một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường thpt (vận dụng qua chương trình lớp 10- chương trình chuẩn) - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có lẽ chưa bao giờ, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt là
dạy học lịch sử ở trường THPT lại được đặt ra gay gắt và chiếm được sự
quan tâm đặc biệt của xã hội như hiện nay. Như một lụgic tất yếu, chất lượng
dạy học của bộ môn lịch sử không thể nâng cao nếu như cả người dạy và
người học đều không hứng thú với môn học, mọi phương pháp, mọi đổi mới,
mọi sự vận dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học đều bị hạn
chế tác dụng nếu người học vẫn thờ ơ với môn học.
Làm thế nào để học sinh hứng thú với môn học, yêu thích môn học, tìm
thấy ở đó niềm say mê khám phá những tri thức của lịch sử xã hội loài người,
điều đú luụn là những câu hỏi lớn đối với đội ngũ những người làm công tác
nghiên cứu và giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường THPT hiện nay, không chỉ
trong nhận thức lý luận mà còn bằng hoạt động thực tiễn trong dạy học.
Trong tính tổng thể các phương pháp, biện pháp sư phạm nhằm kích
thích niềm say mê, hứng thú học tập bộ môn và theo đó góp phần nâng cao
chất lượng dạy học bộ môn lịch sử, thì vấn đề sử dụng ngôn ngữ dạy học có
một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là một trong những nguồn cung cấp
kiến thức chủ yếu cho học sinh.
Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là vỏ của quá trình nhận thức, là
chiếc cầu nối của quá trình dạy học, nói như TS Kiều Thế Hưng: Người giáo
viên như người lái đũ trờn dòng sông thời gian, mà con đũ chớnh là ngôn
ngữ. Cùng với con đò giàu biểu cảm và sáng tạo ấy, người thầy sẽ đưa các
thế hệ học trò của mình đến bến bờ lịch sử xa xôi, nhưng đầy hấp dẫn và thú
vị để hình thành ở họ những phẩm chất tốt đẹp của con người trong xã hội
mới, những hành trang không thể thiếu trên con đường đi tới tương lai.
Không thể có một bài học lịch sử có chất lượng nếu như việc sử dụng
ngôn ngữ thiếu chất lượng, khô cứng, sáo mòn, thiếu khả năng kích thích
hứng thú và niềm say mê, sáng tạo của học sinh. Chúng ta có thể có nội dung
1
dạy học tốt, có phương pháp dạy học phù hợp, có hệ thống phương tiện dạy

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất coi trọng ngôn ngữ và trong dạy
học, trong cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 2”: Qua những bài giảng cho
lớp tập huấn chính trị Quảng châu 1925-1927, chúng ta có thể học được
PPDH của Người và đặc biệt là học tập được cách sử dụng ngôn ngữ giảng
dạy của của chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bài “Cuộc cách mạng tư sản
Phỏp”, “Cuộc cách mạng tư sản Mỹ”, “Cuộc cách mạng Nga” [12]
Khi nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu
đã tập trung đi sâu vào vấn đề ngôn ngữ, trong số đó phải kể đến cuốn
“Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” do GS. Đặng Xuân Kỳ (chủ
biên) [18], tác giả đã đề cao phong cách diễn đạt của chủ tịch Hồ Chí Minh
đó là: Có sự kết hợp hài hoà cái dân gian và cái bác học, cái cổ diển và cái
hiện đại, giữa phong cách phương Đông và phong cách phương Tây để tạo ra
sức cuốn hút mạnh mẽ với người nghe.
