Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
------------00------------ LÊ THỊ NHUNG
ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG CHƢƠNG TRÌNH
THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH
(QUA TƢ LIỆU CỦA ĐÀI PT - TH THÁI NGUYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Nhung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 6
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 9
6. Đóng góp mới ......................................................................................... 9
7. Bố cục luận văn .................................................................................... 10
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................... 11
2.3.2. Các văn bản đƣợc liên kết chặt chẽ ................................................. 64
Chƣơng 3: NGÔN NGỮ THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH XÉT TRÊN CÁC VĂN
BẢN PHÁT THANH ................................................................................... 74
3.1. Việc thể hiện văn bản ( phát thanh) bị ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố khác
nhau.......................................................................................................... 74
3.2. Về đặc điểm phát âm ....................................................................... 77
3.2.1. Các văn bản đƣợc phát âm chuẩn so với giọng Hà nội .................... 77
3.3.2. Ngữ điệu thể hiện các chức năng ngữ pháp ................................... 83
3.3.3. Thể hiện chức năng biểu cảm.......................................................... 85
3.3.4. Thể hiện chức năng Lô gic ............................................................ 90
3.3.5. Thể hiện chức năng dụng học ........................................................ 91
3. 4 . Ngữ điệu xử lý cho các khúc đoạn đặc biệt của văn bản .................. 93
3. 5. Chiến lƣợc sử dụng các phƣơng tiện hỗ trợ ....................................... 95
3.6. Tiểu kết ............................................................................................. 96
KẾT LUẬN ................................................................................................. 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ học hiện nay quan tâm nhiều đến ngôn ngữ ứng dụng.
Ngôn ngữ ứng dụng trong các phƣơng tiện thông tin đại chúng trong đó có
ngôn ngữ truyền hình có một vị trí quan trọng, đặc biệt là đối với một đài
PTTH địa phƣơng nhƣ đài phát thanh truyền hình Thái Nguyên (PTTH TN).
Sử dụng ngôn ngữ trên báo chí là vấn đề đƣợc xã hội rất quan tâm hiện
nay trƣớc thực tế sử dụng ngôn ngữ thiếu chọn lọc, thiếu sáng tạo, thậm chí
chƣa tôn trọng ngôn ngữ tiếng Việt trên báo chí. Vấn đề này đã thu hút sự
quan tâm của giới chuyên môn, của các nhà ngôn ngữ học và đông đảo các
tầng lớp bạn đọc, khán giả.
1.2. Đài PTTH TN đã có 18 năm hoạt động và phát triển lĩnh vực
dạng thức ngôn ngữ mà báo in, báo nói (phát thanh), mạng Internet và các
phƣơng thức tuyên truyền khác sử dụng. Cùng với những hình ảnh thực tiễn
sống động, cách sử dụng ngôn ngữ của các chƣơng trình truyền hình có những
đặc điểm khác biệt, ngôn ngữ truyền hình cần đƣợc xem xét từ góc độ ngôn
ngữ viết và cả ngôn ngữ nói. Ngôn ngữ truyền hình mang đặc điểm của ngôn
ngữ báo chí (GS -TS Nguyễn Đức Dân) mang những đặc trƣng cơ bản của
ngôn ngữ nói, dạng thức nói (Luận văn TS của TS Nguyễn Thế Kỷ), có tác
động bởi yếu tố tâm lý ngôn ngữ học (GS.TS Nguyễn Đức Tồn). Qua các tài
liệu tham khảo chúng tôi thấy chƣa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm
ngôn ngữ của chƣơng trình thời sự truyền hình nói chung (đặc biệt là chƣơng
trình thời sự truyền hình của một Đài PTTH của một địa phƣơng) nên mạnh
dạn tìm hiểu đề tài này. Theo GS.TS Nguyễn Đức Tồn “Việc nghiên cứu đặc
điểm ngôn ngữ sử dụng trong các phƣơng tiện giao tiếp đại chúng nói chung,
phát thanh và truyền hình nói riêng, thuộc loại vấn đề rât có tính thời sự. Giá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trị của những vấn đề đó đã vƣợt ra ngoài pham vi ngôn ngữ học thuần túy”.
