Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam - Pdf 84



1
CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ TRONG TỔ CHỨC1.1. KHÁI NIỆM VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Kiểm soát nội bộ theo định nghĩa của báo cáo COSO là một quy trình
chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác
của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện
các mục tiêu theo phạm trù sau đây:
- Tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động.
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành.
Phạm trù thứ nhất đề cập đến việc thiết lập và thực hiện các mục tiêu
hoạt động cơ bản của hầu hết các doanh nghiệp là lợi nhuận; bảo vệ và sử
dụng hiệu quả các nguồn lực. Phạm trù thứ hai liên quan đến việc xây dựng
các phương pháp hạch toán kế toán để thiết lập các báo cáo tài chính phù hợp
với chuẩn mực và có độ tin cậy cao. Gồm các báo cáo quản trị nội bộ phục vụ
cho việc ra quyết định của Ban giám đốc, và các số liệu công bố trước công
luận phục vụ cho bên thứ ba: nhà cung cấp, cơ quan thuế, ngân hàng…Phạm
trù thứ ba đề cập đến việc tuân thủ các quy định, luật lệ được áp dụng cho
doanh nghiệp.
Kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua các chính sách, tiêu chuẩn
và thủ tục. Việc thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ thuộc về
trách nhiệm của Hội đồng quản trị và người quản lý. Quá trình thực hiện kiểm
soát nội bộ tại đơn vị chủ yếu là quá trình thiết lập, thực hiện, kiểm tra và
đánh giá các chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục. Hội đồng quản trị (nếu có) là

Môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức, thái độ và hành động của
nhà quản lý đối với kiểm soát và tầm quan trọng của kiểm soát, cũng như tính 3
đồng bộ trong các hoạt động kiểm soát của các phòng ban. Để xây dựng hệ
thống kiểm soát nội bộ cho doanh nghiệp cần tìm hiểu các nhân tố thuộc về
môi trường kiểm sóat:
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành.
- Cơ cấu tổ chức.
- Phương pháp ủy quyền.
- Sự tham gia của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
- Trình độ và phẩm chất đội ngũ cán bộ nhân viên.
- Chính sách nhân sự.
- Sự trung thực và các giá trị đạo đức.
1.2.1.1 Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của nhà quản lý
về việc giám sát các rủi ro trong kinh doanh; phong cách điều hành lại thể
hiện qua cá tính và cả thái độ của họ đối với việc lập báo cáo tài chính và các
phương pháp kế toán, sử dụng các kênh thông tin chính thức hay không chính
thức…. Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành có ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các
mục tiêu của đơn vị.
1.2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Là bộ máy thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu của đơn vị.
Việc xây dựng cơ cấu tổ chức là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa
các thành viên trong đơn vị. Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ là cơ sở cho việc
lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát tất cả các hoạt động của đơn
vị.

5
động được xem là thiếu đạo đức hoặc phạm pháp. Muốn đạt hiệu quả, nhà
quản lý cấp cao phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các giá trị đạo
đức. Ngoài ra cũng cần loại bỏ những động cơ dẫn người nhân viên đến sai
phạm.
Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình thực
hiện và kết quả của các thủ tục kiểm soát. Một môi trường kiểm soát yếu kém
không thể nào tạo được các thủ tục kiểm soát hữu hiệu. Ngược lại, một môi
trường kiểm soát tốt có thể hạn chế phần nào sự thiếu sót của thủ tục kiểm
soát. Môi trường kiểm soát chính là điều kiện cần cho các thủ tục kiểm soát
phát huy tác dụng.
1.2.2 Đánh giá rủi ro
Tất cả các hoạt động đang diễn ra trong mọi đơn vị đều có thể phát sinh
những rủi ro. Vì vậy các nhà quản lý phải thận trọng khi xác định và phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro làm cho các mục tiêu của doanh nghiệp
không thực hiện được. Việc đánh giá và nhận dạng các rủi ro tạo cơ sở để xác
định các giải pháp xử lý rủi ro.
Những rủi ro có thể xuất phát từ bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp.
Kinh doanh là chấp nhận rủi ro. Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Trong
thực tế không thể nào loại bỏ hết tất cả các rủi ro. Vấn đề là nhà quản lý quyết
định mức rủi ro nào chấp nhận được và quản lý chúng như thế nào. Để làm
được điều này người quản lý cần phải:
- Thiết lập các mục tiêu của tổ chức, phải thiết lập mục tiêu riêng của
từng hoạt động để đạt được mục tiêu chung của đơn vị. Việc xác định mục
tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá rủi ro vì một sự kiện chỉ là rủi ro khi
nó gây ảnh hưởng xấu đến mục tiêu của tổ chức. Có những sự kiện là rủi ro
đối với tổ chức này nhưng lại là cơ hội đối với tổ chức khác.