Khi nghiên cứu tác phẩm Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không
nhắc tới tác phẩm “Hồ Chí Minh tác gia tác phẩm nghệ thuật ngôn từ” của
nhà xuất bản giáo dục. Thông qua những bài viết, các tác giả đã phân tích
để thấy sự sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ của chủ tịch Hồ Chí Minh
cả trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, tác giả Nguyễn Kim Thản đã đánh
giá đó là: di sản về ngôn ngữ. Giá trị ngôn ngữ mà chủ tịch Hồ Chí Minh
sáng tạo ra dựa trên cơ sở ngôn ngữ truyền thống dân tộc và mối giao lưu
quốc tế và nhấn mạnh: “Một người không tạo ra được ngôn ngữ. Nhưng có
người thông qua việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là thông qua sự sáng tạo của
mình về sử dụng từ ngữ, về cách diễn đạt, v v có thể đóng góp cho sự
phát triển của ngôn ngữ, thậm chí có thể ảnh hưởng lớn đến chiều hướng
phát triển của ngôn ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một người như
thế” [13, 72]
3
* Loại thứ hai: Là các tài liệu giáo dục học, tâm lý học:
Nhà giáo dục học A.T.Ilina đã nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố
ngôn ngữ, trong cuốn: “Giỏo dục học” Tác giả đã viết: Rất nhiều những kích

Quang Ấn - Nguyễn Văn Diện [26], khi đưa ra việc phân loại các phương
pháp giáo dục, các tác giả đã đánh giá cao về ý nghĩa của những phương
pháp dùng lời trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh
Cuốn giáo trình “Tâm lý học đại cương” của tác giả Nguyễn Xuân
Thức (Chủ biên) [32] đã nêu lên các dạng hoạt động ngôn ngữ, tác giả chỉ rõ
những yêu cầu đối với việc trình bày miệng của giáo viên. Trong đó có nhấn
mạnh yêu cầu phải có tính truyền cảm và khẳng định vai trò của ngôn ngữ
với việc tưởng tượng của học sinh
Cuốn “Dạy học hiện đại, lý luận và biện pháp kỹ thuật” của tác giả
Đặng Thành Hưng [16], đã nêu lên những phương pháp dạy học cụ thể trong
quá trình dạy học, trong đó có nhấn mạnh tới những phương pháp và kỹ năng
của ngôn ngữ như cấu trúc ngữ pháp ra sao, phát ngôn diễn cảm như thế
nào? Tác giả đi sâu vào mô hình và kỹ năng thảo luận, nhất là thảo luận
nhóm- một hình thức dạy học khá phổ biến hiện nay, cách đặt vấn đề của
giáo viên phải khuyến khích học sinh bộc lộ được hiểu biết cá nhân của
mình, vì vậy giáo viên phải biết lựa chọn những ngôn ngữ và cách trình bày
dễ hiểu.
* Loại thứ ba: Các công trình về: Phương pháp dạy học lịch sử và
Ngôn ngữ học
Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào ?” của N.G.Đairi,
tác giả đã chỉ rõ yếu tố “Nhịp độ trình bày của thầy giáo phải đúng mực…
nhịp độ của lời giảng còn ảnh hưởng đến thái độ của học sinh” [7], điều này
có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp trình bày miệng của giáo viên,
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư duy học
sinh.
5
Trong cuốn: Giáo trình “phương pháp dạy học lịch sử” của GS.TS
Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị (đồng Chủ biên) đã nhấn mạnh vai trò quan
trọng của ngôn ngữ giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh trở về với quá khứ lịch sử,
tạo được biểu tượng rõ ràng, cụ thể về một sự vật, biến cố lịch sử… giúp học

nghiệp vụ sư phạm” PGS.TS Nguyễn Thị Côi (chủ biên)- Trịnh Tùng- Lại
Đức Thụ-Trần Đức Minh, tuy không phải là sách hướng dẫn cụ thể về nghiệp
vụ sư phạm, song tạo cơ sở cho giáo viên lịch sử ở trường phổ thông có kỹ
năng và hướng sáng tạo trong dạy học lịch sử. Cuốn sách đã đề cập sâu sắc
đến vai trò và ý nghĩa của diễn đạt núi, nờu yêu cầu cơ bản của kỹ năng diễn
đạt nói, cách diễn đạt trong một số trường hợp trình bày cho học sinh, biện
pháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt nói.
Trong các cuốn sách hướng dẫn trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa do
PGS TS Nguyễn Thị Côi (Chủ biên), cuốn hệ thống các câu hỏi tự luận và
trắc nghiệm do PGS TS Trịnh Đỡnh Tựng (chủ biên) đó giỳp cho giáo viên
và học sinh có những thuận lợi trong phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi
trong giờ hoc lịch sử.