(TCNN 12- 1999)
Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” ( NXB ĐHQG HN, 2001) ở phần Mở
đầu tác giả Vũ Quang Hào viết“Nói đến ngôn ngữ báo chí”, nếu hiểu “báo
chí” không theo nghĩa truyền thống, nghĩa là báo chí đƣợc hiểu gồm báo in,
báo phát thanh và báo hình thì có thể nói rằng trong tập bài giảng này (Ngôn
ngữ báo chí) ngôn ngữ báo hình hoàn toàn bị bỏ ngỏ, do chỗ chúng tôi không
xác định đƣợc phạm vi khảo sát”. Tìm hiểu “Bài giảng ngôn ngữ báo chí” của
Khoa báo chí trƣờng Cao đẳng PTTH trong chƣơng IV Ngôn ngữ báo hình,
giáo án này chỉ đề cập đến ngôn ngữ hình ảnh (câu hình) của thể loại này chứ
không đề cập đến ngôn ngữ đƣợc phát thanh, một phần không thể thiếu của
bất kỳ chƣơng tình truyền hình nào.
Nhƣ vậy có thể thấy việc tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình là việc làm
khó khăn. Nếu nhƣ Ngôn ngữ phát thanh đƣợc nghiên cứu khá sớm (PGSTS
câu sử dụng trong chƣơng trình làm cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá cách
sử dụng và hiệu quả của đối tƣợng nghiên cứu.
5.2. Thủ pháp đối chiếu
Thủ pháp này đƣợc sử dụng để so sánh giữa phƣơng tiện ngôn ngữ đã
đƣợc sử dụng và những đặc trƣng cần có của thể loại…
5.3. Thủ pháp phân tích
Phân tích các trƣờng hợp sử dụng ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh cụ thể
của chƣơng trình để tìm ra mục đích, nội dụng chƣơng trình.
6. Đóng góp mới
6.1. Về mặt lý luận
Đây sẽ là luận văn đầu tiên nghiên cứu tƣơng đối đấy đủ, và sâu sắc đặc
điểm sử dụng ngôn ngữ chƣơng trình thời sự truyền hình của một đài PTTH
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
địa phƣơng. Kết quả của luận văn sẽ góp thêm tƣ liệu và cách nhìn nhận về
việc sử dụng ngôn ngữ trong chƣơng trình thời sự truyền hình của Đài PTTH
Thái Nguyên.
5.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp ích cho việc nâng cao chất
lƣợng sử dụng ngôn ngữ của tờ báo hình, một thể loại báo chí đang đƣợc
đánh giá cao hiện nay, cụ thể là nâng cao chất lƣợng chƣơng trình thời sự đài
PTTH Thái Nguyên.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tham khảo, luận văn gồm có 3
chƣơng.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chƣơng 2: NGÔN NGỮ THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH XÉT TRÊN
CÁC VĂN BẢN VIẾT
Chƣơng 3: NGÔN NGỮ THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH XÉT TRÊN
CÁC VĂN BẢN PHÁT THANH
cho các thông tin chuyên đề, yêu cầu về thông tin cập nhật không đặt ra quá
bức thiết. Các thể loại báo chí đƣợc phân theo tính chất và cách đƣa thông tin.
Những thể loại hay xuất hiện nhất là: bản tin, bình luận, phóng sự, điều tra,
ghi nhanh, ký chân dung, quảng cáo báo chí, ý kiến bạn đọc (khán giả), tâm
sự bạn đọc ...
1.1. 2. Chức năng của ngôn ngữ báo chí
Các chức năng của báo chí trong xã hội đã làm cho ngôn ngữ trên báo
chí mang những đặc điểm đặc thù, phân biệt với hàng loạt các phong cách
chức năng khác xét từ phía ngôn nghĩa. Sau đây là các đặc điểm quan trọng
nhất của ngôn ngữ báo chí.