7
rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
Những hoạt động kiểm soát chủ yếu của đơn vị có liên quan đến hệ thống kế
toán:
- Phân chia trách nhiệm đầy đủ.
- Ủy quyền đúng đắn cho các nghiệp vụ và hoạt động.
- Bảo vệ tài sản vật chất và thông tin.
- Kiểm tra độc lập.
- Phân tích rà soát.
1.2.3.1 Phân chia trách nhiệm đầy đủ
Được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phân công phân
nhiệm và nguyên tắc bất kiêm nhiệm. Yêu cầu của nguyên tắc này là không
để cho một bộ phận hay cá nhân nào tham gia vào giải quyết toàn bộ nghiệp
vụ từ khi hình thành cho đến lúc kết thúc. Khi đó, thông qua cơ cấu tổ chức,
công việc của tất cả các nhân viên được tự động kiểm soát chéo lẫn nhau.
Mục tiêu của thủ tục này là phát hiện ra các sai sót cũng như các hành vi gian
lận. Đồng thời không một cá nhân nào được thực hiện nhiều hơn một trong
bốn chức năng sau đây: phê duyệt, thực hiện, ghi chép nghiệp vụ và bảo quản
tài sản.
Phân chia trách nhiệm thường được đề cập đến như là sự tách biệt giữa
các chức năng:
- Chức năng kế toán với chức năng hoạt động: bộ phận thực hiện các
nghiệp vụ không được ghi chép sổ sách kế toán, vì khi đó họ có thể thổi
phồng kết quả.
- Chức năng kế toán với chức năng bảo quản tài sản: các nhân viên kế
toán không được giao nhiệm vụ giữ tài sản vì có thể tham ô tài sản và che
giấu bằng cách sửa chữa lại sổ sách.
9
sử dụng nhà kho an toàn, tủ sắt, khóa, tường rào, lực lượng bảo vệ và tổ chức
kiểm kê định kỳ… nhằm hạn chế việc tiếp cận đối với chúng. Ngoài ra, việc
so sánh đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tế phải
được thực hiện định kỳ.
Để thông tin kế toán đáng tin cậy và không bị tiết lộ cần thực hiện
nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ, phê chuẩn
các nghiệp vụ và phân quyền các mức độ truy cập thông tin của từng bộ phận
và từng cá nhân. Để thực hiện kiểm soát tốt quá trình xử lý thông tin cần đảm
bảo:
- Các chứng từ phải được đánh số liên tục để có thể kiểm soát, tránh thất
lạc và dễ dàng truy cập khi cần thiết.
- Chứng từ cần được lập ngay khi nghiệp vụ vừa xảy ra, hoặc càng sớm
càng tốt.
- Nội dung của chứng từ cần thiết kế đơn giản, rõ ràng dể hiểu và có thể
sử dụng cho nhiều công dụng khác nhau.
- Tổ chức luân chuyển chứng từ phải khoa học, kịp thời. Nghĩa là chứng
từ chỉ đi qua các bộ phận có liên quan đến nghiệp vụ, và phải quy định thời
gian xử lý nhanh chóng để chuyển cho bộ phận tiếp theo.
- Sổ sách cần phải đóng chắc chắn, đánh số trang, quy định nguyên tắc
ghi chép, có chữ ký xét duyệt của người kiểm soát.
- Tổ chức lưu trữ, bảo quản tài liệu kế toán khoa học, an toàn và dễ dàng
truy cập.
- Các nghiệp vụ hoặc các hoạt động phải được phê chuẩn bởi một nhân
viên quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép.
1.2.3.4 Kiểm tra độc lập
Là việc kiểm tra được tiến hành bởi cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá
nhân (hoặc bộ phận) thực hiện nghiệp vụ. Kiểm tra độc lập giúp giảm được
11
hữu hiệu với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông
và cơ quan thuế. Thông tin và truyền thông tạo ra các báo cáo, chứa đựng các
thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị. Nhờ có hệ thống
thông tin liên lạc chính xác, trung thực và các hoạt động truyền thông kịp thời
mà các thành viên trong đơn vị nắm bắt, trao đổi, xử lý, quản lý và kiểm soát
các hoạt động của doanh nghiệp được hiệu quả.
Hệ thống thông tin trong đơn vị gồm nhiều phân hệ, trong đó hệ thống
thông tin kế toán là một bộ phận quan trọng. Hệ thống thông tin kế toán xét về
mặt quy trình gồm 3 bộ phận: Chứng từ, sổ sách và báo cáo.
1.2.4.1 Chứng từ kế toán