Trung tâm từ điển học điển học và Hội sử học Việt Nam- khoa Lịch sử
trường ĐHSP Hà Nội đã xuất bản cuốn “ Từ điển Tiếng Việt” và “Từ điển
Thuật ngữ lịch sử” [11] giúp tác giả luận văn giải thích các khái niệm, thuật
ngữ chính xác và mang tính hình ảnh
Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tõm” của
Hội giáo dục lịch sử, khoa sử trường ĐHSP Hà Nội là một gợi ý về mặt lý
luận việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, tác giả Trần Đức Minh đã
nêu rõ vai trò của việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh và đặc biệt học tập
phong cách, ngôn ngữ của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phát triển năng lực tư
duy của học sinh trong DHLS.
Cuốn giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Bùi Tất Tươm
(chủ biên) đã đưa ra những cơ sở lý luận về ngôn ngữ, tính biểu cảm của
7
ngôn ngữ, đõy là những kiến thức cơ sở về ngôn ngữ học, đặc biệt cuốn sách
còn khái quát toàn bộ những biện pháp tu từ trong tiếng Việt và những
phong cách chính trong sử dụng ngôn ngữ.
Cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của tác giả Đinh
Trọng Lạc, đã giới thiệu và phân biệt rõ 5 “phương tiện” và 5 “biện pháp tu

quá trình rèn luyện của người sử dụng nú” [14- 60]; Âm sắc và ngữ điệu
trong ngôn ngữ dạy học lịch sử được tác giả đánh giá “Âm sắc và ngữ điệu
trong ngôn ngữ dạy học phải nhằm hỗ trợ trong việc dạy học được truyền
cảm hơn, sinh động hơn và thực hiện những yêu cầu dạy học xác định”. Tuy
nhiên, trong dạy học ngôn ngữ, các động tác sư phạm, tư duy tri thức lịch sử
có quan hệ chặt chẽ với nhau như một thể thống nhất “Tri thức nào thì ngôn
ngữ ấy và động tác ấy”
Ngoài ra còn có nhiều chuyên khảo đề cập tới nghiệp vụ sư phạm và
các bài đăng trờn cỏc Tạp chí Giáo dục, khoá luận tốt nghiệp của đồng
nghiệp, một số cuốn Tài liệu bồi dưỡng chu kỳ cho giáo viên 1997-2000; Bồi
dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT [2], việc thực hiện chương
trình SGK lớp 10, năm 2006 nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học
lịch sử.
Để tiến hành phần thực nghiệm sư phạm chúng tôi cần nhiều các tài
liệu giáo trình “Lịch sử thế giới cận đại”[27], SGK [3], Tư liệu lịch sử 10
[31], Sử dụng kờnh hỡnh lịch sử trung học cơ sở (Phần lịch sử thế giới) của
PGS TS Trịnh Đỡnh Tùng (chủ biên), cuốn “Tỡnh bạn vĩ đại và cảm động”
của L. Vớtgốp và I.A. Xukhụtin là những tư liệu để chúng tôi tham khảo và
giảng dạy trực tiếp các bài dạy thực nghiệm.
Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ và ngôn
ngữ dạy học lịch sử, có thể thấy vấn đề ngôn ngữ không phải là vấn đề còn
mới mẻ trong dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng, tuy nhiên
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt và tập trung vào vấn
đề này, Đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu vào tính biểu cảm của ngôn
9
ngữ trong dạy học lịch sử. Vì thế có thể coi đề tài: Một số biện pháp sư phạm
nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường
trung học phổ thông (Vận dụng qua chương trình lịch sử lớp 10- chương
trình chuẩn) là một đề tài mới mẻ.
Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, chuyên biệt về

cảm của ngôn ngữ DHLS ở trường THPT
5.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định tính đúng đắn khoa
học và khả năng thực hiện các biện pháp sư phạm đề ra.
5.5. Rút ra những khái quát lý luận, những quan điểm khoa học về tính
biểu cảm và các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn
ngữ dạy học lịch sử ở trường THPT.
