Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?...
Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-98 đã dành nguyên cả Điều 2, Chương
I để giải thích các thuật ngữ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau :
1. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi
ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ
chức phát hành. Chứng khoán bao gồm :
a. Cổ phiếu ;
b. Trái phiếu ;
c. Chứng chỉ quỹ đầu tư ;
d. Các loại chứng khoán khác.
2. Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán có
thể chuyển nhượng được theo các điều kiện quy định.
3. Tổ chức phát hành là pháp nhân được phát hành chứng khoán ra công
chúng theo quy định của Nghị định này.
4. Bản cáo bạch là bản thông báo của tổ chức phát hành trình bày tình hình
tài chính, hoạt động kinh doanh và kế hoạch sử dụng số tiền thu được từ việc
phát hành nhằm giúp công chúng đánh giá và đưa ra các quyết định mua
chứng khoán.
5. Niêm yết chứng khoán là việc cho phép các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn
được giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung.
6. Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
7. Tự doanh là việc công ty chứng khoán mua và bán chứng khoán cho chính
mình.
8. Phân phối chứng khoán là việc bán chứng khoán thông qua đại lý hoặc
bảo lãnh phát hành trên cơ sở hợp đồng.
9. Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán
của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa
được phân phối hết.
c. Nhóm người thỏa thuận bằng hợp đồng cùng phối hợp để thâu tóm công
ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty ;
d. Bố mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột.
21. Người hành nghề kinh doanh chứng khoán là cá nhân được Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép tham gia các hoạt động kinh doanh
chứng khoán.
22. Người đầu tư là người sở hữu chứng khoán, người mua hoặc dự kiến
mua chứng khoán cho mình.
23. Người nắm giữ chứng khoán là cá nhân, tỗ chức đang kiểm soát chứng
khoán. Người nắm giữ có thể là chủ sở hữu chứng khoán hoặc là người đại
diện cho chủ sở hữu.
24. Đại diện người sở hữu trái phiếu là pháp nhân được ủy quyền nắm giữ
trái phiếu và đại diện cho quyền lợi của chủ sở hữu trái phiếu.
25. Cổ đông thiểu số là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có quyền biểu
quyết của tổ chức phát hành.
26. Cổ đông lớn là người nắm giữ từ 5% trở lên cổ phiếu có quyền biểu
quyết của tổ chức phát hành
Đọc và hiểu giá cổ phiếu
Trên các nhật báo lớn nước ngoài đều có những trang dành riêng cho việc
liệt kê giá cả thị trường cổ phiếu. Nếu không quen lối viết tắt để tiết kiệm
chỗ, rất khó hiểu cặn kẽ những trang này.
Ngày xưa khi chưa có mạng vi tính, các thị trường chứng khoán hoạt động
nhờ vào ticker tape, là dải băng in chi tiết giá cả lên xuống của các cổ phiếu
chính. Ngày nay, ticker tape biến mất, thay vào đó là the computerized quote
machine, một màn hình vi tính nối mạng có thể cung cấp mọi chi tiết cần
thiết cho người mua chứng khoán. Những dãy thông tin trên màn hình vẫn
được gọi là tape. Trên màn hình thường có ký hiệu cổ phiếu của một công ty
ví dụ GM là hãng General Mortors.
GM
L - 721/4 O 721/2 C 73
3,6% tức là lấy cổ tức 1,12 USD chia cho giá đóng cửa 307/8 được 0,036
hay tỷ lệ lãi 3,6%. Từ PE trong cột tiếp viết tắt từ price-earnings ratio là tỷ
suất giá cả- lợi nhuận, tỷ lệ giữa giá cổ phiếu và lợi nhuận hàng năm của
công ty trên mỗi cổ phiếu - the relationship between the price of one share
of stocks and the annual earnings of the company. Đối với trường hợp của
Công ty Harris có thể diễn tả : “The price of a Harris share is 11 times the
company’s earning per share for the most recent four quarters”.
Vol 100s volume of sales in hun-dreds chỉ số lượng cổ phiếu mua bán trong
ngày hôm trước nhân cho 100 tức là hôm qua 41.700 cổ phiếu Công ty
Harris được giao dịch. Nếu trước con số có mẫu tự Z thì đó là con số mua
bán thật, không nhân lên 100.
Net change so sánh giá đóng cửa hôm đó so với hôm trước. Cuối cùng sự
khác biệt giữa giá cao nhất và giá thấp nhất được gọi là spread. Spread còn
là sự khác biệt giữa giá mua và giá bán bid and ask prices.
