Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?...
Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11-7-98 đã dành nguyên cả Điều 2, Chương I để
giải thích các thuật ngữ về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong Nghị
định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau :
1. Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức
phát hành. Chứng khoán bao gồm :
a. Cổ phiếu ;
b. Trái phiếu ;
c. Chứng chỉ quỹ đầu tư ;
d. Các loại chứng khoán khác.
2. Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán có thể
chuyển nhượng được theo các điều kiện quy định.
3. Tổ chức phát hành là pháp nhân được phát hành chứng khoán ra công chúng
theo quy định của Nghị định này.
4. Bản cáo bạch là bản thông báo của tổ chức phát hành trình bày tình hình tài
chính, hoạt động kinh doanh và kế hoạch sử dụng số tiền thu được từ việc phát
hành nhằm giúp công chúng đánh giá và đưa ra các quyết định mua chứng
khoán.
5. Niêm yết chứng khoán là việc cho phép các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn
được giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung.
6. Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng
khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
7. Tự doanh là việc công ty chứng khoán mua và bán chứng khoán cho chính
mình.
8. Phân phối chứng khoán là việc bán chứng khoán thông qua đại lý hoặc bảo
lãnh phát hành trên cơ sở hợp đồng.
9. Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán của tổ chức
phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết.
10. Giao dịch chứng khoán là việc mua, bán chứng khoán trên thị trường giao dịch
d. Bố mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột.
21. Người hành nghề kinh doanh chứng khoán là cá nhân được Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước cấp giấy phép tham gia các hoạt động kinh doanh chứng khoán.
22. Người đầu tư là người sở hữu chứng khoán, người mua hoặc dự kiến mua
chứng khoán cho mình.
2
23. Người nắm giữ chứng khoán là cá nhân, tỗ chức đang kiểm soát chứng
khoán. Người nắm giữ có thể là chủ sở hữu chứng khoán hoặc là người đại diện
cho chủ sở hữu.
24. Đại diện người sở hữu trái phiếu là pháp nhân được ủy quyền nắm giữ trái
phiếu và đại diện cho quyền lợi của chủ sở hữu trái phiếu.
25. Cổ đông thiểu số là người nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có quyền biểu quyết của
tổ chức phát hành.
26. Cổ đông lớn là người nắm giữ từ 5% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết của
tổ chức phát hành.
Đọc và hiểu giá cổ phiếu
Trên các nhật báo lớn nước ngoài đều có những trang dành riêng cho việc liệt kê giá cả thị
trường cổ phiếu. Nếu không quen lối viết tắt để tiết kiệm chỗ, rất khó hiểu cặn kẽ những
trang này.
Ngày xưa khi chưa có mạng vi tính, các thị trường chứng khoán hoạt động nhờ vào ticker
tape, là dải băng in chi tiết giá cả lên xuống của các cổ phiếu chính. Ngày nay, ticker tape
biến mất, thay vào đó là the computerized quote machine, một màn hình vi tính nối mạng
có thể cung cấp mọi chi tiết cần thiết cho người mua chứng khoán. Những dãy thông tin
trên màn hình vẫn được gọi là tape. Trên màn hình thường có ký hiệu cổ phiếu của một
công ty ví dụ GM là hãng General Mortors.
GM
L - 721/4 O 721/2 C 73
B 723/8 H 721/2 NC -3/4
A 721/2 L 721/4 V149 T1017
Các từ L last trade là giá giao dịch gần đây nhất với ký hiệu + là cao hơn giá của giao dịch
recent four quarters”.
Vol 100s volume of sales in hun-dreds chỉ số lượng cổ phiếu mua bán trong ngày hôm
trước nhân cho 100 tức là hôm qua 41.700 cổ phiếu Công ty Harris được giao dịch. Nếu
trước con số có mẫu tự Z thì đó là con số mua bán thật, không nhân lên 100.
Net change so sánh giá đóng cửa hôm đó so với hôm trước. Cuối cùng sự khác biệt giữa
giá cao nhất và giá thấp nhất được gọi là spread. Spread còn là sự khác biệt giữa giá mua
và giá bán bid and ask prices.
Chúng ta biết người môi giới chứng khoán là stockbrokers hay brokers. Nhưng bản thân
nhân viên các công ty môi giới ghi trên danh thiếp bằng những từ khác nhau như financial
consultant, institutional salesman, securities salesperson, account executive, investment
executive, portfolio salesman. Chúng ta nên chú ý để dịch chức danh của họ cho đúng.
Chứng khoán, cổ phiếu và trái phiếu
4
Thuật ngữ thị trường chứng khoán có nhiều, thường rất khó hiểu dù bằng tiếng Anh hay đã
dịch ra tiếng Việt nhưng, may mắn thay, chỉ những người chuyên ngành mới dùng. Ví dụ
khi phân tích các dạng rủi ro khi tham gia vào một thị trường chứng khoán, người ta liệt kê
nhiều hình thức rủi ro trong đó có translation risk. Mới nghe qua tưởng đâu là những bất
trắc do bất đổng ngôn ngữ, dịch sai các tài liệu hay phán đoán sai các lệnh mua bán. Nhưng
giới chuyên môn hiểu rất rõ translation risk là 'a form of currency risk associated with the
valuation of balance sheet assets and liabilities between financial reporting dates'. Như vậy
translation ở đây là sự khác biệt thời điểm báo cáo tài chính dẫn đến đánh giá khác nhau.