6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp luận:
Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về khoa học giáo dục và khoa học lịch
sử để thực hiện nghiên cứu đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu:
6.1.1. Từ lí luận giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học lịch sử,
xác định sự cần thiết, vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc sử dụng
ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông hiện nay.
6.1.2. Các phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, hệ thống, khái quát
những tài liệu có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:.
+ Phương pháp quan sát: Quá trình dạy học của một số trường THPT
trên đại bàn thực nghiệm
+ Phương pháp điều tra: Dùng phiếu điều tra với hệ thống câu hỏi đóng
và mở để khảo sát thực trạng việc sử dụng các biện pháp sư phạm nhằm
11
nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở một số trường THPT
trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, tỉnh Hưng Yên và thành phố Hà Nội.
+ Phương pháp thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm trong thực tế những
biện pháp sư phạm đề xuất
+ Phương pháp trao đổi, phỏng vấn để tìm hiểu quan niệm và thực trạng
việc sử dụng ngôn ngữ ở trường THPT

Chương 2. Những biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm
của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
13
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍNH BIỂU
CẢM TRONG NGÔN NG÷ TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. KHÁI NIỆM VỀ TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ
1.1.1. VỀ TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ
Trong cuộc sống con người có nhiều hệ thống phương tiện để giao tiếp,
song ngôn ngữ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất, “Ngụn ngữ là vỏ vật
chất của tư duy”. Một trong những tác dụng quan trọng nhất của ngôn ngữ là
cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, không có thông tin, không có tri thức,
không thể có quá trình nhận thức. Nhà ngôn ngữ học F. de. Saussra nhấn
mạnh: Ngôn ngữ là tổng thể hai mặt không thể tách rời, đó là cái biểu đạt
như ý niệm, khái niệm về sự vật- hiện tượng, là nội dung cần biểu đạt và cái
biểu đạt như thái độ đánh giá, tình cảm, âm thanh- hay đó là hình thức biểu
đạt nội dung.
Ngôn ngữ luôn gắn chặt với hoạt động thực tiễn và nhận thức tạo nên
ba mặt khép kín, do đó, để sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả chúng ta luôn phải
trả lời được các câu hỏi đó là: Biểu đạt cái gì? Cho ai? Dưới hình thức nào?
Nhờ có ngôn ngữ mà nội dung cần thiết được trao đổi có thể được cảm nhận,
được hình dung trực tiếp bằng tư duy với nhiều cung bậc và sắc thái khác
nhau, một trong những sắc thái đem lại hiệu quả cao của ngôn ngữ đó là sắc
thái biểu cảm của ngôn ngữ.
Theo từ điển Tiếng Việt “biểu cảm” là biểu hiện tình cảm, cảm xúc
[35- 63], như vậy: Tính biểu cảm thể hiện cả ở hai dạng của lời nói đó là
dạng nói và dạng viết. Tuy nhiên nếu so sánh sự khác nhau, các nhà ngôn
ngữ đã rút ra có 3 điểm khác nhau đó là:

tượng của giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và
phát triển của học sinh
Trong quá trình dạy học, ngôn ngữ là một trong những nhân tố tất yếu
giúp học sinh nhận thức cái mới, khác với nhận thức của nhà nghiên cứu,
quá trình nhận thức cái mới của học sinh là một quá trình nhận thức đặc biệt.
“Học sinh nhận thức cái mới chủ quan, nghĩa là chỉ mới với họ mà thụi”,
chớnh vì vậy không thể thiếu được vai trò ngôn ngữ dạy học của người thầy.
Theo nhà giáo dục học A. I .Ilina: “Giỏo viờn sắp xếp tài liệu sách giáo khoa
bằng một cách đặc biệt, nếu cần thì bổ sung, đính chính hoặc rút ngắn để
trình bày nó bằng một ngôn ngữ giản dị và dễ hiểu hơn” [18- 12].