Chúng ta biết người môi giới chứng khoán là stockbrokers hay brokers.
Nhưng bản thân nhân viên các công ty môi giới ghi trên danh thiếp bằng
những từ khác nhau như financial consultant, institutional salesman,
securities salesperson, account executive, investment executive, portfolio
salesman. Chúng ta nên chú ý để dịch chức danh của họ cho đúng
Chứng khoán, cổ phiếu và trái phiếu
Thuật ngữ thị trường chứng khoán có nhiều, thường rất khó hiểu dù bằng
tiếng Anh hay đã dịch ra tiếng Việt nhưng, may mắn thay, chỉ những người
chuyên ngành mới dùng. Ví dụ khi phân tích các dạng rủi ro khi tham gia
vào một thị trường chứng khoán, người ta liệt kê nhiều hình thức rủi ro trong
đó có translation risk. Mới nghe qua tưởng đâu là những bất trắc do bất đổng
ngôn ngữ, dịch sai các tài liệu hay phán đoán sai các lệnh mua bán. Nhưng
giới chuyên môn hiểu rất rõ translation risk là "a form of currency risk
associated with the valuation of balance sheet assets and liabilities between
financial reporting dates". Như vậy translation ở đây là sự khác biệt thời
điểm báo cáo tài chính dẫn đến đánh giá khác nhau.
lên đến 30%. Thị trường này cũng ban short selling on its pilot stock
markets to avoid speculation. Short selling là bán các cổ phiếu mình không
nắm vì đoán trước giá sẽ hạ. Ví dụ bạn không có trong tay cổ phiếu nào của
Microsoft nhưng đoán trước các vụ kiện sẽ làm cỗ phiếu công ty này sụt giá,
bạn bán một triệu cổ phiếu này với giá hôm nay sau khi đăng ký mua một
triệu cổ phiếu này với giá sẽ trả vào tuần sau. Inside trading là mua bán cổ
phiếu dựa vào thông tin nội gián cũng bị cấm.
Các đặc điểm khác có thể kể ra như sau Các bạn có thể đối chiếu với phần
tiếng Việt trên các bài chuyên đề cùng số này :
- A company or bank that wishes to list must have registered capital of 10
billion dong $770,000 and have been profitable for the last two years.
- At least 20 percent of a company‰s listed shares must be held by more
than 100 investors outside that issuing firm.
- Securities companies authorised to trade are commercial banks and big
corporations.
- SSC inspectors must report big changes in stock prices.
Bình luận về các bước chuẩn bị của Việt Nam liên quan đến thị trường
chứng khoán, các quan sát viên nước ngoài cho biết : "With a stock market
Vietnam will start to appear on more fund managers‰ radar screens around
the world". Các quỹ đầu tư sẽ chú ý hơn ; "The fact that the decree has
actually been approved will damp some of the cynicism". Nghị định ra đời
sẽ giúp nhiều nhà đầu tư tin tưởng hơn.
Các nhà đầu tư trong nước cũng có thể tin rằng thị trường này sẽ thúc đẩy
quá trình cổ phần hóa going public giúp nhiều công ty lần đầu tiên phát hành
cổ phần ra công chúng initial public offering.
Nói tiếp chuyện chứng khoán
Tuần trước có nhiều bạn hỏi thêm về chuyện thị trường chứng khóan với
nhiều câu đi khá sâu vào chuyện chuyên môn.
Bạn Khánh Tâm hỏi lưu ký chứng khóan tiếng Anh là gì. Việc mua bán
chứng khóan không như nhiều bạn hình dung là đến quầy trao tiền và nhận
trường học muốn xây dựng thêm một cơ sở mới có thể phát hành debentures
mà người mua có thể dùng nó cấn trừ vào học phí phải trả cho con em họ.
Bạn Thành Ngữ cho biết trong các tài liệu nói về một số quỹ đầu tư thường
thấy từ open-ended companies. Đây là các công ty cổ phần có quyền nâng
vốn đầu tư bằng cách phát hành thêm cổ phiếu. Từ này thường dùng cho các
quỹ đầu tư chứng khoán mutual fund - tiếng Mỹ ; và unit trust - tiếng Anh.
Còn closed-end company là "investment company with a fixed capital
structure with a fixed number of shares outstanding which are traded in the
secondary market".
