TRƯỜNG……………..
KHOA………………
---XW---
“Ngành Dệt May Việt Nam
trên con đường hội nhập”
Năm học
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
I. THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1.1 Thị trường dệt may
Trong hơn 10 năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến
vượt bậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân 23.8%/
năm, vươn lên đứng thứ 2 trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, sau ngành
dầu khí. Nếu như năm 1990 hàng dệt may Việt Nam mới chỉ có mặt ở gần 30
nước trên thế giới thì đến nay đ
ã hiện diện ở hầu khắp các châu lục với trên
100 nước và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng. Năm
1998 xuất khẩu hàng dệt may đạt 1,45 tỷ USD, tới năm 1999 đã tăng lên 1,76
tỷ USD và năm 2000 xuất gần 1,89 tỷ USD, gấp 16 lần so với năm 1990. Năm
2002 kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 2,7 tỷ USD, tăng 30,7% so với năm
2001, vượt kế hoạch 12,5%. Năm 2003 là 3,6 tỷ
USD và vượt hơn 400 triệu
USD so với mục tiêu đề ra, điều này không chỉ góp phần đưa kim ngạch xuất
khẩu nói chung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cở sở vững chắc cho sự tăng
trưởng xuất khẩu cho những năm sau.
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY QUA CÁC NĂM
Đơn vị : triệu USD
850
1150
1502
1450
1747
1892
năm trên 38%. EU và Việt Nam đã ký hiệp định xuất khẩu may mặc của Việt
Nam thời k
ỳ 1998-2000, tăng 31% so với 1992-1997. Việt Nam sử dụng cả
hạn ngạch của EU cấp cho Singapore, Indonesia, Philipin. Giai đoạn 2001-
2002 EU tăng hạn ngạch cho Việt Nam với 16 mã hàng may mặc xuất khẩu
sang EU. Tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam giữ mức 15-16% kim ngạch xuất
khẩu. Năm 1999 xuất khẩu hàng này đạt 700 triệu USD. Các nước nhập khẩu
lớn là Đức, Pháp, Hà Lan, Anh. Nhiều nước đặt gia công may mặc cho Việt
Nam (Đức, Pháp …)
KIM NGẠCH XU
ẤT KHẨU DỆT MAY VÀO EU
Đơn vị: triệu USD
185
245
285
350
420
450
580
620
590
631
575
1
0
100
200
300
400
500
may mặc rất nhanh. Trong khi đó, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang
Nhật Bản chỉ mới đ
áp ứng được một cách tương đối hai yêu cầu, đó là giá cả
và chất lượng. Còn yêu cầu về kiểu dáng thì kiểu dáng hàng may mặc Việt
Nam rất nghèo nàn, không đa dạng do ngành công nghiệp thiết kế thời trang
trong nước chưa phát triển, về nhãn mác chỉ người tiêu dùng trong nước mới
biết đến nhãn mác các sản phẩm may Việt Nam.
Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản
Đơn vị : triệu USD
Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay Việt
Nam đứng thứ 4 trong các nước có hàng may xuất khẩu vào Nhật Bản. Các
sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là hàng may mặc
như Jacket, quần áo thể thao, quần âu, sơ mi, quần áo lót, quần áo dệt kim….
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản hàng năm đến
nă
m 2000 đạt cao nhất (620 triệu USD), sau đó đến năm 2001 lại giảm 5%so
với năm 2000 còn 592 triệu USD. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thương mại
thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản đạt dưới 500
triệu USD, giảm 20% so với năm 2001. Nguyên nhân chính là do sức ép cạnh
tranh của hàng Trung Quốc có chất lượng, mẫu mã đa dạng và giá rẻ, hiện đã
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
105.7 58.4 104.1 210.5 309.5 325 321 417 620 592 480
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
chiếm tới gần 90% thị phần hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản. Nhiều
doanh nghiệp Việt Nam chỉ nghĩ tới việc thay đổi mẫu mã sản phẩm khi chu
kỳ sống của sản phẩm đó đã bước sang giai đoạn thoái trào, hàng không bán
được nữa. Còn xuất khẩu cả năm qua cũng giảm 1,8% so với năm 2002.