a. Chức năng thông báo
Do nhiệm vụ hàng đầu của báo chí là phản ánh tin tức các sự kiện trong
cộng đồng, nên công việc cấp thiết đặt lên hàng đầu của những ngƣời làm
công tác báo chí là phải sẵn sàng có một bộ phƣơng tiện truyền tải tin tức sắc
bén và nhanh nhạy. Để thực hiện đƣợc yêu cầu này, ngôn ngữ trƣớc nhất phải
đảm bảo đƣợc tính khách quan trong phản ánh sự kiện. Báo chí nhờ chức
năng này của ngôn ngữ phản ánh đƣợc trung thực thông tin diễn ra trong thực
tế. Qua đó báo chí trở thành thức ăn tinh thần lành mạnh, có ích, giúp ngƣời
tiếp nhận thông tin mở rộng hiểu biết, phát triển tƣ duy theo khuynh hƣớng
toàn diện hóa.
b. Chức năng đinh hƣớng dƣ luận
Chức năng này gắn liền với chức năng thông báo. "Các nhà tỷ phú,
triệu phú không bao giờ dùng Đài phát thanh, báo chí của chúng một cách vô
ích cả. Vì thế tuy đại diện cho công luận xã hội, mỗi tờ báo thực chất là đại
diện cho một nhóm ngƣời hay một tập đoàn ngƣời trong xã hội" (V.I Lê Nin).
Ngôn ngữ báo chí luôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ to lớn là hƣớng dẫn dƣ
luận và tác động đến dƣ luận, làm cho ngƣời đọc hiểu đƣợc bản chất của của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cấp hấp dẫn và thuyết phục sẽ ngày càng cao. Đặc tính này đƣợc thể hiện qua
các phƣơng diện:
Về nội dung, thông tin luôn phải mới, đa dạng và phong phú. Trong đó
có yêu cầu dƣa tin nhanh, xác thực, có tính cập nhật. Đƣa tin không một chiều
mà phải phản ánh đƣợc nhiều hƣớng dƣ luận khác nhau (nếu có).
Về hình thức, ngôn ngữ trong bài báo phải có sức lôi cuốn ngƣời đọc.
Điều này thể hiện trƣớc tiên ở tít bài. Cùng với cách trình bày, hình ảnh minh
họa, cuối cùng là các biện pháp sử dụng ngôn ngữ, trong đó có việc lựa chọn
từ ngữ. Đặc biệt là cách tạo kiểu câu bất ngờ gây ấn tƣợng mạnh về ngữ nghĩa
sẽ có tác dụng rất lớn với sự cảm nhận và tri giác của ngƣời đọc.
c. Thẩm mỹ song hành giáo dục
Khi thực hiện tính thẩm mỹ trong ngôn từ, báo chí cũng đồng thời thực
hiện tính giáo dục. Dù đƣa tin, dù luận chiến báo chí tiến bộ bao giờ cũng
hƣớng con ngƣời ta tới lẽ phải, chân thiện mỹ. Là phƣơng tiện giúp con ngƣời
ta tự thức tỉnh mình, tự điều chỉnh theo các qui phạm xã hội đƣợc biểu hiện ở
tất cả các phƣơng diện nhƣ đạo đức, luân lý, đến luật pháp. Và các chức năng
này ẩn chìm trong lớp ngôn ngữ. Việc đƣa tin, bình luận trung thực đầy đủ
cùng với việc phân tích, bình luận cac sự kiện theo cách nhìn khách quan lành
mạnh, tự nó đã tạo nên tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí.
d. Tính chiến đấu
Báo chí chính là diễn đàn bộc lộ, phản ánh những quan điểm, thái độ
khác nhau, thậm chí đối lập nhau về một sự kiện. Tính chiến đấu của báo chí
đƣợc hình thành từ những lập luận đanh thép, từ các phƣơng pháp sử dụng từ
ngữ nhằm "châm biếm, công kích, tiến tới phủ định đối phƣơng”. Trong đó
việc sử dụng ngôn ngữ để xây dựng các hình ảnh tƣơng phản, các mệnh đề
khẳng định hoặc phủ định của báo chí có vai trò hết sức quan trọng. Tính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
chiến đấu của ngôn ngữ báo chí đƣợc thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhƣ
phủ định hoàn toàn hay châm biếm, đả kích, nhằm hạ uy thế, uy tín của đối
chân thực và sinh động.
Không chỉ là một phƣơng tiện thông tin đại chúng, các chƣơng trình
truyền hình còn đƣợc ví nhƣ một trƣờng học bổ ích cho nhiều đối tƣợng, do
đó đòi hỏi các chƣơng trình truyền hình phải có tính định hƣớng, tính chính
xác, tính chuẩn mực và tính văn hóa.