Đóng vai trò hết sức quan trọng trong quy trình kế toán nói riêng và
trong hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung, thông qua ý nghĩa của nó đối với
chất lượng thông tin và việc bảo vệ tài sản:
- Sự trung thực và chính xác của thông tin trên chứng từ kế toán khi nó
được ghi chép ngay lúc nghiệp vụ phát sinh và kèm theo chữ ký xác nhận và
xét duyệt của người có trách nhiệm. Sự phù hợp thông tin liên quan đến mức
độ chi tiết và cụ thể của thông tin và tính hữu dụng của nó.
- Để bảo vệ các tài sản hiện có trong đơn vị, các chứng từ kế toán liên
quan đến tài sản phải có chữ ký của người có thẩm quyền và người tiếp nhận
tài sản.
- Chứng từ kế toán còn là một phương tiện thể hiện sự ủy quyền. Để
đảm bảo sự xét duyệt của người được ủy quyền đối với mọi nghiệp vụ, có thể
thiết lập 1 chứng từ được đánh số liên tục cho loại nghiệp vụ đó.
- Chứng từ kế toán còn có ý nghĩa quan trọng khác là sự kiểm tra trước
và sau khi nghiệp vụ xảy ra. Trước khi nghiệp vụ xảy ra, người có thẩm
quyền sẽ xem xét chi tiết nội dung trên chứng từ để thể hiện sự xét duyệt của
mình. Sau khi nghiệp vụ xảy ra, chứng từ cung cấp đầy đủ thông tin nội dung
13
1.3. CÁC LOẠI KIỂM SOÁT
Tùy theo cách phân loại mà có các loại kiểm soát khác nhau:
1.3.1 Phân loại theo mục tiêu
1.3.1.1 Kiểm soát phòng ngừa
Là các thủ tục kiểm soát được thiết kế để ngăn chặn các sai phạm hoặc
các điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phòng ngừa thường được tiến hành
trước khi nghiệp vụ xảy ra. Kiểm soát phòng ngừa thường được thực hiện
ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên theo chức năng của họ: phân
chia trách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý, sự đầy đủ, chính xác…
1.3.1.2 Kiểm soát phát hiện
Là các thủ tục kiểm soát được thiết kế nhằm phát hiện các sai phạm
hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phát hiện thường được thực
hiện sau khi nghiệp vụ xảy ra như các công việc đối chiếu cuối kỳ.
Kiểm soát phát hiện và kiểm soát phòng ngừa có quan hệ bổ sung cho
nhau trong việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát. Thế mạnh của kiểm soát
phòng ngừa là ngăn chặn các sai phạm trước khi xảy ra do đó giảm được thiệt
hại. Nhưng không có thủ tục nào có thể giảm được rủi ro xuống bằng không
và đôi khi chi phí cho kiểm soát phòng ngừa trong nhiều trường hợp rất cao.
Khi đó, kiểm soát phát hiện sẽ giúp phát hiện sai phạm lọt lưới của kiểm soát
phòng ngừa, nó góp phần làm tăng sự chú ý và trách nhiệm của nhân viên
trong quá trình thực hiện kiểm soát phòng ngừa.
1.3.1.3 Kiểm soát bù đắp
Là khái niệm về sự bù đắp một yếu kém của một thủ tục kiểm soát này
bằng một thủ tục kiểm soát khác.
1.3.2 Phân loại theo phạm vi kiểm soát
Gồm có hai loại: kiểm soát trực tiếp và kiểm soát chung.
1.3.2.1 Kiểm soát chung
15
- Hệ thống kiểm soát được thiết lập ban đầu nhằm nhận biết và hạn chế
các rủi ro lớn.
- Công tác tổ chức kiểm soát nội bộ thứ hai bao gồm quá trình kiểm tra
đảm bảo tất cả nhân viên thi hành đúng như yêu cầu.
- Công tác tổ chức kiểm soát nội bộ thứ ba gồm các quá trình xem xét
đánh giá định kỳ các thủ tục kiểm soát nội bộ để đảm bảo chúng đáp ứng
được mục tiêu đề ra và hạn chế tới mức chấp nhận được các rủi ro do môi
trường thay đổi.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở chương 1, tác giả đã trình bày một số cở sở lý luận chung về hệ thống
kiểm soát nội bộ theo mô hình của báo cáo COSO. Mô hình này sẽ được áp
dụng làm cơ sở cho việc khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát
nội bộ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó đưa ra các định hướng, giải
pháp nhằm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.