Là những người dân bình thường sẽ có khả năng tham gia mua bán tại các trung tâm giao
dịch chứng khoán trong tương lai, chúng ta chỉ giới hạn vào những từ căn bản thường dùng
trên thị trường này. Từ thường gặp nhất là stock. Tiếng Mỹ gọi cổ phiếu là stock ; còn
tiếng Anh gọi là share. Tuy nhiên tên gọi các thị trường chứng khoán ở Anh, Mỹ và nhiều
nước khác nữa vẫn dùng từ stock nên chúng ta dễ bị lẫn lộn. Stock hay share represents
ownership in a company and the right to receive a share in the profits of that company.
Trong khi đó trái phiếu bond là giấy nợ mà nơi phát hành cam kết trả kèm lãi suất sau một
thời gian. Hiện nay có những loại trái phiếu như T-bonds treasury bonds - trái phiếu kho
bạc; corporate bonds trái phiếu công ty ; bank bonds trái phiếu ngân hàng hay
Bình luận về các bước chuẩn bị của Việt Nam liên quan đến thị trường chứng khoán, các
quan sát viên nước ngoài cho biết : 'With a stock market Vietnam will start to appear on
more fund managers’ radar screens around the world'. Các quỹ đầu tư sẽ chú ý hơn ; 'The
fact that the decree has actually been approved will damp some of the cynicism'. Nghị định
ra đời sẽ giúp nhiều nhà đầu tư tin tưởng hơn
Các nhà đầu tư trong nước cũng có thể tin rằng thị trường này sẽ thúc đẩy quá trình cổ
phần hóa going public giúp nhiều công ty lần đầu tiên phát hành cổ phần ra công chúng
initial public offering
Nói tiếp chuyện chứng khoán
Tuần trước có nhiều bạn hỏi thêm về chuyện thị trường chứng khóan với nhiều câu đi khá
sâu vào chuyện chuyên môn.
Bạn Khánh Tâm hỏi lưu ký chứng khóan tiếng Anh là gì. Việc mua bán chứng khóan
không như nhiều bạn hình dung là đến quầy trao tiền và nhận về chứng khoán ; phải dùng
một dịch vụ gọi là custody service the storing and safekeeping of securities together with
maintaining accurate records of their ownership nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán cùng
với việc ghi nhận quyền sở hữu bằng hệ thống thông tin lưu trữ trong tài khoản lưu ký
chứng khoán. Ngày nay dịch vụ lưu ký này bao trùm nhiều thị trường của nhiều nước. Nếu
không có tài khoản lưu ký chứng khoán, thử tưởng tượng làm sao giải quyết khối lượng
hàng tỉ đô-la Mỹ trị giá chứng khoán luân chuyển hàng ngày
Bạn Thanh Tùng cho biết các bản tin nước ngoài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam
cho rằng giai đoạn đầu chủ yếu sẽ là over-the-counter trading và hỏi ý nghĩa của cụm từ
này. Bên Anh, over-the-counter market OTC là một thị trường trao đổi cổ phiếu của những
6
công ty chưa được niêm yết chính thức trên thị trường chứng khóan, việc mua bán diễn ra
trực tiếp giữa người phát hành và người mua chứ không qua thị trường chính thức. Các nhà
bình luận nói vậy vì thời gian đầu sẽ có rất ít công ty cổ phần hội đủ điều kiện để được
niêm yết chính thức. Tuy nhiên over-the-counter được dùng với nghĩa thị trường chứng
khoán nước ta giai đoạn đầu sẽ chủ yếu là trao đổi trái phiếu theo dạng tiền trao cháo múc.
Trong ngành dược, over-the-counter để chỉ loại thuốc thông thường bán trực tiếp không
cần toa bác sĩ
giá bình quân chứng khoán của một số công ty tiêu biểu, cho biết sức khỏe của thị trường
đó. Những chỉ số quen thuộc có Dow Jones Index, Financial Times Industrial Ordinary
Share Index, Nikkei 225 Average.
Cần phân loại chứng khoán trước khi nhập cuộc
Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài chính có giá
trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một
loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do
TBKTSG xin giới thiệu bài viết của tác giả Lê Trọng Nhi, một chuyên viên có kinh nghiệm
hoạt động trong thị trường chứng khoán ở Mỹ.
Trong mỗi thị trường chứng khoán các loại chứng khoán có những phẩm chất khác nhau.