1.1.4.2. Ngôn ngữ truyền hình
Đi theo sự phát triển nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo
chí cũng tách dần ra theo từng ngành riêng. Lợi thế rất lớn của truyền hình là
hình ảnh sống động, nên ngôn ngữ truyền hình không những phải bám sát các
khuôn hình mà còn cần biết gợi mở cảm xúc cho ngƣời xem. Tiếp nhận thông
tin bằng mắt bao giờ cũng sâu hơn, hiệu quả hơn bằng tai nghe. ở truyền hình,
công chúng vừa xem bằng mắt, vừa nghe bằng tai, thế truyền hình có lợi thế
hơn rất nhiều các loại hình báo chí khác.
Ngôn ngữ trên báo hình, báo báo nói (phát thanh – truyền hình) cơ bản
giống ngôn ngữ trên báo viết, đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu sử dụng ngôn
ngữ chuẩn mực, chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí. Nếu nhƣ thông tin trên
báo in do câu chữ và hình ảnh trong bài viết đƣa lại thì thông tin trên báo hình
là do hình ảnh cùng với lời đọc, lời bình. Ngôn ngữ đƣợc sử dụng ở đây là
ngôn ngữ viết dùng để đọc, vì vậy phải viết sao cho khán thính giả kịp nghe,
kịp hiểu khi nó tác động đến ngƣời nghe bằng âm thanh. Chắc chắn ngôn ngữ
tác động đến khán, thính giả bằng âm thanh sẽ khác với ngôn ngữ viết. Nói
đúng hơn thì ngôn ngữ viết và ngôn ngữ dùng để đọc có sự khác biệt đáng kể
về phƣơng diện từ vựng, ngữ pháp và phong cách. Chính vì vậy ngôn ngữ
trong chƣơng trình không chỉ mang tính thời sự mà còn gây ấn tƣợng và đòi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hỏi giọng đọc cũng nhƣ từ ngữ phải có phong cách thân mật, tự nhiên. "Biên tập
viên kể cho khán giả nghe một câu chuyện chứ không phải đọc cho khán giả
nghe một bài viết sẵn"(Nguyễn Đức Dân). Chính vì thế vấn đề về sự phát âm,
ngữ điệu, ngắt giọng… trên truyền hình cũng cần có sự quan tâm thỏa đáng.
Rõ ràng theo dõi chƣơng trình khán giả tiếp nhận ngôn ngữ ngay trong
thời điểm phát sóng. Nhƣ vậy, một mặt tính tức thời và một mặt của ngôn ngữ
truyền hình là ngôn ngữ hội thoại đặc biệt. Cả hai chế định sự bắt buộc phải
tiết kiệm phƣơng tiện thể hiện. Sử dụng ngôn ngữ hiệu quả sẽ đƣa đến cho
khán giả lƣợng thông tin lớn hơn nhiều so với việc kéo dài thời lƣợng chƣơng
trình – điều này đặc biệt phù hợp trong chƣơng trình thời sự.
e. Tính phổ cập
Cũng nhƣ ngôn ngữ phát thanh, ngôn ngữ truyền hinh là ngôn ngữ dành
cho đám đông. Đám đông ấy là các thành phần cƣ dân, họ có thể khác nhau
về lứa tuổi, trình độ học vấn, trình độ văn hóa, thẩm mỹ .... Chắc chắn khán
giả trong đám đông ấy chỉ nghe (hoặc xem) chƣơng trình một lần thoảng qua,
không thể kéo chậm ngữ lƣu đƣợc nên cũng khó nói lại đầy đủ thông tin vừa
tiếp nhận, đây là yêu cầu đòi hỏi công tác chuẩn bị văn bản truyền hình…
Nằm trong xu thế của báo chí hiện đại, ngôn ngữ Truyền hình luôn
hƣớng tới sự hấp dẫn để cạnh tranh trong cơ chế thị trƣờng bằng cách kết hợp
hài hoà giữa nội dung thông tin mà độc giả, khán thính giả yêu cầu là chủ yếu
với những thông tin định hƣớng cần thiết thông qua phƣơng tiện quan trọng
nhất đó là ngôn ngữ.