16

Dưới 200
người
Từ trên 20
tỷ đồng đến

100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
II. Công
nghiệp và xây
dựng
20 tỷ đồng
trở xuống
Dưới 200
người
Từ trên 20
tỷ đồng đế
n
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch vụ
10 tỷ đồng
trở xuống
Dưới 50
người
Từ trên 10

ty.
- Phòng thu mua: đảm bảo chuỗi cung ứng hàng hóa, vật tư, tài sản cho
công ty.
- Phòng kế toán: phản ánh chính xác, đầy đủ sự biến động tài sản và
nguồn vốn tại doanh nghiệp; tiến hành ghi sổ và lập báo cáo tài chính đúng
hạn.
2.2. NỘI DUNG KHẢO SÁT

Ban Giám Đốc
Phòng tổ chức
nhân sự
Phòng kinh doanh Phòng kế toán
Phòng quản lý
sản xuất
Phòng thu mua 18
Luận văn tập trung khảo sát các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát
nội bộ theo mô hình COSO, từ đó có cái nhìn tổng thể về thực trạng hệ thống
kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trên cơ sở
khảo sát thực tế, trình bày những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế của
hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp này, từ đó đưa ra các quan
điểm, định hướng, giải pháp để xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.

2.3. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
Nghiên cứu tiến hành khảo sát 10 đơn vị có quy mô vừa và nhỏ. Việc
khảo sát được tiến hành dưới hình thức điều tra thông qua bảng câu hỏi kết
hợp phỏng vấn trực tiếp những người nắm giữ các vị trí chủ chốt của công ty

giữa các phòng ban chưa được ban hành, có khi chỉ là những thỏa thuận
miệng. Việc này dẫn đến các bộ phận đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau. Một cơ
cấu tổ chức và phương pháp ủy quyền chưa hợp lý không thể tạo được môi
trường kiểm soát tốt.
Khi công ty càng lớn mạnh thì yêu cầu kiểm soát cần được chú trọng
hơn. Việc kiểm soát lúc này không phải là tập trung quyền lực vào một vài
người như lúc trước mà nó cần được phân quyền một cách hệ thống cho từng
bộ phận và từng người. Việc phân quyền này cần thực hiện một cách khoa
học và hợp lý, đúng người đúng việc. Trong thực tế rất nhiều công ty có đầy
đủ các bộ phận và các trưởng bộ phận, nhưng họ lại không được phân qyền để
giải quyết các vấn đề. Trong khi đó Tổng giám đốc ôm đồm rất nhiều việc,
nhưng họ lại không đủ thời gian để giải quyết hết tất cả các việc liên quan.
Khi đó công tác kiểm soát trong công ty hầu như không mạng lại hiệu quả
như mong muốn.
Ngân sách dùng cho việc tuyển dụng, đào tạo và trả lương thưởng cho
nhân viên cũng rất hạn chế, kéo theo trình độ và kinh nghiệm của nhân viên 20
tuyển dụng được cũng có hạn chế nhất định. Bên cạnh đó các quy trình và quy
định hoạt động chưa được thiết kế và truyền đạt rộng rãi trong công ty, dẫn
đến các nhân viên chưa hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của họ trong bộ
máy.
Các giá trị đạo đức và sự trung thực chưa được các doanh nghiệp quy
định bằng văn bản và có chế tài hợp lý. Khi nhân viên cấp dưới có những
động cơ gian lận, họ lại không được hướng dẫn cụ thể và cố ý làm liều.
2.4.1.2 Đánh giá rủi ro
Như chúng ta đã biết các công ty vừa và nhỏ thường có số lượng nhân
viên và nguốn vốn ít. Vì vậy loại hình doanh nghiệp này thường có 4 lực cản
chính đối với sự phát triển, đó là vấn đề tiếp cận tài chính, tiếp cận thị trường,