Tại các thị trường chứng khoán của Mỹ, giới kinh doanh và đầu tư chứng khoán phân ra
bốn loại hàng chính và mỗi loại có một phẩm chất khác nhau như sau:
Loại hàng hóa cổ phiếu - vốn cổ phần
Cỗ phiếu phẩm chất cao - blue chips : Từ lóng blue chips để ám chỉ những cổ phiếu của
các công ty lớn, có ảnh hưởng trong nền kinh tế, có những phẩm chất nhất định về thị
trường và quản lý, mệnh giá mỗi cổ phần tương đối cao từ 100.000 - 2 triệu đồng và giá cả
không bị dao động mạnh. Số lượng mua bán các loại cổ phiếu này chiếm một tỷ trọng khá
lớn trong mỗi phiên giao dịch, có đặc tính chuyển thành tiền mặt nhanh chóng. Mức độ rủi
ro tương đối thấp và trung bình.
Cỗ phiếu phẩm chất thấp - penny stocks : Từ penny stocks để ám chỉ những cổ phiếu của
các công ty nhỏ chưa có tiềm năng phát triển lớn, hoặc mới thành lập đang tìm chỗ đứng
trong thị trường, hoặc thuộc loại khá tốt nhưng bị sự cố và đưa đến hậu quả tồi hoặc gần
như phá sản ; thông thường mệnh giá mỗi cổ phần rất thấp 9.000 đồng hoặc cao từ 10.000-
30.000 đồng. Mức độ rủi ro tương đối cao.
Hàng hóa trái phiếu - vốn nợ
Trái phiếu chính phủ : Chính phủ trung ương thông qua ngân khố hoặc các chính quyền các
thành phố lớn phát hành trái phiếu để tài trợ cho ngân sách hoặc cho một dự án công ích
nào đó. Rủi ro rất thấp và người đầu tư thường được hưởng những ưu đãi về thuế. Mệnh
giá mỗi trái phiếu thường là 10 triệu đồng. Giá cả dao động và gắn chặt theo chỉ số lãi suất
8
do đầu cơ. Đó là quan niệm về người đầu cơ ở thị trường hàng hóa mà nơi đó có những khi
cung không đủ cầu. Trái lại, ở các nước phát triển, hàng hóa không hề khan hiếm, cung
9
vượt xa cầu, nên nếu hiểu “speculator” của họ như trong bối cảnh kinh tế của ta thì rõ ràng
là sai. Hơn nữa, nếu lấy điển hình George Soros trong thị trường ngoại tệ để hô hào chống
“speculator” trong TTCK là nguy hiểm cho tiền đổ của TTCK. Tại sao vậy?
Gốc gác của người “đầu cơ”
Người “đầu cơ” ở các nước phát triển xuất hiện đầu tiên tại thị trường hàng hóa lúa, bắp,
cà-phê nơi có sử dụng hợp đồng “forward contract” bán bây giờ - sau này giao ; hợp đồng
cho hàng sẽ đến. Bán như thế không phải là bán non, vì bán non bắt nguồn từ việc nhà sản
xuất thiếu vốn. Ở “forward contract”, để cầm tin, người ta chỉ trả cho nhau từ 5-10% trị giá
món hàng. Cách mua bán này chỉ xuất hiện khi sản xuất phát triển, nông sản và nguyên
liệu thừa mứa ; nhà sản xuất phải tìm cách đem bán sang những khu vực xa xôi khác. Khi
ấy rủi ro kinh doanh thu không đủ chi sẽ xảy ra ; vì không kiểm soát được giá cả do thời
gian bán dài, cung cầu có thể thay đổi; và nơi giao hàng rất xa mà giá cả ở đó có khi khác.
Khi bên bán bị rủi ro thì bên mua cũng bị lây ; người này sợ phải trả giá nguyên liệu cao
trong khi giá bán sản phẩm phải thấp. Do mối lo chung này, cả hai cùng tìm cách khắc
phục và họ nghĩ ra “hợp đồng hàng sẽ đến”. Loại hợp đồng này thịnh hành ở Mỹ từ những
năm 1830 trở đi. Hai bên cam kết sẽ giao và nhận một mặt hàng nào đó vào hai, ba tháng
nữa, với một giá có xê xích với thời giá. Tuy nhiên, vào lúc giao hàng, do thời gian ký đã
lâu, chưa chắc món hàng có chất lượng như đã thỏa thuận, hoặc người mua có thể không
còn đồng ý với cái giá trước do mức cung hiện có. Vẫn có rủi ro dù đã có hợp đồng ! Cả
hai cần phải “hắt rủi ro” đi hedge. Họ sợ rủi ro, nên được gọi là “hedger” người hắt rủi ro.
Nhưng ai sẽ nhận rủi ro cho họ đây?