Có thể khẳng định, chƣơng trình truyền hình nói chung và thời sự
truyền hình là kết quả của một quá trình thực hiện gồm nhiều công đoạn,
trong đó công đoạn đầu tiên là phản ánh hiện thực, sáng tác các tác phẩm báo
chí bằng ngôn ngữ .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Từ những cứ liệu lý thuyêt trên đây, chúng tôi nghiên cứu đặc điểm sử
dụng ngôn ngữ chƣơng trình thời sự (Truyền hình) đài phát thanh truyền hình
Thái Nguyên.
1.1.5. Chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn trong báo chí
1.1.5. 1. Chuẩn mực ngôn ngữ
Chuẩn hóa tiếng Việt là công việc của mỗi ngƣời, đồng thời là sự
ý là các tiêu chuẩn của cái gọi là chuẩn chỉ tồn tại ở giá trị xã hội của nó chứ
không động chạm đến bản thân hệ thống cấu trúc của nó. Vì thế, những hình
thức ngôn ngữ khác với chuẩn không phải là những hình thức "dƣới chuẩn"
hoặc "không chuẩn". Trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định vẫn có thể
dùng nó. Thực tế, chuẩn ngữ âm hình thành dần dần, không thể đòi hỏi các
địa phƣơng trong cả nƣớc phát âm các từ thống nhất ngay đƣợc. Tuy nhiên,
không thể coi nhẹ vấn đề chính âm. Vai trò của nhà trƣờng và các phƣơng tiện
thông tin đại chúng là vô cùng quan trọng trong vấn đề này.
Về mặt chữ viết, chữ quốc ngữ là cơ sở tốt để thống nhất chính tả giữa
các vùng. Ngôn ngữ trƣớc hết là để nói, nhƣng trong thực thế giao lƣu văn
hoá và xã hội ngày nay, chữ viết có một tác dụng quyết định đối với cuộc
sống. Vì thế, chuẩn chính tả là cơ sở để bảo đảm và củng cố tính thống nhất
của ngôn ngữ.
Trong việc chuẩn hoá từ vựng tiếng Việt, cần lƣu ý ba mảng khác nhau:
các từ thông thƣờng, các tên riêng, và các thuật ngữ khoa học, kĩ thuật.
Ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong những ngữ cảnh nhƣ học thuật, sƣ phạm,
truyền thông yêu cầu tính chuẩn mực rất cao: dùng từ chính xác và “đắt”, ngữ
pháp chính tả không đƣợc sai sót cho đến cả cách dùng dấu câu, diễn đạt gọn,
sáng sủa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chuẩn mực về ngữ pháp rất cần cho sự hiểu biết tiếng Việt và cho việc
sử dụng tiếng Việt. Bất cứ ngôn ngữ trên thế giới cũng tồn tại những qui tắc
đặc trƣng của nó để thực hiện chức năng giao tiếp. Chuẩn về ngữ pháp đƣợc
biểu hiện ở việc cấu tạo các từ, việc kết hợp các từ thành cụm từ và câu, ở
việc cấu tạo các phần của văn bản và các văn bản thuộc các loại khác nhau.
Các chuẩn mực này đƣợc đúc kết thành các qui tắc ngữ pháp và các qui tắc sử
dụng cho cả ngữ pháp học và ngữ dụng học.
Xác định những đặc điểm tất yếu của việc dùng tiếng Việt trong các
lĩnh vực giao tiếp và các tình huống giao tiếp khác nhau của đời sống xã hội
1.1.5. 2. Chuẩn ngôn ngữ trong báo chí
Báo chí có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội, trong sự phát
triển kinh tế văn hóa của cả nƣớc nói chung và các địa phƣơng nói riêng. Cho
nên báo chí phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn.
Báo chí cũng có vai trò quan trọng đối với ngôn ngữ dân tộc. Cách nói,
những thông tin, những khuôn ngữ trên báo chí có ảnh hƣởng nhất định đến
khán giả, bạn đọc. Cái sai của báo chí cũng cũng có thể trở thành cái sai của
của nhiều ngƣời thậm chí là của chung xã hội cho nên, trƣớc hết ngôn ngữ sử
dụng trên báo chí phải là ngôn ngữ chuẩn, hƣớng tới góp phần hoàn thiện và
làm trong sáng ngôn ngữ dân tộc.
