Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai tự nộp thuế ở Phú Yên - Pdf 84

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thanh tra, kiểm tra là một trong những hoạt động hết sức quan trọng nhằm đảm
bảo an toàn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá, vận
hành theo cơ chế thị trường. Trong đó, thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những hoạt
động mang tính chất đặc thù. Thanh tra, kiểm tra thuế trong thời gian qua không chỉ có
những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế mà còn nhằm đảm bảo công bằng,
động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất,
nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra thuế vẫn còn có những hạn
chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp
ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. Với sự đòi hỏi cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài:
“ HOÀN THIỆN THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI -
TỰ NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN ” làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
- Góp phần làm rõ lý luận về thanh tra, kiểm tra nói chung và trong ngành thuế
nói riêng.
- Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc tăng cường đổi mới, hoàn thiện
thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
- Nghiên cứu thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn tỉnh Phú Yên giai
đoạn 2003-2007, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu và những nguyên nhân hạn chế
của thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Phú Yên.
- Trên cơ sở định hướng đổi mới, hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế
tự khai, tự nộp và những nguyên nhân hạn chế, luận văn đề xuất giải pháp đẩy nhanh
vững chắc thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh
Phú Yên.
3.

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế.
- 2 -
- Phạm vi nghiên cứu là thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Phú Yên thời

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1.1. Khái niệm cơ chế TKTN:
- Tự khai - tự nộp (Self assessment): tự xác định (lượng giá) căn bản thuế nhằm
mục đích tính thuế.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa hẹp, đối tượng nộp thuế tự xác định căn bản thuế, tự
tính thuế, tự xác định số thuế phải nộp và tự nộp thuế theo đúng thời hạn qui định.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa rộng, đang được sử dụng: là một phương thức quản lý
thuế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của ĐTNT được cụ thể bằng việc ĐTNT
tự thực hiện các nghĩa vụ mà Luật qui định và cơ quan thuế được tổ chức và thực hiện
các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó.
Từ đó ta có khái niệm về cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế:
Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác
tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các qui định tại các Luật
thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp
thuế đúng thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của
người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách
nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện
nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp
thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn
những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế. Việc giám sát, kiểm tra của cơ
quan thuế được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ thông tin về người nộp thuế và thực
hiện phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để lựa chọn chính xác những trường
hợp có vi phạm cần thanh tra, kiểm tra. Điều này sẽ giúp khắc phục được việc thanh
tra, kiểm tra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực cho cơ quan thuế và phiền hà cho người
nộp thuế.
[20] - 4 -

quản lý đối với các đối tượng nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao,
ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN.
Để thực hiện được quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro, cơ quan thuế cần
phải có:
+ Thông tin đầy đủ và liên tục về ĐTNT trong một khoảng thời gian nhất định
(ít nhất là 5 năm). Trên cở các thông tin đó cơ quan thuế phân tích, phân loại ĐTNT để
xác định biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tập hợp, khai thác, sử dụng thông tin
về ĐTNT và ở tất cả các hoạt động quản lý của cơ quan thuế.
- Quy trình quản lý của cơ quan thuế tốt và được hỗ trợ tin học hoá
- Công chức thuế được đào tạo có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện quản lý
thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng quản lý. [20]
1.1.3. Các đặc trưng về quản lý:
- Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, nhất là trách nhiệm về hành vi, được qui
định rõ ràng cho từng phía: chủ thể quản lý - cơ quan thuế và đối tượng quản lý -
ĐTNT.
- Dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan quyền lực Nhà nước và ĐTNT.
- Nhà nước (cơ quan thuế) không can thiệp và không làm thay trách nhiệm của
ĐTNT.
- Nhà nước (cơ quan thuế) chuyển đổi từ việc chủ yếu dùng quyền lực để quản
lý chuyển sang lấy hỗ trợ là chính. Đây là nền tảng cho một cuộc cải cách toàn diện hệ
thống quản lý thuế (cải cách thể chế, cải cách bộ máy, cải cách phương pháp quản lý,
cải cách các thủ tục hành chính…) .
- Chế độ kiểm tra thuế của cơ quan thuế được chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu
kiểm”.
[20]
1.1.4. Sự cần thiết phải chuyển đổi theo cơ chế tự kê khai, tự tính thuế và
nộp thuế:
- 7 -
- Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy mạnh hiện
đại hoá quản lý thuế mà cụ thể là đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong
quản lý thuế. [20]
1.2.SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN NÂNG CAO VAI TRÒ THANH
TRA, KIỂM TRA THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ
1.2.1. Mục đích, yêu cầu của thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.1.1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra thuế:
a. Khái niệm về thanh tra thuế:
Thanh tra ( tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có
nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt
động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là
sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải
thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm
quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định -sự tác động có tính trực thuộc”.
Theo Từ điển tiếng Việt “ thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa
phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm:
“ xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường đi kèm
với một chủ thể nhất định: “ người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra của Bộ”
và “đặt trong phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định.
Như vậy Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt
động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường
được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích
cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức và cá nhân”.
[23]