May mắn thay ! Khi số lượng “forward contract” gia tăng sẽ có nhiều thời gian giao hàng
khác nhau. Hơn nữa vì việc chuyên chở và tồn trữ hàng hóa tự nhiên sẽ được tập trung về
một nơi trung chuyển ở Mỹ là Chicago và nơi đó trở thành chợ. Ở đó có nhiều người muốn
“hắt hủi ro”, nên do bá nhân bá tánh, có người lại thích chơi với rủi ro để kiếm tiền. Loại
người “thích may rủi” này xuất hiện và được gọi là “speculator”. Vì chỉ phải trả một phần
nhỏ của giá mua, nên những người “speculator” mua bán với nhau các “forward contract”
“Người đầu cơ” trong TTCK
Trong TTCK giá mua bán được định bằng cách đấu giá ở sàn giao dịch và bằng cách mặc
cả ở bàn giao dịch. Ở nơi sau, người làm giá là người môi giới loại “market maker” tạo
mua bán hay tạo thị trường. “Speculator” ở TTCK không mua gom chứng khoán, tạo khan
hiếm giả tạo, để làm cho nó lên giá như ở thị trường hàng hóa. Giá chứng khoán lên hay
xuống là do có ít hay nhiều người mua. Tại sao họ mua lại là một yếu tố tâm lý. Thường
khi thấy giá xuống người ta mua vào, khi giá lên thì bán ra. Đó là cách ăn lời thường tình
của những người đầu tư bình thường. Từ người đầu tư bình thường trở thành “speculator”
rất dễ. Nó tùy vào cách ra lệnh mua bán, và vào việc trả tiền được công ty hay người môi
giới đồng ý. Sự khác biệt chính giữa hai loại người này là tâm lý dám chơi với may rủi
nằm trong giá cả của chứng khoán hay không. Bởi vậy, trong diễn tiến bình thường đã nêu,
11
người “speculator” làm ngược lại. Họ có hàng trong tay đã mua trước kia với giá thấp nay
bán ra khi thấy giá lên để kiếm lời; như thế là làm cho số cung chứng khoán tăng khiến giá
tụt xuống. Khi nghĩ giá sẽ còn xuống, đang 5 USD chẳng hạn, họ sẽ vay hàng của công ty
môi giới để bán. Lúc giá xuống đến 3 USD, họ mua vào để trả nợ. Vậy là khi giá xuống họ
mua vào, làm cho mức cầu tăng, giúp giá lên lại. Trong cả hai trường hợp họ góp phần
bình thường hóa giá cả. Rủi ro của họ là khi mua vào để trả nợ mà giá lên là lỗ. Cho nên,
cơ chế của TTCK đã công nhận họ là người làm giảm biến động giá cả của chứng khoán ;
đỡ cái rủi ro cho người đầu tư nhỏ khi vì sợ mà bán đi thì có người mua ; và do tính thích
may rủi nên họ mua chứng khoán của các công ty nhỏ mới ra, hay mới phục hổi giúp các
công ty này có vốn khi khởi đầu.
Người “thích may rủi” theo dõi diễn tiến của giá cả để hành động chứ không tạo ra giá cả.
Họ không làm giá. Giả sử họ mua vét chứng khoán, tạo khan hiếm giả tạo, đẩy cho giá lên
và bán đi thu lợi bất chính, nhưng nếu không bán được thì sao ? Chứng khoán có hàng
ngàn loại, nó đâu có hiếm, lại không phải là thóc gạo mà bảo rằng lên đến giá nào người ta
cũng phải mua. Vì thế, luật pháp các nước phát triển cấm làm giá manipulate chứ không
cấm “speculate”
Đến đây ta thấy, dịch “speculator” là “người đầu cơ” gây hiểu lầm một cách tai hại
Có thể do hiểu “người đầu cơ” theo Luật Hình sự của ta, nên Luật Chứng khoán cấm bán
chúng ta xóa bỏ “người thích rủi may”. Không có họ thì không ai - nhất là các nhà đầu tư
nhỏ - sẽ hắt rủi ro đi được. Nào sẽ có ai mua ? TTCK của ta khi ấy có nguy cơ chỉ có toàn
người bán.
Bài I: Thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán TTCK và sự vận hành của nó là những vấn đề còn xa lạ không
chỉ với người dân mà cả với không ít doanh nhân của chúng ta.
Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu một cách có hệ thống về TTCK, Thời báo Kinh tế
Sài Gòn đã nhờ Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, từng nghiên cứu vấn đề này tại
trường Đại học New York Mỹ năm 1992 phụ trách loạt bài này.
Cách tìm hiểu ở đây sẽ đi từ gốc lên ngọn, nghĩa là từ công chúng đến công ty,
sang ngân hàng rồi đến TTCK.
Loạt bài gồm hai phần : phần 1 sẽ gồm bảy bài nói về TTCK là gì. Phần 2 nói về
sự vận hành thế nào.
Trong khi trình bày, tác giả có liên hệ thực tế, các danh từ chuyên môn xuất
hiện lần đầu sẽ được in đậm. Các từ về TTCK được lấy từ Dự thảo Pháp lệnh về
chứng khoán và Thị trường chứng khoán của Việt Nam.