Loại trừ những câu hỏi mang tính kỹ thuật, chúng ta xem tiếp một số từ
dùng trong các bài báo miêu tả thị trường chứng khoán tương lai của Việt
Nam. "Equitised companies are too small to list and would be hard-pressed
to produce audited accounts". Hard-pressed là gặp khó khăn chứ không phải
là bị thúc bách. Các công ty cổ phần hóa quy mô nhỏ không đủ điều kiệm
niêm yết và khó lòng cung cấp tình hình tài chính có kiểm toán xác nhận.
"The lessons from the world markets and the regional markets have made us
more cautious in our steps and that also covers the means for foreign
participation". Phần sau của câu phát biểu này mang ý sự cẩn trọng bao hàm
cả chuyện xác lập cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài tham gia.
Đọc báo chúng ta thường thấy các stock index share index. Đây chính là "an
index number based on the prices of a particular parcel of shares supposed to
be representative and intended as a guide to overall market fluctuations".
Tùy theo thị trường mà chỉ số này là trị giá bình quân chứng khoán của một
số công ty tiêu biểu, cho biết sức khỏe của thị trường đó. Những chỉ số quen
thuộc có Dow Jones Index, Financial Times Industrial Ordinary Share Index,
Nikkei 225 Average.
Thế nào là người "đầu cơ" chứng khoán?
“Speculator” ở TTCK không mua gom chứng khoán, tạo khan hiếm giả tạo,
để làm cho nó lên giá như ở thị trường hàng hóa. Giá chứng khoán lên hay
xuống là do có ít hay nhiều người mua.
và họ nghĩ ra “hợp đồng hàng sẽ đến”. Loại hợp đồng này thịnh hành ở Mỹ
từ những năm 1830 trở đi. Hai bên cam kết sẽ giao và nhận một mặt hàng
nào đó vào hai, ba tháng nữa, với một giá có xê xích với thời giá. Tuy nhiên,
vào lúc giao hàng, do thời gian ký đã lâu, chưa chắc món hàng có chất lượng
như đã thỏa thuận, hoặc người mua có thể không còn đồng ý với cái giá
trước do mức cung hiện có. Vẫn có rủi ro dù đã có hợp đồng ! Cả hai cần
phải “hắt rủi ro” đi hedge. Họ sợ rủi ro, nên được gọi là “hedger” người hắt
rủi ro. Nhưng ai sẽ nhận rủi ro cho họ đây?
May mắn thay ! Khi số lượng “forward contract” gia tăng sẽ có nhiều thời
gian giao hàng khác nhau. Hơn nữa vì việc chuyên chở và tồn trữ hàng hóa
tự nhiên sẽ được tập trung về một nơi trung chuyển ở Mỹ là Chicago và nơi
đó trở thành chợ. Ở đó có nhiều người muốn “hắt hủi ro”, nên do bá nhân bá
tánh, có người lại thích chơi với rủi ro để kiếm tiền. Loại người “thích may
rủi” này xuất hiện và được gọi là “speculator”. Vì chỉ phải trả một phần nhỏ
của giá mua, nên những người “speculator” mua bán với nhau các “forward
contract” để kiếm lời trước khi hợp đồng kia đến hạn giao hàng. Ai mà nắm
hợp đồng đến hạn thì sẽ lời hay lỗ khi giá nguyên thủy giữa người sản xuất
và tiêu thụ thực sự cao hơn hay thấp hơn giá họ đã mua từ đồng nghiệp. Số
lượng hợp đồng ấy lớn, vì - theo tính toán - chỉ có 5% của số “forward
contract” là có giao hàng thật sự, số còn lại được thanh lý, bù trừ giữa các
“speculator” trên thị trường nên rủi ro của người sản xuất và tiêu thụ thực
không còn nữa. Do đó, phải có người “thích may rủi” thì người “muốn hắt
rủi ro” mới hắt đi được. Cho mục đích này, dần dần các nhà buôn họp nhau
lại, chấn chỉnh “forward contract”, tiêu chuẩn hóa hàng hóa, và biến nó
thành hợp đồng giao hàng trong tương lai future contract.
