế Việt Nam
hiện nay qua đề tài “Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất
lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại
thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Hệ thống hóa lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong kiểm toán
BCTC.
+ Kiểm tra các yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm của
NVTD có tác động đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
+ Đánh giá thực trạng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của NVTD ngân hàng
trong việc tác động đến chất lượng quyết định cho vay.
+ Kiến nghị những giải pháp để thu hẹp khoảng cách kỳ vọng trong khu vực
ngân hàng nói riêng và những người sử dụng BCTC nói chung nhằm nâng cao chất
lượng trong việc ra quyết định.
3. Câu hỏi nghiên cứu
(1) Các yếu tố cá nhân nào của NVTD liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm có tác

Nguồn dữ liệu chính thức được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp nhân viên tín
dụng tại một số ngân hàng tại TP.HCM dựa trên bảng câu hỏi thiết kế sẵn. Phương
pháp lấy mẫu thuận tiện, các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5
mức độ, trong đó bao gồm những câu hỏi về quan điểm của đối tượng khảo sát về
nhân tố trách nhiệm, độ tin cậy, chất lượng quyết định cho vay và một số câu hỏi
liên quan đến nhân khẩu học.
 Dữ liệu thứ cấp:
Các bài báo, tạp chí, luận văn, nghiên cứu cả trong và ngồi nước về khoảng
cách kỳ vọng kiểm tốn.
 Phƣơng pháp phân tích dữ liệu:


5

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Sau khi được sàng lọc và làm
sạch, dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mơ tả, phân tích
độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá EFA,
phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1.

Ý nghĩa khoa học

Bằng việc tập trung vào nhân viên tín dụng ngân hàng thay vì cơng chúng
hay người sử dụng BCTC nói chung, nghiên cứu cũng hy vọng có thể đóng góp vào
kho tài liệu về khoảng cách kỳ vọng kiểm tốn, hệ thống hóa cơ sở lý luận về
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
Vận dụng được cơ sở lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất
lượng quyết định cho vay.
Vận dụng được phương pháp kiểm định mơ hình hồi quy tuyến tính bội để đo

Thuật ngữ “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” đã xuất hiện khá lâu và là chủ
đề nghiên cứu được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu về AEG có
thể kể đến như các nghiên cứu thực nghiệm về bản chất của AEG ở các nước khác
nhau {Porter (1993) tại New Zealand; Best và cộng sự (2001) tại Singapore; Fadzly
và cộng sự (2004) Malaysia; Dixon và cộng sự (2006) tại Egypt; …} hay các nghiên
cứu về việc giảm thiểu AEG {Gary S. Monroe và David Woodliff (1993); Javed
Siddiqui và công sự (2009); …}; hay các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc
ra quyết định {Noghondari và Foong (2009), (2013); Rien Agustin F (2014), …}.
Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nổi bật trong và
ngồi nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài
Nổi bật trong các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc quyết định của
các đối tượng sử dụng BCTC hoặc đối tượng có lợi ích liên quan, bao gồm một số
nghiên cứu nổi bật sau:
Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2009) kiểm tra tác động
của kiến thức kế toán và kinh nghiệm liên quan của những nhân viên ngân hàng ở
Iran về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, và điều tra xem liệu có khoảng cách trung
gian trong mối quan hệ giữa các nhân tố cá nhân – thực hiện quyết định cho vay.
Bảng câu hỏi được phân phát cho 113 nhân viên tín dụng từ 5 ngân hàng thương
mại lớn ở Iran và có 111 bảng hỏi thu về được dùng để phân tích. Với phương pháp
nghiên cứu định lượng thơng qua thống kê mơ tả, phân tích hồi quy theo hình thức
hồi quy nhiều lần để kiểm tra giả thuyết. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách kỳ
vọng kiểm tốn khá lớn giữa các nhân viên tín dụng ở các ngân hàng Iran, và kiến
thức kế toán được tìm thấy giảm thiểu đáng kể mức độ của khoảng cách này. Vì thế
cần nâng cao kiến thức về kế tốn cho nhân viên tín dụng qua các chương trình đào
tạo tại ngân hàng. Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu này đã tìm ra mối quan hệ
nghịch biến giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay


8

9

Fazel Tamoradi, Jaber Mohamad Mosaee (2015) mục đích nhằm nghiên cứu
khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và những người sử dụng thơng tin tài chính liên
quan đến sự đảm bảo của BCTC, lợi ích của việc ra quyết định dựa trên thơng tin tài
chính đã được kiểm tốn, và độ tin cậy của thông tin. Với phương pháp nghiên cứu
định lượng thông qua kiểm định t-test với hai mẫu độc lập. Kết quả cho thấy có sự
mơ hồ giữa vai trò của KTV và nhận thức của những người sử dụng. Tồn tại sự
khác biệt đáng kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm
kiểm tốn, sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định.
Bên cạnh các nghiên cứu nổi bật liên quan đến vấn đề nghiên cứu, trong
phần tổng quan các nghiên cứu nước ngồi tác giả cũng hệ thống hóa các nghiên
cứu nổi bật liên quan về sự tồn tại của AEG ở những nước phát triển và đang phát
triển, cụ thể như sau:
Cơ sở cho các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm tốn phải kể đến
cơng trình nghiên cứu có thể nói là tiên phong đầu tiên của Lee TA (1970) được tiến
hành ở Anh. Các đối tượng khảo sát gồm KTV, cơng ty được kiểm tốn và các đối
tượng có lợi ích từ kiểm tốn. Kết quả cho thấy rằng KTV dường như đã nhầm lẫn
và không xác định rõ mục tiêu kiểm tốn.
Tiếp theo đó là nghiên cứu của Beck GW (1974) được tiến hành ở Úc. Kết
quả cho thấy cổ đơng có mâu thuẫn về tính độc lập của KTV, cổ đơng tin rằng nếu
KTV sở hữu cổ phần trong cơng ty được kiểm tốn thì lợi ích của KTV sẽ được kết
hợp chặt chẽ hơn với những lợi ích của cổ đơng. Beck cho rằng những bên liên quan
có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm tốn hơn là những gì mà KTV đang thực
hiện.
Low AM (1980) đã kiểm tra khoảng cách kỳ vọng tại Úc nhằm kiểm tra mức
độ phát hiện và trách nhiệm cơng bố sai sót, gian lận và các hành vi bất hợp pháp
theo nhận thức của KTV và những người sử dụng BCTC. Kết quả là cả hai nhóm có





11

Và điều phù hợp với các nghiên cứu trước về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Mục
tiêu của nghiên cứu này là tổng quan lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
theo cách: định nghĩa khoảng cách kỳ vọng, bản chất và cấu trúc của khoảng cách
kỳ vọng, và những cách để làm giảm khoảng cách kỳ vọng. Tác giả hi vọng rằng đó
là một nỗ lực có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.
Best, P.J, Buckby, S & Tan, C (2001) thu thập bằng chứng về khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán ở Singapore. Động lực để thực hiện do ở Singapore thiếu hụt
nghiên cứu về vấn đề này trong những năm gần đây. Nghiên cứu cung cấp chi tiết
hơn về bản chất và phạm vi của AEG. Kết quả của nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng
về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Singapore về trách nhiệm của KTV.
Có sự khác biệt đáng kể về trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện tất cả các
gian lận và sai sót; trong khi đó KTV lại cho rằng khơng có trách nhiệm trong việc
phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót. Ngồi ra, các nhà đầu tư cịn cho rằng
KTV có trách nhiệm về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm sốt nội bộ tại cơng
ty khách hàng.
Koh, Hian Chye; E-Sah, Woo (2001) nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại
khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và NQL tại Singapore, xác định các
nhân tố tạo nên sự kỳ vọng kiểm toán của NQL. Mẫu gồm 302 KTV và 264 NQL
được khảo sát. Kết quả phân tích cho thấy tồn tại khoảng cách kỳ vọng khá lớn giữa
KTV và NQL về mục tiêu công ty kiểm tốn. Giáo dục được cho rằng có thể giảm
thiểu khoảng cách này.
Fadzly, Mohamed Nazri & Zauwiyah Ahmad (2004), nghiên cứu với mục
đích điều tra sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm tốn ở Malaysia. Động lực
chính đến từ việc thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này. Bên cạnh đó, mơi trường kế
tốn ở Malaysia đã được cải thiện đáng kể từ những năm 1998, với việc thông qua
đạo luật BCTC và thành lập Hội đồng chuẩn mực kế toán Malaysia. Kết quả chỉ ra

bằng cách đưa ra đầy đủ kiến thức và nhận thức về kiểm toán cho những người sử
dụng BCTC.