Người tiêu thụ cũng là người đầu tư
Là nam hay nữ chúng ta đều cần cơm ăn, áo mặc, và nhiều thứ khác gọi là
hàng hóa. Hàng hóa phải được chế tạo ra. Người làm ra chúng được gọi là nhà
13
sản xuất hay doanh nhân hay doanh nghiệp. Doanh nhân cung ứng sản phẩm và
chúng ta là người tiêu thụ.
Để mua hàng, ta phải đi làm để có tiền, gọi là lợi tức hay thu nhập. Mua sắm đủ
cho hôm nay, ta còn phải dành ít thu nhập để phòng cho ngày mai, nhỡ đau yếu,
đó là tiết kiệm. Tiền tiết kiệm chúng ta có thể cho người khác sử dụng bằng cách
cho vay, hoặc hùn vốn. Nếu ta đưa tiền cho doanh nhân dùng tức là chúng ta đầu
tư, vì với số tiền của ta doanh nhân sẽ làm cho số tài sản hiện có được tăng thêm.
Doanh nhân và ta cần có nhau. Doanh nhân sản xuất, ta mua hàng của họ rồi đầu
tư vào họ vì họ sẽ sản xuất nhiều hơn cho ta và con cháu ta. Vì vậy, là người tiêu
thụ nhưng cũng có khi chúng ta là người đầu tư. Những người như ta rất đông tạo
rộng phải là vốn trung hạn, trả trong vòng từ 3-5 năm, hay vốn dài hạn, từ năm
năm trở lên. Doanh nhân càng cần vốn nhiều thì phải đi vay hay gọi vốn nhiều.
Tùy số vốn ấn định, họ có thể là một công ty cổ phần, là hình thức gom vốn cao
nhất hiện nay. Trong loạt bài này, tùy mạch câu văn các từ doanh nhân, doanh
nghiệp hay công ty được dùng lẫn lộn, nhưng chỉ chung về công ty.
Cơ sở trao đổi giữa doanh nghiệp và công chúng : đền bù rủi ro kinh doanh
Doanh nhân cần vốn ngắn, vốn dài, nhưng hàng làm ra có thể không bán được,
bị hỏng, bị mất... Hàng mất thì không có doanh thu. Cho nên công việc làm ăn của
doanh nhân luôn luôn có rủi ro, gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro này nằm ở hai chỗ
là thời gian để thu tiền về và khả năng tiền bị mất.
Công chúng đầu tư vào doanh nhân thì cũng phải chịu rủi ro kinh doanh. Muốn
lôi kéo họ, doanh nhân phải hứa hẹn. Lời hứa là nếu ai giao tiền để cho vay hay
hùn vốn, thì sẽ được đền bù cho rủi ro kia và cho việc phải nhịn ăn nhịn tiêu bây
giờ. Mức đền bù sẽ bằng một khoản chênh lệch giữa số tiền giao bây giờ và trả
sau này tính theo phần trăm trên số tiền được giao lúc đầu, gọi là lãi suất. Lãi suất
là cái giá mà doanh nhân phải trả để mua tiền của người đầu tư. Các nhà kinh tế
coi sự giao dịch giữa hai người là một sự trao đổi trade.
Từ cơ sở ấy, một nguyên tắc được đặt ra cho sự trao đổi dựa trên lẽ công bằng
là nếu rủi ro mất tiền cao thì lãi suất sẽ cao ; thời gian trả số tiền gốc dài thì lãi
suất cũng cao ; việc nhịn ăn nhịn tiêu được tính chung vào lãi suất ấy nhưng bị tùy
thuộc vào việc doanh nhân có dễ tìm được một người đầu tư khác hay không. Lãi
suất tiêu biểu cho rủi ro kinh doanh và là cái giá để mua bán tiền.
Sự hóa giải cái trái ngược về lợi ích giữa doanh nhân và nhà đầu tư
Do nguyên tắc về lãi suất, sự trao đổi giữa doanh nhân và nhà đầu tư luôn luôn
là một sự giằng co giữa hai lợi ích khác nhau. Người đầu tư muốn lãi suất cao, thu
tiền sớm. Doanh nhân lại muốn lãi suất thấp, mà lâu mới trả tiền ; nhất là những
người thực hiện những dự án lớn. Đó là đòi hỏi cực đoan của mỗi bên. Giải quyết
15
mâu thuẫn này là công trình của loài người kéo dài qua nhiều thế kỷ và bằng hai
cách chính.
kia trao đổi với nhau qua vòng 2. Phát triển hơn lên, họ trao đổi thêm với nhau
qua vòng 3.
16
Kỳ sau: Bài II - Đem tiền để dành đi dầu tư
Bài II: Công chúng có tiền để dành đem đi đầu tư
Góp vốn và cho vay
Trong xã hội con người sống với nhau, con người giúp đỡ nhau về tinh thần và
trao đổi với nhau thành quả công việc của mình. Sự trao đổi tạo nên sự chuyên
môn hóa, còn gọi là phân công lao động. Nhờ chuyên môn hóa con người làm ra
nhiều của cải hơn là cái mà mình dùng. Vậy có dư thừa.