Rõ ràng, nếu học sinh không có những xúc cảm, không cảm nhận được
những tư tưởng tình cảm thì không thể hiểu rõ bản chất của sự vật- hiện
tượng, không thể phân tích, đánh giá sự vật- hiện tượng. Theo các nhà phong
cách học: “Chớnh thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện
bổ sung lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội
dung cơ bản và nhất là mục đích và ý nghĩa của lời núi” [22- 114].
Như vậy, ngôn ngữ đặc biệt là ngôn ngữ mang tính biểu cảm là cầu nối
giữa hoạt động dạy học và hoạt động nhận thức, nó định hướng cho hoạt
động nhận thức làm cho hoạt động nhận thức có tính kế thừa. Song, không
phải vì thế mà hoạt động nhận thức mất đi tính sáng tạo, các nhà tõm lớ học
Xô Viết cũng đã phân tích: các hoạt động lĩnh hội tri thức đòi hỏi có một
bước tiến tương ứng của tư duy, tạo ra điều kiện bên trong mới cho việc lĩnh
hội tri thức tiếp theo.
Ngôn ngữ có chức năng xã hội đặc biệt, vì vậy hoạt động ngôn ngữ
mang tính biểu cảm luôn xảy ra trong những bối cảnh cụ thể, do tính chất
đặc biệt của nghề dạy học, tính biểu cảm là yếu tố quan trọng để nâng cao
hiệu quả của hoạt động nhận thức. Khác với nhận thức của nhà nghiên cứu,
nhận thức cái mới của học sinh không phải là trực tiếp, mà dưới sự chỉ đạo
16
của giáo viên, thông qua cách diễn đạt của giáo viên, đõy là con đường nhận

1.1.3. VỀ TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ngôn ngữ trong dạy học nói chung và sâu hơn là tính biểu cảm trong
ngôn ngữ dạy học lịch sử nói riêng. Cỏi riờng của tính biểu cảm trong ngôn
ngữ dạy học lịch sử xuất phát từ đặc trưng của bộ môn lịch sử.
Một là: Lịch sử là môn học nghiên cứu những sự kiện đã xảy ra trong
quá khứ- những sự kiện không còn tồn tại nguyên vẹn trong thực tiễn, ngoài
những dấu vết, những “mảnh vỡ” chứng minh một quá khứ có thật đã tồn tại.
Do đó nhận thức lịch sử không phải nhận thức bằng con đường trực tiếp như
những môn học khác, mà bằng con đường gián tiếp. Trong nhận thức lịch sử
phải dựa vào nhiều yếu tố trong đó ngôn ngữ được coi là chất liệu cơ bản,
chính ngôn ngữ với những sắc thái biểu cảm phong phú, đa dạng sẽ tái tạo lại
bức tranh hiện thực như nú đó từng tồn tại. lịch sử sẽ không còn là những sự
kiện khô cứng, lạnh lùng cũ kỹ đầy rêu phong và bụi bặm, lịch sử không chỉ
là hững đống gạch vỡ mà sẽ phải là những cung điện nguy nga. TS Kiều Thế
Hưng đã nhấn mạnh: “Ngụn ngữ trong dạy học lịch sử phải chính xác để
trình bày sự kiện đúng như nó tồn tại, nhưng điều quan trọng là nó phải hàm
chứa được trong đó hơi thở của thời đại và sức sống của hiện thực” [15- 57].
Không giống các bộ môn khoa học tự nhiên, học sinh không thể quan sát
trực tiếp các hiện tượng trong phòng thí nghiệm. Cũng không giống với môn
văn học, học sinh có thể tìm thấy các biểu tượng gần gũi với cuộc sống, hoặc
được gặp gỡ, đối thoại với các tác giả để nghe họ kể về những cảm xúc, tình
cảm thể hiện trong tác phẩm.
Lịch sử không như vậy, cho dù có thể tìm thấy trong các lễ hội những
nét văn hoá đặc sắc của dân tộc nhưng đó cũng chỉ là những thiết kế dựa trên
những di vật, những truyền thuyết, những câu chuyện về một biến cố hoặc
hiện tượng lịch sử. Học sinh có thể gặp gỡ những nhân chứng, nhưng chỉ là
18
nghe kể về trận đánh, về chiến công, về tư tưởng, tình cảm của một số nhân
vật tham gia trong các sự việc- hiện tượng đó chứ các em không thể chứng
kiến các sự kiện- hiện tượng lịch sử đã xảy ra.

