Tài liệu Giải pháp thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài? doc - Pdf 84

Giải pháp thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài?
Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) không chỉ mang lại vốn mà
còn có vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường tài chính phát triển theo
hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô và tăng tính
minh bạch; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp...
Tuy nhiên, dòng vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn nước
ngoài khác. Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định và tương xứng với tiềm năng, góp phần
tạo động lực phát triển thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam đang là vấn đề được các cơ quan
hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quan tâm.
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số ý kiến, giải pháp của các nhà nghiên cứu, cơ quan
quản lý, hoạch định chính sách cũng như các doanh nghiệp nhằm thu hút vốn FII qua thị trường
tài chính vừa được đưa ra tại cuộc hội thảo do Viện Khoa học tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức
tuần qua.
Giải pháp thu hút dòng vốn gián tiếp
(Bà Nguyễn Thị Liên Hoa, Trưởng Ban phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
"Trong hai năm vừa qua, tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước đã được đẩy mạnh
hơn so với những năm trước rất nhiều lần. Tới cuối tháng 3 năm 2006, đã có 4.673 doanh
nghiệp Nhà nước được tái cơ cấu, trong đó có 3.298 doanh nghiệp được cổ phần hoá.
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những công ty có quy mô trung bình và nhỏ, vốn Nhà nước trong
những công ty này chỉ chiếm 8% trong tổng số những doanh nghiệp Nhà nước phải cơ cấu lại.
Vẫn còn nhiều các doanh nghiệp Nhà nước cần phải cổ phần hoá trong những năm tới và đây là
những doanh nghiệp Nhà nước có số vốn khổng lồ và thực sự là cơ hội lớn cho các nhà đầu tư
trong nước cũng như ngoài nước.
Một khu vực tiềm tàng nữa mà có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đó
chính là khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân. Hiện nay, có tới 97% của hơn 230.000
doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh
nghiệp tư nhân rất năng động và phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế.
Trong số đó, có một số không ít doanh nghiệp khẳng định được vị trí của mình và đang trở thành
những thương hiệu mạnh của Việt Nam. Tương lai phát triển của các doanh nghiệp này càng trở
nên rõ ràng hơn sau khi Chính phủ ban hành hai bộ luật mới, đó là Luật Doanh nghiệp và Luật

kinh tế phát triển cao cho phép các nhà đầu tư có nhiều cơ hội có được suất sinh lợi cao trên
tổng vốn đầu tư.
Như vậy, vấn đề cơ bản là tiếp tục thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng
của cả nền kinh tế. Mặt khác, để thúc đẩy hoạt động của các quỹ đầu tư, chúng ta cần thực hiện
một số giải pháp cụ thể như: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, khuôn khổ quản lý thị trường;
phát triển quy mô thị trường; xây dựng và triển khai áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quản trị
và điều hành doanh nghiệp, quản lý Nhà nước; tăng tính minh bạch của thị trường chứng khoán,
thị trường OTC và tại các doanh nghiệp cổ phần tư nhân; ban hành các chính sách khuyến khích
hoạt động lâu dài của các quỹ đầu tư nước ngoài..."
Minh bạch thông tin và đồng bộ chính sách
(Ông Hồ Công Hưởng, Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư Phát triển)
"Phải thừa nhận rằng, xét về quy mô và tốc độ phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
nay chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực. Số lượng và chất lượng các thông tin tài chính còn thiếu và yếu.
Mặc dù Luật Chứng khoán sắp có hiệu lực, đối tượng công ty đại chúng được mở rộng nhưng
chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính, chất lượng quản trị công ty đại chúng vẫn còn nhiều bất
cập. Do vẫn có sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, các nhà đầu tư nước
ngoài còn e dè khi đọc các báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán trong nước thực hiện. Việc
phát triển và mở rộng quy mô của thị trường trái phiếu vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Dịch vụ định
mức tín nhiệm và thống kê dữ liệu ngành hầu như không có.
Hai là sự thiếu và không đồng bộ về mặt luật pháp. Luật Chứng khoán tới đầu năm 2007 mới có
hiệu lực. Mặc dù Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp mới được ban hành trong năm 2006 nhưng
chưa thể đi vào vận hành vì thiếu hệ thống nghị định, thông tư hướng dẫn. Luật không quy định
được vấn đề chi tiết nên phải chờ các văn bản hướng dẫn của các bộ, ban, ngành.
Ví dụ, đóng góp vào dự thảo Nghị định Chính phủ về việc mua cổ phiếu ngân hàng, VAFI đã có
nhận xét Nghị định trên mang tính “khó hiểu, rắc rối, không cần thiết”, “cản trở sự phát triển của
ngân hàng” và “không khuyến khích các tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phần ngân hàng”.
Hay như Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp đã xoá bỏ tỷ lệ hạn chế cổ phần của nhà đầu tư
nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam, chỉ trừ những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì
phải giới hạn tỷ lệ sở hữu. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có danh mục những ngành nghề kinh doanh