13

Ngoài các nghiên cứu nổi bật về sự tồn tại AEG, một số nghiên cứu khác lại
nghiên cứu về việc giảm thiểu khoảng cách này thông qua giáo dục, đào tạo, gồm
một số nghiên cứu nổi bật sau:
Nghiên cứu của Monroe & Woodliff (1993) nhằm kiểm tra tác động của giáo
dục đến nhận thức của sinh viên về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCKT
trước và sau giáo dục. Kết quả có sự khác biệt, ơng đề nghị rằng giáo dục có thể ảnh
hưởng đến nhận thức của người sử dụng về vai trò của chức năng kiểm tốn, có thể
là phương pháp hiệu quả để thu hẹp hoặc giảm thiểu khoảng cách hợp lý.
Javed Siddiqui và cộng sự (2009) cũng tìm ra bằng chứng giáo dục kiểm toán
giúp giảm thiểu đáng kể AEG trong nền kinh tế sáp nhập ở Bangladesh thông qua
việc điều tra thực tế KTV, nhân viên ngân hàng và sinh viên.
Giáo dục có thể giảm thiểu AEG cũng là kết quả của John Uzoma
Ihendimihu & Silvia Nwakaego Robert (2014) tại Nigeria, nghiên cứu xác định liệu
việc cung cấp các khóa học kiểm tốn, thực nghiệm về kiểm tốn có thể làm tăng
kiến thức cho sinh viên, được so sánh thơng qua nhóm kiểm chứng.
1.2. Các nghiên cứu trong nƣớc
Các nghiên cứu trong nước, theo cơ sở dữ liệu mà tác giả tìm kiếm có rất ít
nghiên cứu về AEG, tác động của AEG đến việc ra quyết định, tác giả đưa ra một số
nghiên cứu có liên quan sau:
Vũ Hữu Đức & Võ Thị Như Nguyệt (2012) “Khoảng cách thông tin trên báo
cáo kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam” nghiên cứu AEG liên quan
đến (i) nhận thức về mục đích và hạn chế của kiểm tốn, (ii) nhận thức về các thuật
ngữ kỹ thuật sử dụng trên BCKT. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại khoảng cách
thông tin giữa các nhóm KTV, nhân viên tín dụng và nhà đầu tư.



15

Nguyễn Quốc Kịp (2015) “Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm
toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt
Nam” mục tiêu của đề tài xem xét liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách
nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC tại VN, xác định nguyên nhân tạo ra
khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV và đề xuất các giải pháp, tiến hành
khảo sát nhóm KTV, nhóm người làm việc tại đơn vị kiểm tốn, nhóm người sử
dụng BCTC xử lý thông qua công cụ excel 2010. Kết quả cho thấy vẫn còn những
mong đợi chưa hợp lý về những trách nhiệm của KTV.
Bên cạnh những nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề
khoảng cách kỳ vọng mà tác giả tổng hợp được, cịn có một số cơng trình nghiên
cứu trên các báo, tạp chí như của tác giả Trần Mạnh Dũng và Lại Thị Thu Thủy
(2013) tạp chí Kế tốn & Kiểm tốn số 5-2013 theo hướng tóm tắt và đề xuất giải
pháp dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây.
Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) tạp chí ĐH Cơng Nghiệp số 1. Nghiên
cứu này tập trung vào việc xác định tồn tại ba thành phần khoảng cách quan trọng
cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng - hiện thực kiểm toán (theo cách sử dụng của
Porter năm 1993 là (i) khoảng cách kỳ vọng hợp lý, (ii) khoảng cách hoàn thiện
chuẩn mực và (iii) khoảng cách tăng cường trách nhiệm kiểm toán viên. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tồn tại một số trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên mỗi thành
phần khoảng cách này ở Việt Nam.
Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến AEG
Tác giả nghiên cứu

Nhân tố đo

Đối tƣợng khảo sát

Fadzly,

Mohamed Trách nhiệm của Nhà môi giới, KTV, Nhất quán với phát

Nazri & Zauwiyah KTV, Độ tin cậy ngân hàng , nhà đầu hiện của Best và
Ahmad (2004)

của kiểm toán & tư

cộng sự (2001), có

BCTC đã được

khoảng

kiểm tốn, Tính

vọng ở Malaysia về

hữu

của

trách

BCTC đã được

KTV

ích


(2004),

hữu

của

chứng về khoảng

BCTC đã được

cách kỳ vọng ở

kiểm tốn

Egypt

ích

sự

(2001),


về

bằng

trách



được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status