quá khứ và hiện thực quá khứ.
Những biến cố và hiện tượng trên chỉ là hiện tượng bên ngoài mà giác
quan của con người cảm nhận được, còn bản chất của sự kiện- hiện tượng
lịch sử thì chưa thể hiện được, chúng ta chưa biết tại sao các Pharaon phải
xây dựng các kim tự tháp? Những con người thời đó làm thế nào mà xẻ được
những phiến đá vài ngàn tấn và kĩ thuật xây dựng đạt ở mức như thế nào?
Các em học sinh không thể hiểu được vì sao ở Trung Quốc thời phong kiến
lại diễn ra những cuộc chiến tranh liên miên? v…v…
Tuy nhiên, học tập lịch sử vẫn tuân theo quá trình nhận thức chung của
quá trình nhận thức là từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”. Trực
quan sinh động trong học tập lịch sử được ghi nhận bởi các giác quan như:
thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác được tạo nên hình ảnh thông
qua lời giảng của giáo viên về sự kiện- hiện tượng lịch sử. Xác định được
điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn hình thức biểu đạt hiệu
quả trong dạy học lịch sử, bởi vì ngôn ngữ có thể làm thay đổi ngưỡng cảm
giác. Nhờ ngôn ngữ mà quá trình diễn ra tri giác được dễ dàng, nhanh chóng
sự kiện được tái hiện lại một cách khách quan, đầy đủ, rõ ràng hơn.
Ngôn ngữ là phương tiện để ghi nhớ, là hình thức để lưu giữ những kết
quả cần ghi nhớ. Nhờ đó học sinh hình thành được các biểu tượng lịch sử.
Ngôn ngữ biểu cảm có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, tình cảm của con
người được ghi lại, giữ gìn và nhớ sâu sắc, đầy đủ hơn. Do đặc thù của dạy
học lịch sử ở trường THPT, ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm kích thích tư
duy nhận thức có vấn đề, hình thành và biểu đạt các hình ảnh mới thành các
khái niệm lịch sử. Sự nhận thức sâu sắc quá trình lịch sử của học sinh THPT
còn làm phong phú nội dung của biểu tượng và khái niệm lịch sử, học sinh
biết vận dụng những khái niệm đã học vào hoạt động thực tiễn.
20
Thứ 3: Cũng như các kiến thức khoa học khác, kiến thức cuả bộ môn
lịch sử là yếu tố quan trọng để giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục thế giới
quan, nhân sinh quân cho học sinh. Giúp học sinh vận dụng những hiểu biết

dạy học, để nâng cao tính biểu cảm, đòi hỏi giáo viên phải có những biện
pháp sư phạm phù hợp. Một trong những biện pháp đó là sử dụng các
phương tiện và pháp tu từ, trong DHLS việc sử dụng các phương tiện và
biện pháp tu từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, những phương tiện và biện
pháp tu từ giúp cho việc tái tạo lại lịch sử quá khứ, hình thành biểu tượng
lịch sử cho học sinh có nhiều thuận lợi hơn.