hoạt động. Nên việc kiểm soát lẫn nhau hay kiểm tra độc lập là không có.
2.4.1.4 Thông tin và truyền thông
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều sử dụng máy tính
cho công tác kế toán và quản lý. Việc quản lý thông tin trong đơn vị thể hiện
qua các nội dung sau:
- Chứng từ kế toán: về mặt chất lượng vẫn còn tồn tại nhiều chứng từ
không đủ điều kiện theo quy định vẫn được duyệt chi: mua các vật liệu sửa
chữa văn phòng như sơn, đinh ốc vít và một số vật tư mua lẻ tại các cửa hàng
nhỏ đa số chỉ là bảng kê thông thường mà không có hóa đơn đỏ. Về mặt lưu
giữ chứng từ, vẫn còn nhiều công ty lưu giữ chưa có hệ thống và sắp xếp chưa
có khoa học, chưa đảm bảo cho việc tìm kiếm về sau.
- Sổ sách kế toán: tại hầu hết các công ty đều mở sổ, ghi chép đúng với
chế độ kế toán do nhà nước ban hành. Do đã ứng dụng tin học trong công tác
kế toán nên số liệu thường chính xác. Các thông tin nội bộ được chuyển đúng
đối tượng và ban lãnh đạo có kiểm soát các thông tin trao đổi với bên ngoài.
- Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị: báo cáo tài chính được thực hiện
theo đúng biểu mẫu và thời hạn do phải nộp cho các cơ quan chức năng. 22
Riêng báo cáo quản trị ngoài báo cáo lãi lổ từng tháng nhằm phục vụ cho việc
phân tích, quản lý tài chính, hầu hết các doanh nghiệp thực hiện được, còn các
báo cáo khác như báo cáo hiệu quả của từng bộ phận, lập bảng dự toán ngân
sách cho từng thời kỳ…chỉ có số ít công ty thực hiện.
2.4.1.5 Giám sát
Do chưa có sự kiểm tra kiểm soát một cách độc lập, cũng như các công
ty chưa sử dụng chức năng kiểm soát nội bộ, nên việc giám sát được thực hiện
theo cách tự phát và không hệ thống.

Nhận xét những tồn tại yếu kém, nguyên nhân của tồn tại đó và kết

viên làm việc này.
 Về báo cáo quản trị: tại nhiều đơn vị do chưa tổ chức hệ thống ghi chép
kịp thời, cũng như sự hạn chế trình độ của nhân viên nên chưa thực hiện
được hệ thống báo cáo này.
-Kết luận:
Qua kết quả khảo sát thực tế các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát
tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho chúng ta cái nhìn khái quát về hệ thống
kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp này. Phần tiếp theo sẽ đi sâu phân tích
các thủ tục kiểm soát đã được thiết lập tại các đơn vị này theo từng chu trình
hoạt động. Từ đó sẽ đưa ra các nhận xét, đánh giá tính hiệu quả hay các yếu
kém của nó để có những giải pháp cụ thể cho từng thủ tục kiểm soát.
24
2.4.2. CÁC LOẠI KIỂM SOÁT
2.4.2.1. Kiểm soát phòng ngừa
Các doanh nghiệp được khảo sát phần lớn các công ty chưa thiết lập
quy trình cụ thể cho từng chu trình hoạt động. Các hoạt động được thực hiện
mang tính chất tự phát và theo sự điều hành của trưởng phòng và Giám đốc.
Do không có quy trình các bước thực hiện được ban hành và áp dụng chặt chẽ
cho nên các thủ tục kiểm soát phòng ngừa chưa phát huy tác dụng.
Quản lý mua hàng
Mua hàng gồm có hai khâu: mua hàng trong nước và nhập khẩu. Đối
với các mặt hàng mua trong nước do điều kiện mua cũng như vận chuyển
tương đối dễ dàng cho nên các nhân viên thu mua thường không chú trọng
nhiều. Khi có yêu cầu về hàng hóa dịch vụ, để thuận tiện và nhanh chóng
nhân viên thu mua thường gọi điện thoại để đặt hàng. Việc đặt hàng qua điện
thoại rất dễ xảy ra tình trạng Nhà cung cấp không giao đủ số lượng, giao
nhầm chủng loại, chất lượng và thời hạn giao hàng thường bị trễ. Sau đó bộ

giá khá cao và chỉ sử dụng được cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, nên
công ty đã không bán được số máy này. Dẫn đến chi phí lưu kho tăng, chi phí
lãi vay tăng, vòng quay vốn chậm đã ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu kinh
doanh của công ty.
Quản lý việc bán hàng
Bán hàng gồm có hai khâu: bán trong nước và bán xuất khẩu.Trong tình
hình cạnh tranh đang diễn ra gay gắt như hiện nay, nhận được đặt hàng là một
nổ lực to lớn của phòng kinh doanh. Cộng thêm áp lực về doanh số và mục
tiêu kinh doanh của năm đã làm cho đội ngũ nhân viên bán hàng của công ty
luôn muốn nhận đơn đặt hàng của khách hàng càng nhiều càng tốt mà không
chú ý đến năng lực đáp ứng của nhà máy. Như trường hợp công ty Hòa Bình
– sản xuất hàng trang trí nội thất – trong mùa giáng sinh năm 2009 phòng

Trích đoạn Giải pháp cho quản lý quy trình mua hàng Giải pháp cho quản lý quy trình bán hàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status