Nhờ có “future contract”, người “hedger” đã chuyển rủi ro kinh doanh sang
người “speculator”. Rủi ro đã có người gánh, chi phí kinh doanh của
“hedger” nhờ đó tính toán được ; giá hàng trở nên rẻ hơn so với khi chưa
tính toán được thí dụ trước kia phải để số phần trăm cho việc gì đó cao ; vậy
là người tiêu dùng được hưởng lợi. Đó là cách mà nền kinh tế thị trường
vào việc trả tiền được công ty hay người môi giới đồng ý. Sự khác biệt chính
giữa hai loại người này là tâm lý dám chơi với may rủi nằm trong giá cả của
chứng khoán hay không. Bởi vậy, trong diễn tiến bình thường đã nêu, người
“speculator” làm ngược lại. Họ có hàng trong tay đã mua trước kia với giá
thấp nay bán ra khi thấy giá lên để kiếm lời; như thế là làm cho số cung
chứng khoán tăng khiến giá tụt xuống. Khi nghĩ giá sẽ còn xuống, đang 5
USD chẳng hạn, họ sẽ vay hàng của công ty môi giới để bán. Lúc giá xuống
đến 3 USD, họ mua vào để trả nợ. Vậy là khi giá xuống họ mua vào, làm
cho mức cầu tăng, giúp giá lên lại. Trong cả hai trường hợp họ góp phần
bình thường hóa giá cả. Rủi ro của họ là khi mua vào để trả nợ mà giá lên là
lỗ. Cho nên, cơ chế của TTCK đã công nhận họ là người làm giảm biến
động giá cả của chứng khoán ; đỡ cái rủi ro cho người đầu tư nhỏ khi vì sợ
mà bán đi thì có người mua ; và do tính thích may rủi nên họ mua chứng
khoán của các công ty nhỏ mới ra, hay mới phục hổi giúp các công ty này có
vốn khi khởi đầu.
Người “thích may rủi” theo dõi diễn tiến của giá cả để hành động chứ không
tạo ra giá cả. Họ không làm giá. Giả sử họ mua vét chứng khoán, tạo khan
hiếm giả tạo, đẩy cho giá lên và bán đi thu lợi bất chính, nhưng nếu không
bán được thì sao ? Chứng khoán có hàng ngàn loại, nó đâu có hiếm, lại
không phải là thóc gạo mà bảo rằng lên đến giá nào người ta cũng phải mua.
Vì thế, luật pháp các nước phát triển cấm làm giá manipulate chứ không cấm
“speculate”
Đến đây ta thấy, dịch “speculator” là “người đầu cơ” gây hiểu lầm một cách
tai hại.
Có thể do hiểu “người đầu cơ” theo Luật Hình sự của ta, nên Luật Chứng
khoán cấm bán khống ; và được nhận xét như là “may mắn đi sau và nhận ra
cái ảo của đầu cơ”. Chúng ta chờ luật sẽ định nghĩa chi tiết hơn về việc bán
khống. Nhưng nếu hiểu bán khống là không sở hữu chứng khoán vào lúc
giao dịch mà bán như quy định hiện nay thì việc ấy không bao giờ có trên
thực tế. Bởi lẽ một người mua chứng khoán đã trả tiền đủ thì bao giờ họ
bán khống thì chúng ta xóa bỏ “người thích rủi may”. Không có họ thì
không ai - nhất là các nhà đầu tư nhỏ - sẽ hắt rủi ro đi được. Nào sẽ có ai
mua ? TTCK của ta khi ấy có nguy cơ chỉ có toàn người bán.
Xin thành lập công ty chứng khoán như thế nào?
Xin thành lập công ty chứng khoán như thế nào?
Sáng 21-7-98 tại Hà Nội, 10 ngày sau khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành
Nghị định 48/CP, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước SSC đã triệu tập hội nghị
với Tổng giám đốc các Tổng công ty bàn về việc phát hành trái phiếu, cổ
phiếu và thành lập công ty chứng khoán. Dưới đây TBKTSG lược ghi những
thông tin mới nhất về phát hành chứng khoán ra công chúng và quy trình cấp
giấy phép hoạt động cho công ty chứng khoán.
