Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu và Phát triển Sơn Tây" - Nguyễn Trung Hiếu, NH K36 - Pdf 84

Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN SƠN TÂY
Giáo viên hướng dẫn : Pgs Ts Trần Đăng Khâm
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trung Hiếu

SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
1
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
MỤC LỤC
Lời cam đoan:..................................................................................................1
Danh mục các bảng, biểu đồ:..........................................................................2
Danh mục các từ viết tắt:.................................................................................3
Lời nói đầu:.....................................................................................................4
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DNV&N..................................................................................................7
1.1. Hoạt động tín dụng đối với DNV&N của NHTM.................................7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của DN vừa và nhỏ.......................7
1.1.1.1 Khái niệm DNV&N...........................................................................7
1.1.1.2. Vai trò, đặc điểm của DNV&N...........................................................7
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM.............................................................12
1.2. Chất lượng tín dụng đối với DNV&N của NHTM...............................18
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng..............................................................18
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM.........................20
1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu............................................................................20
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn............................................................24
1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng..........................................................24

3.1. Định hướng của BIDV CN Sơn Tây trong việc nâng cao chất lượng
tín dụng.............................................................................................55
3.1.1. Định hướng chung.................................................................................55
3.1.2. Định hướng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N......56
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại
BIDV CN Sơn Tây................................................................................57
3.2.1 Mở rộng và duy trì, thiết lập mối quan hệ lâu dài đối với các khách hàng
truyền thống...........................................................................................57
3.2.2 Giảm thiểu phát sinh nợ xấu..................................................................59
3.2.3 Phát huy nhân tố con người vì sự phát triển của NH............................62
3.4 Một số kiến nghị.....................................................................................63
3.4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước..................................................................64
3.4.2 Kiến nghị với NH Nhà nước.................................................................65
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
3
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
3.4.3 Kiến nghị với Chính quyền địa phương................................................65
3.4.4 Kiến nghị với BIDV .............................................................................66
3.4.5 Đề xuất với BIDV CN Sơn Tây............................................................67
KẾT LUẬN.................................................................................................... 70
Danh mục tài liệu tham khảo 71
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
4
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Tôi đã xây dựng
chuyên đề này trên cơ sở những số liệu trung thực có nguồn gốc rõ ràng, được
lấy từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây./.
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính

đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội. Nhưng vấn đề là
phải đảm bảo chất lượng tín dụng như thế nào để NHTM hoạt động an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững.
Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho NHTM làm tốt chức
năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế và sẽ là cầu nối giữa phần tiết kiệm
và đầu tư. Từ đó góp phần điều hoà nguồn vốn trong xã hội, phân bố các nguồn
vốn cho đầu tư một cách hợp lý, giảm lãng phí ở những nơi thừa vốn trong xã
hội, giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, tạo quan hệ tốt giữa cung và cầu
vốn, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền tệ.
Như chúng ta đã biết, tín dụng cũng là một trong những công cụ để Đảng
và Nhà nước thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế. Do vậy,
chất lượng tín dụng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, giúp đầu tư
đúng hướng để khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên lao động, đảm bảo
cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các
khu vực trong cả nước. Ngoài ra, tín dụng có chất lượng còn góp phần kiềm
chế lạm phát, ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tín dụng có chất lượng sẽ góp phần tăng chất lượng sản xuất kinh doanh
và tạo một thị trường tài chính lành mạnh. Chất lượng tín dụng được đảm bảo
cũng có nghĩa là NH đang trên đà phát triển tốt, nhờ vậy mà có điều kiện đáp
ứng yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Trong điều kiện nền kinh tế mở kéo theo sự cạnh tranh gay gắt của các tổ
chức tín dụng trên thị trường, nếu NHTM nâng cao được chất lượng tín dụng
thì cũng chính là đã tạo được lòng tin ở khách hàng của mình. Trong nền kinh
tế thị trường, khách hàng được coi là “thượng đế” nên họ có quyền lựa chọn
bất kỳ một NH nào đó làm đối tác. Hay nói cách khác, khách hàng tìm đến NH
nào mà ở đó thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ họ thực hiện việc kinh doanh đạt
hiệu quả thông qua quan hệ tín dụng và các dịch vụ khác. Hơn nữa, về phía NH
sẽ có cơ hội tăng số lượng khách hàng, thu hút được thêm nhiều nguồn vốn, tạo
điều kiện mở rộng tín dụng.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính

SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
9
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
vững, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước theo định
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại BIDV CN Sơn Tây, thời gian trong phạm vi 03 năm, từ năm 2006 đến
30/6/2008.
Do khả năng và trình độ của bản thân có hạn, nên chắc rằng đề tài này sẽ
không thể tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định, vì thế tôi rất mong
muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và đặc biệt là các
thầy, cô trong bộ môn hướng dẫn để đề tài được hoàn chỉnh, mang tính thực
tiễn và khả thi cao hơn./.
CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
10
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
1.1.1.2 Khái niệm Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
DNV&N là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay
doanh thu. DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là
DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế
giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao
động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở
nước mình. Ở , không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng

thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Trong
những năm gần đây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của
những tranh luận về phát triển. Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn
đề tạo việc làm.
Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộng
đồng các nhà tài trợ. Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói các
DNV&N cũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vực
nông thôn. Với việc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưu
tiên của cộng đồng các nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trong
chính sách thúc đẩy sự phát triển DNVVN của mình.
Các DN trong quá trình hoạt động và sản xuất của mình đã cung cấp
hàng hoá, tạo ra sự lưu thông hàng hoá trong thị trường. Tuy nhiên để đảm bảo
hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả thì các DN phải có một
chiến lược phát triển cụ thể trong quá trình kinh doanh của mình. Ở các
DNV&N chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, sửa chữa thủ công
nghiệp (chiếm 40,6% DN của cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến
(20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh bất động sản,
tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%).
Có nhiều loại hình DN khác nhau, nếu phân loại DN theo hình thức sở
hữu thì có DN tư nhân, DN nhà nước, DN liên doanh, DN cổ phần… Nếu phân
loại theo quy mô nguồn vốn thì có DN lớn và DNV&N. Trong đề tài này, tôi
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
muốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ
thống các DN và đây cũng là những DN đóng góp một vai trò không nhỏ trong
nền kinh tế. Nếu chúng ta có một định hướng đúng đắn đối với các DNV&N
thì sẽ có một sự thúc đẩy phát triển kinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững
chắc để đưa đất nước phát triển.
Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các

được các lao động với tay nghề cao. Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các
lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên. Mặt khác đa số
người lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên
môn giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các DN lớn trên
thị trường, điều này khiến các DNV&N gặp khó khăn trong quá trình tuyển
dụng lao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển dụng lao
động.
* Đa số các DNV&N là các DN ngoài quốc doanh
Các DNV&N chủ yếu là các DN tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc
điểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ. Điều này tạo khó khăn cho việc
quản lý các DNV&N. Nhất là đối với các DN tư nhân hoạt động linh hoạt
nhưng kém hiệu quả. Các DN tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình
hoạt động chưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho DN của mình. Và
trong khi vận hành sản xuất kinh doanh, khi că một biến cố xảy ra thì không có
kinh nghiệm chống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc
nặng hơn là phá sản. Việc quản lý các DN tư nhân cũng rất khó khăn. Nhiều
DN còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế
độ kế toán thống kê. Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát
sao và thực sự có hiệu quả. Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động của
loại hình DN này.
* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Không kể các DN nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt
động ổn định, đa số các DNV&N đều là các DN tư nhân được thành lập trong
hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách
ra. Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh
tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng
ngũ những DN lớn. Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này

hình hoạt động, phương thức quản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ
đứng vững được trong thị trường.
1.1.2. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân
hàng thương mại
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên tín
dụng khi gắn với chủ thể là NH thì tín dụng NH nghĩa là NH cho vay.
Tín dụng được xem xét là một chức năng cơ bản của NH, vì vậy trên cở
sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng có thể dược hiểu như
sau :
Tín dụng là một quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay
(Ngân hàng) và bên đi vay (Doanh nghiệp Vừa và nhỏ), trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất. Ở các nước trên thế giới thì hoạt
động tín dụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở thì chiếm tới 60-70%. Song
song với hoạt động huy động vốn, tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duy trì
hoạt động của NH. Hoạt động tín dụng NH được dựa trên quyết định của thống
đốc NH nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN. Theo đó quan
hệ tín dụng giữa Doanh nghiệp và NH có thể hiểu như sau:
- Doanh nghiệp phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định.
Các khoản tín dụng của NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
DN cùng khách hàng và các khoản vay mượn khác. Bản thân NH cũng có
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản mượn nói trên. NH thu lợi
nhuận là nhờ thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng

Hiện nay các NH thường áp dụng các phương thức cho vay sau
* Cho vay thấu chi
Cho vay thấu chi là nghiệp vu cho vay qua đó NH cho phép người vay
được chi trội tren số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức
thấu chi.
Để được thấu chi, DN làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian
thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho NH ). Trong quá trình hoạt động, DN
có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả (song
trong hạn mức thấu chi). Khi DN có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, NH sẽ thu
nợ gốc và lãi. Số lãi mà DN phải trả là :
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp
về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào
dự đoán ngân quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo
điều kiện thuận lợi cho DN trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày
trong tháng, vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp,
mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy
cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
* Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
NH đối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi. Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc

Mỗi lần vay, DN chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi
kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho DN.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này, NH không ấn định trước ngày trả nợ. Khi DN có thu
nhập, NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN. Tuy nhiên,
do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm
soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp
báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
* Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn. NH có thể cho vay để mua hàng
và sẽ thu nợ khi DN bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn
xin vay luân chuyển. NH và DN thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn
mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín
dụng có thể được thoả thuận trong 1năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời
hạn hoàn trả mà là thời hạn NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng
như tình hình tài chính của DN.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả NH và DN đều phải
nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong
thời gian tới.
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số
tiền cần vay. NH cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức này, giá trị
hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối
tượng được NH cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH.
Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng

* Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó NH cũng
phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua
các tổ chức trung gian.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
21
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức
trung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra
bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho
một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc
không đủ tài sản thế chấp.
NH cũng có thể cho vay thông quá người bán lẻ các sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món
vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa NH. Trong trường hợp như vậy, cho vay
qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay.
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của NH. Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác
cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng
hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.2. Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại

Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng
động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với
những nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
23
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả
năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
mạnh một NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được
khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng,
chi phí tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với
nhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sự
quản lý.
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử
dụng nhằm đạt được chất lượng tốt.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các
chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu

có nhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí
SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính
25
=
Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100% ≤ 5%
(1.1) (1.1)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status