Chuẩn ngôn ngữ báo chí cần xét trên hai phƣơng diện: Phải mang tính
chất qui ƣớc xã hội (đƣợc xã hội chấp thuận và sử dụng), phải phù hợp với
qui luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử. Xác đinh
chuẩn ngôn ngữ báo chí cần phải dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ
để nắm đƣợc qui luật biến đổi và phát triển của ngôn ngữ trên các cấp độ ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách, cũng nhƣ cần xét đến những lý do
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hƣởng đến sự phát triển của tiếng Việt.
Nói cách khác chuẩn ngôn ngữ báo chí gồm hai nội dung căn bản: Cái
đúng và sự thích hợp. Theo V. Vi - nô -gra - đốp, "tất cả những cái gì mới,
đang phát triển, đƣợc các qui luật nội tại của quá trình phát triển ngôn ngữ
thừa nhận, phù hợp với cấu trúc cảu nó, dựa vào những xu thế sáng tạo của
nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực trong lĩnh vực ngữ pháp,
ngữ nghĩa, sử dụng từ… đều không bị cho là không đúng, không thể phủ nhận
căn cứ vào thị hiếu và thói quen cá nhân”, nhƣ vậy cái đúng, cái đƣợc cộng
đồng ngôn ngữ hiểu và chấp nhận, là một trong những điều kiện để thừa nhận
tính chuẩn mực của ngôn ngữ. Đối với chuẩn ngôn ngữ, cái đúng là nhân tố
quan trọng bậc nhất đảm bảo cho quá trình giao tiếp. Nhƣ Lép - tôn - xtôi đã
viết: "Trƣớc hết cần phải quan tâm sao cho công cụ truyền đạt các khái niệm,
Văn bản đƣợc định nghĩa phổ biến trong các nhà trƣờng nhƣ sau “Văn
bản là một loại đơn vị đƣợc làm thành khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc
lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài .., nhƣ một truyện kể, một bài thơ, một
đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng …"(phỏng theo tài liệu J.M.Y Simpson 1994).
Luận văn trên cơ sở định nghĩa này để nghiên cứu văn bản trong chƣơng trình
thời sự của đài PTTH Thái Nguyên. (Văn bản của chƣơng trình thời sự nói
riêng và các chƣơng trình truyền hình nói riêng là văn bản dùng để đọc nên nó
cũng nằm trong khái niệm "diễn ngôn”).
Định nghĩa “Văn bản là một loại đơn vị đƣợc làm thành khúc đoạn lời
nói hay lời viết, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài.., nhƣ một truyện
kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng…"(phỏng theo tài liệu
J.M.Y Simpson 1994) chứa đựng những yếu tố quan trọng:
- Văn bản có thể là ở dạng nói miệng (lời âm) hoặc ở dạng viết
(lời chữ)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Văn bản có thể dài, cũng có thể ngắn.
- Cấu trúc văn bản bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa.
- Văn bản có đề tài (hoặc chủ đề)
Định nghĩa này cũng có thể dùng chung cho cả "diễn ngôn" khi chƣa
cần phân biệt hai thuật ngữ này. Trên thực tế có thuật ngữ "Văn bản" và thuật
ngữ liên quan với nó là "diễn ngôn”. Crystal cho rằng "diễn ngôn là chuỗi nối
tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu. Thƣờng cấu
thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu nhƣ một bài thuyết giáo, tranh
luận, truyện vui hoặc truyện kể"(1992); còn Cook, 1989 định nghĩa "diễn
ngôn là những chuỗi ngôn ngữ đƣợc nhận biết là trọn nghĩa, đƣợc hợp nhất
lại và có mục đích”. Đó cũng là căn cứ để hiểu diễn ngôn là tên gọi của sản
phẩm ngôn từ (tĩnh) đƣợc hình thành bởi một quá trình (động) và liên kết các
phát ngôn thành một chỉnh thể và nói ra hay viết ra đều là diễn ngôn. Trên
thực tế có sự phân biệt, cái viết ra đƣợc gọi là văn bản (text) còn cái nói ra