Phát hành chứng khoán
1. Điều kiện phát hành : Vốn điều lệ tối thiểu 10 tỉ đồng ; kinh doanh có lãi
hai năm gần nhất; có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ
phát hành ; thành viên hội đồng quản trị ; ban giám đốc có khả năng, kinh
nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh ; tối thiểu 20% vốn cổ phần phải được bán
cho trên 100 người đầu tư bên ngoài nếu vốn cổ phần từ 100 tỉ đồng trở lên
thì tỷ lệ là 15% ; cổ đông sáng lập nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần trong
thời gian tối thiểu ba năm ; giá trị cổ phiếu phát hành từ 10 tỉ đổng trở lên
phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
2. Hồ sơ xin phát hành cổ phiếu : Gồm chín tài liệu : đơn xin phát hành -
giấy đăng ký kinh doanh - điều lệ công ty - nghị quyết đại hội cổ đông chấp
thuận việc phát hành cổ phiếu - bản cáo bạch - danh sách và sơ yếu lý lịch
thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc - báo cáo tài chính hai năm
liên tục gần nhất - biên bản xác định giá trị doanh nghiệp của cơ quan có
thẩm quyền nếu là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa - cam kết bảo lãnh
phát hành nếu có.
3. Cấp giấy phép : SSC xét duyệt hồ sơ trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận
hồ sơ. Tổ chức phát hành nộp lệ phí cấp phép bằng 0,02% giá trị chứng
khoán phát hành, nhưng tối đa là 50 triệu đồng.
thuyết trình về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương tiện phục vụ cho việc kinh
doanh chứng khoán của công ty - dự kiến nguồn vốn và phương án kinh
doanh trong 12 tháng đầu.
Đối với liên doanh : ngoài các giấy tờ trên còn phải bổ sung : - điều lệ của
bên nước ngoài tham gia liên doanh - giấy phép hoạt động tại nguyên xứ của
bên nước ngoài - danh sách người nước ngoài làm việc cho liên doanh - hợp
đổng liên doanh - bảng tổng kết tài sản, báo cáo thu nhập, báo cáo tình hình
hoạt động kinh doanh của mỗi bên liên doanh trong ba năm gần nhất.
Các giấy tờ này phải có xác nhận công chứng hợp pháp của nơi nước ngoài
tham gia liên doanh đóng trụ sở chính và được công chứng Việt Nam xác
nhận bản dịch tiếng Việt.
4. Lệ phí cấp phép, công bố giấy phép : Công ty chứng khoán nộp lệ phí cấp
phép bằng 0,2% vốn pháp định. Chuyển toàn bộ vốn điều lệ vào tài khoản
phong tỏa không được hưởng lãi suất tại ngân hàng do SSC chỉ định. Số tiền
này được giải tỏa khi công ty khai trương hoạt động.
Trước khai trương, công ty chứng khoán công bố trong năm số liên tiếp việc
thành lập và giấy phép hoạt động trên một tờ báo ngày Trung ương, một tờ
báo ngày địa phương.
Cần phân loại chứng khoán trước khi nhập cuộc
Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài
chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển
nhượng. Chứng khoán là một loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế
thị trường tự do.
TBKTSG xin giới thiệu bài viết của tác giả Lê Trọng Nhi, một chuyên viên
có kinh nghiệm hoạt động trong thị trường chứng khoán ở Mỹ.
Trong mỗi thị trường chứng khoán các loại chứng khoán có những phẩm
chất khác nhau. Tại các thị trường chứng khoán của Mỹ, giới kinh doanh và
đầu tư chứng khoán phân ra bốn loại hàng chính và mỗi loại có một phẩm
chất khác nhau như sau:
Loại hàng hóa cổ phiếu - vốn cổ phần
ro có thể nhận định được trong quyết định mua chứng khoán. Có một quy
luật chung trong tất cả các cuộc đầu tư đó là rủi ro càng cao thì lợi nhuận
càng cao.
Tóm lại yếu tố rủi ro sẽ khống chế người tiết kiệm theo ba dạng : người đầu
tư, mua chứng khoán theo nghĩa đầu tư thực sự và không chịu rủi ro cao -
mua chứng khoán blue chips hoặc trái phiếu chính phủ ; người đầu cơ, chấp
nhận và tính toán với rủi ro, chọn thời điểm vì thời gian dài không quan
trọng - mua bán loại chứng khoán giá cả dao động nhiều, penny stocks hoặc
các junk bonds ; người mua bán, tìm lợi nhuận nhanh bằng sự chênh lệch giá
cả bất kể loại chứng khoán nào trong thị trường, và mua qua bán lại nhiều
lần.
Bài I: Thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán TTCK và sự vận hành của nó là những vấn đề
còn xa lạ không chỉ với người dân mà cả với không ít doanh nhân của chúng
ta.
Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu một cách có hệ thống về TTCK, Thời báo
Kinh tế Sài Gòn đã nhờ Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, từng nghiên cứu vấn đề
này tại trường Đại học New York Mỹ năm 1992 phụ trách loạt bài này.
Cách tìm hiểu ở đây sẽ đi từ gốc lên ngọn, nghĩa là từ công chúng đến
công ty, sang ngân hàng rồi đến TTCK.
Loạt bài gồm hai phần : phần 1 sẽ gồm bảy bài nói về TTCK là gì. Phần 2
nói về sự vận hành thế nào.
Trong khi trình bày, tác giả có liên hệ thực tế, các danh từ chuyên môn
xuất hiện lần đầu sẽ được in đậm. Các từ về TTCK được lấy từ Dự thảo
Pháp lệnh về chứng khoán và Thị trường chứng khoán của Việt Nam.
Người tiêu thụ cũng là người đầu tư
Là nam hay nữ chúng ta đều cần cơm ăn, áo mặc, và nhiều thứ khác gọi là
hàng hóa. Hàng hóa phải được chế tạo ra. Người làm ra chúng được gọi là
nhà sản xuất hay doanh nhân hay doanh nghiệp. Doanh nhân cung ứng sản
phẩm và chúng ta là người tiêu thụ.
thuần, hay sau thuế hay lợi tức doanh nghiệp. Doanh nhân trả nợ xong thì có
thể vay vốn lưu động tiếp ; gọi là vốn vay hay tín dụng ngắn hạn, nghĩa là
phải trả trong vòng một năm là tối đa.
Bây giờ vì hàng bán chạy, doanh nhân thấy cần tăng mức sản xuất, muốn
có thêm hàng phải có thêm máy móc mới, gọi là đầu tư mở rộng. Lợi tức
thuần không đủ để đầu tư mở rộng. Doanh nhân bắt buộc phải đi vay. Đây là
lý do thứ hai tại sao họ phải đi vay. Tiền vay cho đầu tư mở rộng chỉ có thể
trả từ từ bằng lợi tức thuần, vì nếu có bao nhiêu lợi tức thuần mà đem trả nợ
hết thì không còn tiền cho vốn lưu động hay để thay thế máy móc cũ. Vì thế,
vốn vay cho đầu tư mở rộng phải là vốn trung hạn, trả trong vòng từ 3-5
năm, hay vốn dài hạn, từ năm năm trở lên. Doanh nhân càng cần vốn nhiều
thì phải đi vay hay gọi vốn nhiều. Tùy số vốn ấn định, họ có thể là một công
ty cổ phần, là hình thức gom vốn cao nhất hiện nay. Trong loạt bài này, tùy
mạch câu văn các từ doanh nhân, doanh nghiệp hay công ty được dùng lẫn
lộn, nhưng chỉ chung về công ty.
Cơ sở trao đổi giữa doanh nghiệp và công chúng : đền bù rủi ro kinh doanh
Doanh nhân cần vốn ngắn, vốn dài, nhưng hàng làm ra có thể không bán
được, bị hỏng, bị mất... Hàng mất thì không có doanh thu. Cho nên công
việc làm ăn của doanh nhân luôn luôn có rủi ro, gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi
ro này nằm ở hai chỗ là thời gian để thu tiền về và khả năng tiền bị mất.
Công chúng đầu tư vào doanh nhân thì cũng phải chịu rủi ro kinh doanh.
Muốn lôi kéo họ, doanh nhân phải hứa hẹn. Lời hứa là nếu ai giao tiền để
cho vay hay hùn vốn, thì sẽ được đền bù cho rủi ro kia và cho việc phải nhịn
ăn nhịn tiêu bây giờ. Mức đền bù sẽ bằng một khoản chênh lệch giữa số tiền
giao bây giờ và trả sau này tính theo phần trăm trên số tiền được giao lúc
đầu, gọi là lãi suất. Lãi suất là cái giá mà doanh nhân phải trả để mua tiền
của người đầu tư. Các nhà kinh tế coi sự giao dịch giữa hai người là một sự
trao đổi trade.
Từ cơ sở ấy, một nguyên tắc được đặt ra cho sự trao đổi dựa trên lẽ công
bằng là nếu rủi ro mất tiền cao thì lãi suất sẽ cao ; thời gian trả số tiền gốc
Toàn cảnh về thị trường chứng khoán
Cho đến nay, chúng ta chưa đề cập đến chính quyền, và vai trò của chính
quyền trong sự khuyến khích và bảo vệ các hoạt động tiết kiệm và đầu tư.