*Thị trường Hoa Kỳ
1.2 Thiết bị công nghệ ngành Dệt may.
Thiết bị công nghệ ngành Dệt may Việt Nam vừa lạc hậu vừa thiếu đồng bộ,
sản phẩm làm ra không có năng lựccạnh tranh. Theo chương trình phát triển
Liên hợp quốc ngành Dệi may Việt Nam đang ở trình độ 2/7 của thế giới, thiết
bị máy móc lạc hậu 3-3 thế hệ. Điều này làm cho năng lực sản xuất của ngành
Dệt may còn nhiề
u hạn chế.
Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từ
nhiều nước. Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư
hang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng
sản phẩm thấp, giá thành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh nghiệp
đã sử dụng nguồn v
ốn tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiết
bị,góp phần năng cao chất lương công nghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng ngàn
máy dệt không thoi, có thoi khổ rông đã được nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới ,
hiện đại đã được trang bị thay thế cho những thiết bị quá cũ. Tuy ngành Dệt đã
có nhiều cố gắng trong đầu tư đổi mới công nghệ như
ng cho đến nay trình độ
kỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực và thế giới.
Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm được gần 20.000
máy may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ
lao động, áo phông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất
khẩu và nội địa. Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sả
n xuất và đổi mới thiết
bị để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới.Các máy may được
sử dụng hiện nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút),
có bơm dầu tự động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Một số doanh nghiệp đã
đầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất mộ
t mặt
hàng như đây chuyền may sư mi của May 10, đây chuyền may quần đứng có
trang, cũng như các nhà thiết kế để nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn
nguyên liệu trong nước.Trên 80% vải sẵn có trong nước hiẹn nay đều phải
nhập khẩu. Thậm chí các doanh nghiêp may thuộc Tổng công ty Dệt may cũng
hông sử dụng vải do các công ty trong nước sản xuất, có tới 90% nguyên vật
liệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ nước ngoài nên bị phụ
thuộc vào khách hàng bên ngoài. Vì vậy giá trị xuất khẩu của ngành may lớn
nhưng nguyên liệu chính và phụ phần lớn phải nhập khẩu nên hiệu quả thấp.
1.4 Mặt hàng Dệt may.
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Trước đây, các mặt hàng sợi được sản xuất chủ yếu là các loại sợi bông
chải thô, cung cấp cho thị trường nội địa, dệt các mặt hàng phổ thông như vải
bạt quân dụng, vải bảo hộ lao động, ka ki.Những năm gần đây mặt hàng sợi đa
dạng và phong phú hơn. Tuy các mặt hàng đã được phát triển và nâng cao chất
lượng một cách rõ rệt, mang lại những kết qu
ả khả quan trong xuất khẩu và
tiêu thụ nội địa nhưng tỷ lệ sản lượng mặt hàng có hiệu quả chưa cao làm cho
việc phục hồi vốn đầu tư chem., kéo dài việc trả nợ.Hơn nữa công tác nghiên
cứu các mặt hàng chưa được khuyến khích, thiếu chủ động trong việc tìm
hang mới… nên chưa thay thế được các mặt hàng mà ngành May phải nhập để
tái xuất, chưa hình thành được mối liên h
ệ vững chắc giữa Dệt và May trên thị
trường nội địa.
Sản phẩm của ngành May rất đa dạng và phong phú, có tính chất thời
trang, vừa có tính quốc tế, vừa có tính dân tộc. Kinh tế phát triển, đời sống
nhân dân được nâng cao, yêu cầu hàng may lại càng phong phú và chất lượng
cao hơn. Bên cạnh những mặ hàng truyền thống nhân dân mặc hàng ngày,
thông qua gia công cho các nước, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện
làm quen với công nghệ may phức t
còn thấp và có sự chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp nên có nhiều biến
động lớn trong đội ngũ lao động ngành. Thực tế cho thấy rằng các công ty sản
xuất phát triển, đủ việc làm, thu nhập cao, biến động lao động nhỏ, công nhân
gắn bó với công ty, thậm chí nhiề
u người xin vào làm việc. Ngược lai ở những
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, sản xuất đình trệ, thiếu việc làm, thu nhập
thấp sẽ nảy sinh tinh trạng “ đất không lành, chim không đậu”, công nhân lành
nghề , công nhân mới đào tạo sau thơi gian quen việc cung sẽ dần chuyển sang
công ty khác.