Đã sống thì ai cũng lo cho ngày mai, nào mình, nào con cái, do đó, phải để
dành. Ấy là tiết kiệm. Có tiền tiết kiệm thì ai cũng muốn nó sinh sôi. Và chỉ có hai
cách : lấy số tiền đó đứng ra làm ăn, buôn bán ; hoặc đưa cho người khác. Người
tính chuyện làm ăn lâu dài sẽ lập một cơ sở sản xuất. Đó là đầu tư. Người đầu tư,
trong đa số trường hợp, bao giờ cũng được hưởng lợi tức từ số tiền đã bỏ ra. Đó
là sự đền bù vì đã nhịn ăn nhịn tiêu, bỏ công sức, và chịu rủi ro kinh doanh. Mất
mát càng cao thì sự đền bù càng nhiều. Những người này là doanh nhân. Lợi tức
doanh nhân hưởng thường là từ 20% trở lên cho ngành sản xuất, cao hơn nữa
cho ngành mua bán ; riêng ngành tài chính thường phải hơn 30%. Mức lợi tức đó
được tính theo hàng năm dựa trên sự so sánh chi phí bỏ ra và doanh thu lấy về.
Doanh nhân là người có óc phiêu lưu, lại được trời cho cặp mắt nhìn ra các cơ hội
có thể kiếm tiền. Và vì thế họ là người tài ba. Những ai không tài ba mà cũng
muốn tiền để dành sinh lãi thì - nghe lời hứa của doanh nhân - đưa tiền cho doanh
nhân, gọi là hùn vốn để cuối năm được chia lời, số tiền đưa vào sẽ lấy về mươi
mười năm sau khi doanh nghiệp giải thể. Đó là sự hùn vốn, hay đầu tư bằng cách
góp vốn. Khi hùn vốn thì có năm không được chia gì nếu doanh nghiệp làm ăn
không có lời hay họ quyết định không chia lời. Tiền chia lời do góp vốn gọi là cổ
tức.
Có nhiều người ngại cách hùn vốn. Họ muốn tiền đưa ra tháng nào cũng phải
có lãi về, và bao lâu nhất định lấy lại số gốc. Do đó họ cho doanh nghiệp vay. Tiền
chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và ít hao hụt không ; gọi là thanh
khoản liquidity. Sau đó, phải ký với doanh nghiệp hợp đồng về góp vốn, và cho
vay. Công chúng không có đủ chuyên môn để làm những việc trên và phải nhờ
người trung gian. Hệ thống tài chính với chuyên môn và phương tiện của mình sẽ
làm thay cho công chúng. Về phía doanh nghiệp, tiền của công chúng sẽ giúp họ
tạo ra sản phẩm. Nhưng khi có hàng trong tay, họ sẽ lo hàng mất, rồi giá cả có thể
lên xuống. Giúp doanh nhân thoát khỏi các lo ngại này, đấy cũng là công việc của
hệ thống tài chính. Hệ thống này hoạt động theo các nguyên tắc ta sẽ đề cập
trong một bài tới.
Trong bài này chúng ta chỉ ghi nhận một điểm quan trọng là tiền bạc hay là vốn
để đầu tư vào nền kinh tế của một nước phải do những người tiêu thụ có một mức
lợi tức cao đóng góp bằng cách đưa vào hệ thống tài chính. Động lực thúc đẩy họ
18
là hai thứ. Một, khi giàu tự nhiên sẽ lo ngày mai, sợ nhiều thứ. Hai, khi để dành thì
muốn đồng tiền sinh sôi nẩy nở. Phải có họ ở vào trạng thái và tâm trạng như thế
thì công ty mới có chỗ để gọi vốn. Nhưng để làm được, thì công ty cũng phải do
người tài ba nắm giữ để trả xong nợ. Công ty là một định chế đã phát triển theo
một quá trình dài để làm sao gọi được nhiều vốn nhất. Và đó là đề tài của bài
sau.
Bài III: Công ty cổ phần - quá trình tích tụ vốn
Công ty cổ phần là một tổ chức có thể gom vốn của nhiều người đầu tư nhất. Quá
trình hình thành của nó, khi đã được luật pháp công nhận và bảo vệ, là một quá
trình của loài người tìm cách tập trung tư bản.
Từ vốn góp của một người lên đến vốn góp của vài người
Ông A ở một làng nọ, có gia đình. Họ hàng ông có nhiều người làm nghề mộc.
Khi gặt hái trên mảnh đất cha mẹ để lại, ông ao ước sao không phải gánh gồng.
Một hôm lên huyện, ông thấy cái xe cút kít tải đất. Về nhà ông chợt nảy ra sáng
kiến làm xe kéo bằng gỗ. Kéo nhẹ hơn đẩy, ông nghĩ. Tính toán tiền để dành ông
quyết định làm xe kéo. Dọn cái sân, mua gỗ về, sắm dụng cụ... ông sản xuất xe,
và đặt tên cho cơ sở của mình là Sao Mai. Xe làm ra bán rất chạy. Khi bỏ vốn và
cùng bỏ vốn vào. Bây giờ, Sao Mai có vốn nhiều hơn xưa vì có bảy người góp
vốn. Ba người trực tiếp điều khiển, bốn người nữa chỉ góp vốn. Ba người trước sẽ
chịu trách nhiệm vô giới hạn, còn bốn người chịu trách nhiệm giới hạn. Sao Mai
bây giờ trở thành một cơ sở gọi là hợp tư limited partnership.