Vai trò của chính quyền rất quan trọng. Chính quyền điều hòa khối lượng
tiền tệ trong thị trường tiền tệ, tăng giảm lãi suất để số tiền kia không bao
giờ quá thừa hay thiếu so với số hàng doanh nhân làm ra. Trong TTCK,
chính quyền thiết lập và duy trì hoạt động của nó, bảo đảm cho hoạt động
của nó diễn ra trong sự trong sáng, thanh liêm và đạo đức.
Vẽ lên một bức ảnh toàn cảnh cho TTCK, ta có bốn vòng tròn đồng tâm.
Tâm điểm là chính quyền. Vòng 1 nhỏ nhất, ở trong cùng, là doanh nghiệp.
Vòng 2 là thị trường tiền tệ. Vòng 3 là TTCK. Và vòng 4 là công chúng.
Hai vòng làm trụ cột cho nền kinh tế của một nước là 1 và 4. Thoạt đầu,
những người ở hai vòng kia trao đổi với nhau qua vòng 2. Phát triển hơn
lên, họ trao đổi thêm với nhau qua vòng 3.
Kỳ sau: Bài II - Đem tiền để dành đi dầu tư
Bài II: Công chúng có tiền để dành đem đi đầu tư
Góp vốn và cho vay
Trong xã hội con người sống với nhau, con người giúp đỡ nhau về tinh
thần và trao đổi với nhau thành quả công việc của mình. Sự trao đổi tạo nên
sự chuyên môn hóa, còn gọi là phân công lao động. Nhờ chuyên môn hóa
con người làm ra nhiều của cải hơn là cái mà mình dùng. Vậy có dư thừa.
Đã sống thì ai cũng lo cho ngày mai, nào mình, nào con cái, do đó, phải
để dành. Ấy là tiết kiệm. Có tiền tiết kiệm thì ai cũng muốn nó sinh sôi. Và
chỉ có hai cách : lấy số tiền đó đứng ra làm ăn, buôn bán ; hoặc đưa cho
người khác. Người tính chuyện làm ăn lâu dài sẽ lập một cơ sở sản xuất. Đó
là đầu tư. Người đầu tư, trong đa số trường hợp, bao giờ cũng được hưởng
lợi tức từ số tiền đã bỏ ra. Đó là sự đền bù vì đã nhịn ăn nhịn tiêu, bỏ công
sức, và chịu rủi ro kinh doanh. Mất mát càng cao thì sự đền bù càng nhiều.
Những người này là doanh nhân. Lợi tức doanh nhân hưởng thường là từ
20% trở lên cho ngành sản xuất, cao hơn nữa cho ngành mua bán ; riêng
toàn cất giữ. Một nơi nào đó cất giữ nhiều tiền của nhiều người thì - vì sự
tiện lợi của cả ba - họ sẽ đứng thay mặt người này đưa tiền cho người kia.
Đó là hệ quả của việc cất giữ. Có người khác đứng ra đưa tiền đi, lấy tiền về
cho mình ; bớt một việc lỉnh kỉnh, nên ai cũng thích. Vậy phải trả cho nơi cất
giữ và thanh toán kia một khoản tiền nhỏ cho phí dịch vụ hay tiền hoa hồng.
Và nơi kia được cả hai bên nhìn nhận là trung gian. Đó là các ngân hàng
thương mại. Từ hình thức này sang hình thức khác, lúc đầu chủ yếu đáp ứng
đòi hỏi của khách hàng, ngân hàng đã xuất hiện trong những hình thức và
khuôn khổ hoạt động khác nhau tạo nên hệ thống tài chính.
Hệ thống tài chính sẽ phục vụ công chúng và doanh nhân trong nhiều lĩnh
vực ngoài việc cất tiền và thanh toán. Thí dụ, về phía công chúng, khi cho
vay hay góp vốn vào doanh nghiệp họ cần biết các thông tin. Nếu góp vốn
họ phải xem doanh nghiệp làm ăn ra sao. Cho vay cũng phải biết họ trả nợ
được không; có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và
ít hao hụt không ; gọi là thanh khoản liquidity. Sau đó, phải ký với doanh
nghiệp hợp đồng về góp vốn, và cho vay. Công chúng không có đủ chuyên
môn để làm những việc trên và phải nhờ người trung gian. Hệ thống tài
chính với chuyên môn và phương tiện của mình sẽ làm thay cho công chúng.