Bên cạnh đó ngành đang có tình trạng thiếu nguồn lao động quản lý và
kĩ thuật, nghiệp vụ. Hầu hết, các cán bộ quản lý ch
ủ chốt trong các doanh
nghiệp Dệt may đều có trinh đọ đại học hoặc cao đẳng, chuyên môn khá
nhưng trình độ quản lý theo phong cánh công nghiệp còn yếu, tiếp cận với
phương thức quản lý hiện đại còn ít. Cán bộ kĩ thuật chủ yếu trưởng thành từ
công nhân bậc cao nên chỉ giỏi về chuyên môn của nhưng sản phẩm cụ thể con
như việc sáng tác mẫu, tạo dang sản phảm còn rất kém. Các doanh nghiệp r
ất
cần những kỹ sư có bằng cấp, công nhân kĩ thuật và các nhà quản lý- những
người có khả năng nắm bắt công nghệ hiện đại. Có một thực tế là nhiều doanh
nghiệp bỏ ra một số tiền lớn để mua thiết bị và công nghệ hiện đại, giá cao để
chuẩn bị cho việc sản xuất các mặt hàng cao cấp, song người vận hành các
thiết bị này lại có trình
độ chuyên môn thấp.
Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Trần Hoài Việt Công nghiệp 43B
Nhìn chung tăng trưởng nhanh trong khi những cán bộ kĩ thuật và quản
lý được đào tạo tại các trường có xu hướng giảm dần nên dẫn đến tình trạng
thiếu đội ngũ công nhân lành nghề và cán bộ khoa học cho ngành Dệt may.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
hàng cao cấp cũng tăng lên. Theo quy luật tiêu dùng thì khi thu nhập tăng lên ,
tỷ lệ chi cho ăn uống sẽ giảm tương đối , còn tỷ lệ tiêu dùng hàng hoá sẽ tăng
lên rất nhanh. Như vậy cung với sự gia tăng dân số và tăng thu nhập thij
trường trong nước sẽ là tiền đề cho công nghiệp sản xuất hang tiêu dùng nói
chung và hàng dệt may nói riêng.
Đối với thị trường nước ngoài , để tiếp cận thành công sự dịch chuyển
kinh t
ế từ các nước phát triển hơn và nhanh chóng thay thế họ thâm nhập vào
các thị trường quốc tế mới, ngành dệt may cang cần được trang bị theo hương
hiện đại. Có như vậy mới đáp ứng được nhưng nhu câu ngày càng cao , ngày
càng đa dạng cua thị trường trong và ngoài nước.
Tất cả các yếu tố đó, đòi hỏi bức xúc nghành dệt may phải có kế hoạch
hiện đại hoá từng bước, k
ết hợp giữa thay thế và hiện đại hoá, đồng thời nhanh
chóng tiếp thu công nghệ mới để giảm bớt khoảng cách tụt hậu.
2.1.1.3 Phát triển công nghiệp dệt may theo hướng kết hợp hướng về xuất
khẩu với thay thể nhập khẩu.
Hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả,
đó là kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệ
p mới ( NIC) và ở nước ta cũng
xác nhận điều đó. Đó là một hướng chiến lược cơ bản của quá trình công
nghiệp hoá và hiện đại hoá trong những điều kiện của thế giới ngày nay.
Ngành dệt may là một trong những ngành làm được điều đó . Thực tế những
năm qua cho they, chiến lược hướng về xuất khẩu đã thu được những kết quả
đáng khích lệ. Kinh nghạch xuất khẩu trong những năm qua đều tăng. Nhờ
nguồn ngoại tệ thu được, ngành có điều kiện tái đầu tư để hiện đại hoá đẩy
mạnh sản xuất.
Song song với xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất các
mặt hàng thay thế nhập khẩu. Thị trường trong nước với dân số đông và sức
mua ngày càng l