Đến đây ta thấy Sao Mai đã phát triển qua ba bước. Bước sau giúp nó có vốn
nhiều hơn trước vì rủ được nhiều người hơn. Vậy khi làm ăn thì nó sẽ to lên từ từ,
nhưng nó phải : 1 có người có tài làm ăn hay ; 2 có nhiều người góp vốn ; 3 vốn
sẽ có nhiều nếu người góp chịu trách nhiệm giới hạn. Cái thứ ba sẽ thúc đẩy cái
thứ hai tạo điều kiện cho cái thứ nhất. Quá trình góp vốn là một sự suy tính lợi hại
cho mình và là một sự mặt gửi vàng.
Bài IV: Cách gọi vốn của công ty cổ phần
Sự khác biệt về cách gọi vốn của công ty trong luật của các nước
Trong luật của Việt Nam và của Pháp, việc gọi vốn của công ty được quy định
ngay từ khi nó được thành lập. Luật đề ra loại trách nhiệm hữu hạn nếu gọi vốn
riêng tư, và cổ phần nếu gọi vốn công chúng. Ranh giới gọi vốn đã được định.
Muốn đổi cách gọi vốn phải đổi hình thức công ty. Luật của Mỹ làm khác. Nó
không định loại hình công ty lúc đầu mà để cho công ty trong quá trình hoạt động
sẽ chọn cách gọi vốn. Và từ cách gọi vốn đó công ty có một loại hình. Nếu chọn
cách gọi vốn riêng tư thì công ty không phải đăng ký với ủy ban giao dịch chứng
khoán - UBGDCK Securities Exchange Commission và công ty sẽ là loại closely
held corporation . Nếu gọi vốn của công chúng thì phải đăng ký, và lúc đó nó là
20
một public corporation đại chúng. Như đã nêu từ bài đầu, cách gọi vốn trình bày
ở đây là cách làm của công ty Mỹ.
Chúng ta đã biết tên gọi của các loại vốn theo mục đích sử dụng cố định, lưu
động và theo thời gian sử dụng ngắn, trung, dài hạn. Công ty có thể vay vốn ngắn
và trung hạn ở thị trường tiền tệ. Ở đây ta sẽ xem cách công ty gọi vốn dài hạn
mà vì thế tạo nên TTCK.
Gọi vốn dài hạn bằng cách phát hành cổ phiếu
Khi thành lập, ngay ở bản chứng thư lập hội articles of association những người
Để huy động vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo số tiền cần có.
Nếu định bán cho công chúng, trước khi bán công ty phải đăng ký cổ phiếu với
UBGDCK ; gọi là niêm yết chứng khoán trên TTCK ; lúc đó cổ phiếu có thêm một
tên mới là chứng khoán. Nếu chỉ bán cho vài người thì không phải đăng ký cổ
phiếu. Tùy theo tình hình tài chính của công ty, nếu làm ăn khấm khá, công ty sẽ
mua lại số cổ phiếu đặc ưu đem về cất giữ, gọi là treasury stock . Số còn nằm
trong tay cổ đông sẽ gọi là outstanding share .
Sau khi gọi vốn lần đầu, những lần sau, muốn tăng vốn, công ty bán nốt số cổ
phiếu hãy còn giữ lại lúc đầu, hay phát hành một đợt cổ phiếu mới, gọi là phát
hành mới. Loại nào, bao nhiêu thì do hội đồng quản trị công ty quyết định. Cứ mỗi
lần phát hành mà muốn bán cho công chúng thì lại phải làm đủ thủ tục niêm yết
như lần đầu. Điều này khác với khi vay tiền ngân hàng. Ở đó làm thủ tục lần đầu,
lần sau chỉ ký lại. Do vậy, phí tỗn để huy động vốn trên TTCK cao hơn là khi đi vay
ngân hàng.
Biện pháp khuyến khích cổ đông và nhân viên của công ty
Nếu đã bán chứng khoán trên TTCK rồi, mỗi lần phát hành mới, công ty đặt ra
ba cách dụ khị cổ đông hiện có hay để thưởng cho nhân viên cao cấp của mình.
Cách thứ nhất là phát stock option cho nhân viên. Khi cầm nó, nhân viên được
quyền mua hay bán một số chứng khoán của công ty theo một giá đã định trước
khi hết hạn vào một ngày nào đó. Stock option có thể là một call option cho họ
quyền mua, hay một put option cho họ quyền bán. Với giá đã định, người nắm
call option có lợi khi giá chứng khoán của công ty tăng trên TTCK vào lúc đến hạn
mua, thì được mua với giá cũ. Nếu giá chứng khoán xuống thì người có"put
option" có lợi vì được bán cho công ty với giá đã định cao hơn giá hiện thời. Phần
thưởng cho họ nằm ở sự chênh lệch giá.