Về phía doanh nghiệp, tiền của công chúng sẽ giúp họ tạo ra sản phẩm.
Nhưng khi có hàng trong tay, họ sẽ lo hàng mất, rồi giá cả có thể lên xuống.
Giúp doanh nhân thoát khỏi các lo ngại này, đấy cũng là công việc của hệ
thống tài chính. Hệ thống này hoạt động theo các nguyên tắc ta sẽ đề cập
trong một bài tới.
Trong bài này chúng ta chỉ ghi nhận một điểm quan trọng là tiền bạc hay
là vốn để đầu tư vào nền kinh tế của một nước phải do những người tiêu thụ
có một mức lợi tức cao đóng góp bằng cách đưa vào hệ thống tài chính.
Động lực thúc đẩy họ là hai thứ. Một, khi giàu tự nhiên sẽ lo ngày mai, sợ
nhiều thứ. Hai, khi để dành thì muốn đồng tiền sinh sôi nẩy nở. Phải có họ ở
vào trạng thái và tâm trạng như thế thì công ty mới có chỗ để gọi vốn.
Nhưng để làm được, thì công ty cũng phải do người tài ba nắm giữ để trả
phải chung nhau đền, nếu không tìm ra ba mà chỉ thấy có một người thôi thì
người này phải gánh hết. Trách nhiệm của cả ba người vẫn là vô giới hạn. Vì
có thêm người góp vốn nhưng tính trách nhiệm vẫn vô hạn nên Sao Mai biến
thành một cơ sở hợp danh partnership.
Coi như chuyện đền bồi không xảy ra, và ông em rể bỗng một hôm nêu
sáng kiến thay bánh gỗ bằng bánh cao su cho nó vừa nhẹ vừa bền. Sáng kiến
hay nhưng phải gọi thêm vốn để mua cao su và khuôn. Ông A bèn đến người
chú ruột mời góp vốn. Ông cụ suy tính lợi hại, nghĩ đến cái trách nhiệm vô
giới hạn, cụ lạnh người, sợ rằng có khi đang ở nhà mà cũng bị bắt vạ ; cụ
bèn lắc đầu. Ba anh em ông A thấy lý của cụ đúng. Họ bàn với nhau và bằng
lòng để ông A giao hẹn với cụ rằng, nếu cụ góp vốn nhưng không tham dự
vào việc điều khiển cơ sở thì nếu có chuyện gì xảy ra, cùng lắm cụ chỉ mất
số tiền đã góp mà thôi, họ sẽ không để cho ai tới nhà bắt vạ cụ. Đó là tính
trách nhiệm hữu hạn dành cho người góp vốn. Ông cụ bằng lòng, chẳng
những thế lại rủ hai cô con gái lẫn anh bồ của cô lớn cùng bỏ vốn vào. Bây
giờ, Sao Mai có vốn nhiều hơn xưa vì có bảy người góp vốn. Ba người trực
tiếp điều khiển, bốn người nữa chỉ góp vốn. Ba người trước sẽ chịu trách
nhiệm vô giới hạn, còn bốn người chịu trách nhiệm giới hạn. Sao Mai bây
giờ trở thành một cơ sở gọi là hợp tư limited partnership.
Đến đây ta thấy Sao Mai đã phát triển qua ba bước. Bước sau giúp nó có
vốn nhiều hơn trước vì rủ được nhiều người hơn. Vậy khi làm ăn thì nó sẽ to
lên từ từ, nhưng nó phải : 1 có người có tài làm ăn hay ; 2 có nhiều người
góp vốn ; 3 vốn sẽ có nhiều nếu người góp chịu trách nhiệm giới hạn. Cái
thứ ba sẽ thúc đẩy cái thứ hai tạo điều kiện cho cái thứ nhất. Quá trình góp
vốn là một sự suy tính lợi hại cho mình và là một sự mặt gửi vàng.
Bài IV: Cách gọi vốn của công ty cổ phần
Sự khác biệt về cách gọi vốn của công ty trong luật của các nước
Trong luật của Việt Nam và của Pháp, việc gọi vốn của công ty được quy
định ngay từ khi nó được thành lập. Luật đề ra loại trách nhiệm hữu hạn nếu
gọi vốn riêng tư, và cổ phần nếu gọi vốn công chúng. Ranh giới gọi vốn đã