những người nắm giữ luồng vốn lớn nhất.
Đây là một công cụ quan trọng không chỉ đối với các nhà đầu tư mà còn đối với các tổ chức phát
hành đang tìm kiếm các nhà đầu tư. Các mức xếp hạng tốt có thể giúp một công cụ đầu tư, một
công ty hoặc một quốc gia thu hút được những nguồn vốn lớn từ trong và ngoài nước, góp phần
thúc đẩy nền kinh tế.
Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ cộng với nhu cầu về vốn cho đầu tư và phát triển
trong giai đoạn tới, cần phải coi định mức tín nhiệm như một công cụ hỗ trợ đầu tư, góp phần
tăng cường tính minh bạch, chất lượng của các công ty trong nước cũng như mức độ tín nhiệm
quốc gia của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Thông thường, tùy theo việc phân loại các đối tượng xếp hạng mà các tổ chức định mức tín
nhiệm trên thế giới có thể cung cấp nhiều dịch vụ cụ thể đối với từng đối tượng. Trong điều kiện
thị trường vốn Việt Nam còn nhỏ bé và định mức tín nhiệm còn là một khái niệm hết sức mới mẻ
ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu hình thành, các tổ chức định mức tín nhiệm ở Việt Nam chỉ nên
triển khai một số nghiệp vụ cơ bản, cần thiết cho sự phát triển của thị trường vốn trong nước.
Trước mắt, chúng tôi nhận thấy có 4 đối tượng cần được ưu tiên triển khai việc định mức tín
nhiệm.
Một là, xếp hạng các công cụ nợ dài hạn, bao gồm việc xếp hạng tổ chức phát hành nợ dài hạn
và xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn.
Xếp hạng tổ chức phát hành nợ liên quan tới việc đưa ra đánh giá chung về năng lực của tổ
chức phát hành nợ, của tổ chức bảo lãnh hoặc cung cấp các hỗ trợ tín dụng nhằm đáp ứng các
cam kết tài chính liên quan đến các nhà phát hành nợ hoạt động trên thị trường tài chính Việt
Nam. Còn xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn là việc đánh giá khả năng của công ty hoàn trả
vốn gốc và lãi vay.
Hai là, xếp hạng tiền gửi và khả năng tài chính của các ngân hàng thương mại quốc doanh và
thương mại cổ phần Việt Nam.
Điều này liên quan tới khả năng của một ngân hàng có thể đáp ứng đúng hạn các nghĩa vụ nợ
của mình đối với các tổ chức hoặc cá nhân gửi tiền trong và ngoài nước. Còn xếp hạng khả năng
tài chính của ngân hàng liên quan tới đặc tính an toàn và chất lượng hoạt động của một ngân
hàng, thường tính tới các yếu tố như các chỉ số tài chính cơ bản, giá trị mạng lưới hoạt động, sự
đa dạng hóa tài sản đầu tư, và cả các yếu tố liên quan tới môi trường hoạt động của ngân hàng,

gian qua, do thị trường vốn Việt Nam chưa phát triển, đặc biệt là tác động tiêu cực của dòng vốn
này trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nên thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt
Nam chưa được cơ quan hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu đánh giá đúng vai trò và
tiềm năng của nó.
Đến nay, Việt Nam đã bước đầu hội đủ những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh thu hút vốn đầu
tư gián tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá mới cả về lý luận và thực tiễn.
Vì vậy, để góp phần tháo gỡ rào cản và hoạch định chính sách thu hút và quản lý vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài một cách có hiệu quả, trước hết chúng ta cần đánh giá rõ hơn về tầm quan
trọng đối với phát triển nền kinh tế Việt Nam; lợi thế và bất lợi của dòng vốn này.
Thứ hai, trên cơ sở đánh giá tiềm năng, dự báo xu hướng và xác định rõ mục tiêu, định hướng
thu hút vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đến năm 2010, cần đề xuất các chính sách và biện
pháp nhằm thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp sao cho phù hợp với đặc điểm của vốn đầu tư
gián tiếp và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Và thứ ba, chúng ta cần quảng bá và tạo sự hấp
dẫn đối với hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam."
Thực thi chính sách mở cửa thu hút vốn
(Ông Trương Hùng Long, Phó vụ trưởng Vụ Tài chính ngân hàng, Bộ Tài chính)
"Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đặt ra mục tiêu tổng sản phẩm quốc nội năm
2010 tăng gấp đôi so với năm 2000, giai đoạn 2006-2010 còn phải đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
từ 7,5% - 8% năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm. Tỷ lệ huy động vốn cho đầu tư là 40% GDP. Tỷ
lệ huy động vốn trong nước là 65 - 67%, nước ngoài là 33 - 35%.
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần ổn định và cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô; thực thi
chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Cụ thể là, mở rộng tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam trên
nguyên tắc đảm bảo mặt bằng chung về tỷ lệ tham gia giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp;
thu hẹp đối tượng ngành nghề Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn hoặc nắm giữ cổ phần chi phối.
Phát triển các công ty quản lý quỹ, khuyến khích thành lập các công ty liên doanh quản lý quỹ,
lập văn phòng đại diện và cho phép lập chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam.
Khuyến khích lập các quỹ đầu tư nước ngoài để huy động vốn đầu tư vào thị trường Việt Nam.
Đa dạng hoá các loại hình quỹ đầu tư như quỹ đóng, quỹ mở, quỹ dạng hợp đồng, quỹ đầu tư là
pháp nhân...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status