Loại dụ khị thứ hai là ấn định rights quyền cho người nắm cổ phiếu thông
thường. Có rights họ được quyền mua một số cổ phiếu thông thường mới phát
hành với một giá đã ấn định, nếu mua trước một ngày nào đó thường là một năm.
Đến ngày hết hạn mà giá chứng khoán của công ty lên thì họ có lời vì được mua
với giá cũ. Loại thứ ba la ø"stock warrant" dành cho những ai có cổ phần đặc ưu,
hưu bổng đầu tư. Quỹ tập thể kia do các công ty chứng khoán securities
company, bảo hiểm hay những công ty chuyên môn khác gọi là công ty đầu tư
investment company điều hành. Những công ty này có tiền nhiều lại có thể cho
vay lâu dài nên được gọi là các đại gia đầu tư institutional investors. Chính đến
giai đoạn này nhu cầu về vốn dài hạn của công ty mới có thể được đáp ứng một
cách tự nguyện.
23
Công nghệ sử dụng trong hoạt động của hệ thống tài chính
Khi làm trung gian, hệ thống tài chính đã làm cho các sự trao đổi giữa công
chúng và doanh nhân được thuận tiện và nhanh chóng ; đồng thời làm giảm các
rủi ro nằm trong các hoạt động đó. Sở dĩ được như thế vì hệ thống đó sử dụng và
phối hợp bốn công nghệ.
Một, là sự ủy nhiệm delegation. Ngân hàng thay mặt người này trả tiền cho
người kia. Sự ủy nhiệm làm cho chi phí về giao dịch giảm đi vì một người có thể
làm thay cho nhiều người. Hơn nữa, nó làm cho công việc đảm nhận trở nên
chuyên môn, vì thế mà hữu hiệu hơn. Ngoài ra, lấy việc cho vay làm ví dụ, khi có
nhiều tiền trong tay ngân hàng thay mặt cho các chủ nợ thì ngân hàng sẽ có lợi
thế để thương thuyết với con nợ. Tất nhiên sự ủy nhiệm đòi người được giao phải
có uy tín và chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Ngân hàng đứng ra cho vay
mà không đòi được thì phải đền cho người ký thác vốn là chủ nợ.
Hai, đem uy tín ra để làm thay credit substitution. Ngân hàng cấp tín dụng thư
để bảo đảm trả tiền cho người bán thay cho người mua hàng là một ví dụ. Lời hứa
kia làm khách hàng tin tưởng vì ngân hàng có uy tín.
Ba, ngân hàng được tin tưởng không chỉ vì uy tín của mình mà còn vì khả
năng thu gom tài sản của rất nhiều người vào tay mình pooling. Nhờ đó, họ có thể
lấy cái nhàn rỗi của số đông để phục vụ cái cấp bách của một số nhỏ.
Cuối cùng, khi nắm trong tay mình các yêu cầu khác nhau của một số đông
người có những đòi hỏi khác nhau, hệ thống tài chính có thể bù qua, sớt lại, lấy
cái này đập vào cái kia netting ; nhờ đó giảm được số lượng công việc phải làm
so với khi phải làm riêng lẻ, và làm cho các yêu cầu đều được thỏa mãn. Có thể
những quyền lợi khi sở hữu cổ phần là do luật công ty quy định thì TTCK cũng đòi
hỏi y như vậy, ngoài những luật của chính nó và cho nó.
Nói chung, TTCK và thị trường tiền tệ chỉ là trung gian. Muốn làm trung gian,
chúng phải ổn định và phục vụ có hiệu quả. Để có được những tính chất này
chúng phải nhờ đến chính quyền. Chẳng hạn, để cho nhà đầu tư đưa tiền cho
ngân hàng rồi ngân hàng cho doanh nghiệp vay, thì vòng giao dịch này phải làm
lợi cho cả ba người. Cái lợi đó chỉ có khi giá cả trao đổi có tính cạnh tranh, các giá
sàn sàn với nhau, để mọi bên phải luôn luôn phấn đấu rồi cùng hưởng cái tốt
nhất. Không ai có đặc quyền để có thể đưa một giá nào đó lên quá cao hay hạ
quá thấp ; vì như thế là làm mất tính cạnh tranh của giá cả, đưa đến độc quyền ;
mà độc quyền là cho một người nào đó có quyền được quyền lười biếng, khiến
cho những người khác phải chầu chực họ và làm cho sự trao đổi bị tắc nghẽn.
Ngoài ra, khi có nhiều người tham dự thì phí tổn giao dịch phải thấp, nếu không thì
sẽ rất tốn kém cho mọi người. Muốn thế, các đơn vị nằm trong hệ thống tài chính
phải được khuyến khích kết hợp hay hội nhập về công việc lại với nhau. Bằng luật
25