Trong cuốn “Rốn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm”, PGS. TS Nguyễn
Thị Cụi đó nêu rõ: “Muốn diễn đạt tốt cần có vốn từ phong phú. Do đó giáo
viên cần lập sổ tu từ. Không phải tự nhiên mà giáo viên có vốn từ phong phú
để diễn đạt, có được điều này là do quá trình tích luỹ, rèn luyện.” và tác giả
cũng đưa ra các biện pháp sử dụng như “ Sổ tu từ có thể phân ra nhiều phần:
lịch sử Việt Nam cổ đại, cận đại, hiện đại…” [5- 39] Theo các nhà ngôn ngữ
học: “phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý
nghĩa sự vật- lụgic) ra, chỳng cũn có ý nghĩa bổ sung” còn “Biện pháp tu từ
là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ
không kể là trung hoà hay tu từ trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả
tu từ” [21- 5]
Ở trường THPT, môn lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư
tưởng, tình cảm, óc thẩm mỹ cho học sinh, xin đơn cử một ví dụ: Khi giảng
cho học sinh về những tấm gương anh dũng tuyệt vời của các chiến sỹ đấu
tranh cho độc lập tự do, những tấm gương sáng tạo trong lao động, những
thành tựu văn minh của nhân loại, người giáo viên truyền vào đó những xúc
cảm lịch sử và sử dụng ngôn ngữ biểu cảm cùng với phong cách biểu đạt gợi
cảm gây sự xúc động và sự đồng cảm cho học sinh làn cho các em có ấn
tượng sâu sắc về sự kiện, từ đó hình thành biểu tượng lịch sử, các em hiểu và
nhớ lâu sự kiện đó. Khác với văn học, hình tượng về các nhân vật lịch sử
22
được miêu tả với một vẻ đẹp chân thực, không hư cấu, điều đó nó không chỉ
giáo dục trí tuệ, tư tưởng tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ mà nú cũn giỳp học
sinh xác định thái độ đối với cuộc sống hiện tại. Đúng như nhà sử học N. A.

sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng bộ môn, từ đặc trưng của bộ môn lịch sử,
đòi hỏi phải có sự thống nhất cao giữa mục tiêu và nội dung dạy học, điều
này không phải là mới mẻ đối với giáo viên, song không phải ai làm cũng có
hiệu quả. Nhiều giáo viên nắm vững kiện thức cơ bản, có phương pháp tích
cực, nhưng lời nói thiếu sự truyền cảm, thiếu sự thuyết phục, sự biểu đạt về
tư tưởng, tình cảm không hiệu quả, học sinh nhận thức được nội dung kiến
thức, nhưng hiệu quả và tác dụng của giáo dục không cao.
Khi dạy bài 37 trong chương trình lịch sử lớp 10 (ban cơ bản) “Mỏc-
Ănghen: sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học”, có một chi tiết rất quan
trọng: đó là Mác mất, Ănghen thay Mỏc lónh đạo phong trào công nhân quốc
tế. Nội dung tri thức không có gì phức tạp, khối lượng kiến thức và thông tin
không nhiều, nhưng làm thế nào để thể hiện nỗi đau quá lớn, tổn thất quá lớn
của giai cấp vô sản toàn thế giới đến sự kiện này thì là một việc không đơn
giản. Ở đõy hiệu quả bài học không chỉ phụ thuộc vào nội dung kiến thức,
mà phụ thuộc vào kết cấu đơn vị ngôn ngữ phản ánh những thông tin, hình
ảnh phản ánh thông tin và tính biểu cảm trong ngôn ngữ của thầy trên bục
giảng. Sau đõy là cách thể hiện thông tin này qua bài giảng: Ngày 14/ 1/
1883. Bạn của Ăngghen không còn nữa. Mác nhà tư tưởng thiên tài, đã từ
trần trên chiếc ghế dựa vào bàn làm việc. Những bức điện tín và thư báo tin
buồn đã được gửi đi. Báo chí đã đăng tin. Nhưng con tim và khối óc vẫn
chưa chịu tin và cũng không muốn công nhận điều ấy. Còn đối với phong
trào cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế thì đó là một tổn thất to lớn
không gì bù đắp nổi. Trong một bức thư gửi Ănghen khi báo tin buồn này,
Gioúc giơ đã viết: “Nhõn loại đã thấp xuống hẳn một cái đầu, mà lại là cái
đầu đáng kể nhất trong tất cả cái đầu hiện có ở vào thời đại chúng ta.
Phong trào của giai cấp vô sản vẫn tiến theo đường đi của mình nhưng đã
24
không còn điểm trung tâm nữa, nơi mà lẽ dĩ nhiên, những người Anh, người
Nga, người Pháp, người Đức…đều hướng tới vào những giờ phút quyết định
và lần nào họ cũng nhận được những lời khuyên sáng tỏ không gì có thể bác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status