- 9 -
Từ sự phân tích trên, ta có khái niệm kiểm tra thuế là hoạt động xem xét
tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của
cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế và công tác
quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế.
c. Sự đồng nhất và khác biệt giữa thanh tra và kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động
mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát,
nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi
mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế có sự đồng nhất là về bản chất và đều có mục
đích, yêu cầu chung là xem xét, đánh giá việc tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật
thuế (là đối tượng của kiểm tra, thanh tra) từ đó rút ra kết luận đúng, sai để có biện
pháp phát huy hoặc chấn chỉnh.
Tuy nhiên hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế có sự khác biệt:
- Khác nhau về nội dung: Nội dung kiểm tra thuế thường dễ dàng nhận thấy,
ngược lại nội dung thanh tra thuế thường đa dạng, phức tạp hơn (phân biệt này có tính
tương đối).
- Khác nhau về trình độ nghiệp vụ: hoạt động thanh tra thuế đòi hỏi thanh tra
viên thuế phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu rộng về kinh tế xã hội, có khả năng chuyên
sâu vào một lĩnh vực. Hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp và chủ thể lại gồm đối tượng
rộng, có tính quần chúng, phổ biến nên trình độ công chức kiểm tra thuế không nhất
thiết phải đòi hỏi có nghiệp vụ cao.
- Khác nhau về phạm vi hoạt động: phạm vi hoạt động kiểm tra thuế thường
theo bề rộng, mang tính thường xuyên với nhiều hình thức phong phú. Phạm vi hoạt
động của thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua kiểm tra thuế thấy
dấu hiệu phức tạp cần chọn ra những vấn đề để thanh tra. - 11 -
1.2.1.3. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế:
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát huy nhân tố tích cực, ngăn
ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của
các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ
những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật:
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Thanh tra, kiểm tra thuế là việc thực hiện pháp luật nên thanh tra, kiểm tra thuế cũng
phải tuân theo pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của
chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế;
ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và công chức thanh tra, kiểm tra
thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật qui định;
xem xét đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào qui định của pháp luật mà
không tuân theo ý kiến tác động của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào.
Thứ hai, nguyên tắc chính xác, khách quan:
Đảm bảo chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong hoạt
động thanh tra, kiểm tra. Có chính xác trong công tác thanh tra, kiểm tra mới cho phép
đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng
việc, đúng pháp luật.
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn
trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn hay qui
chụp một cách tùy tiện chủ quan. Tính khách quan và chính xác trong thanh tra, kiểm
tra có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Có thái độ khách quan, không


- 13 -
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế vì trong quá trình
thanh tra, kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên
quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật quốc gia. Nếu để lộ
cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và
các doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ cần báo cáo cho những người có thẩm quyền được
biết.
Quán triệt nguyên tắc này không hề mâu thuẫn với nguyên tắc công khai, vì việc
công khai được thực hiện với những vấn đề được phép công khai, nên công khai và
phải công khai. Những vấn đề bí mật thì cần được bí mật.
Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả:
Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả,
nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm. Phải đảm bảo
giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế.
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được
mục đích của nó.
Thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên đây chính là các điều kiện để thực hiện
đúng mục đích, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra một cách có hiệu
quả cao nhất, góp phần phát huy dân chủ XHCN và tăng cường hiệu lực quản lý của
Nhà nước.
[20]
1.2.2. Nội dung của thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.2.1. Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế:
Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của
công tác thanh tra thuế. Theo quy định của pháp luật, người nộp thuế phải thực hiện
đầy đủ việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chế độ hạch toán kế toán, hoá đơn,
chứng từ…Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều đối tượng vi phạm các quy định trên, vì
vậy phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế nhất là theo cơ chế tự

- 15 -
hội phải tuân thủ. Trong điều kiện đó, kiểm tra, thanh tra là hết sức cần thiết để đảm
bảo pháp luật Nhà nước được thực thi nghiêm minh, quyền và lợi ích Nhà nước, của
công dân được đảm bảo.
Hiện nay, để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đạt hiệu quả thì chức năng
thanh, kiểm tra là một mắc xích vô cùng quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện,
ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận về thuế. Kiểm tra, thanh tra thuế là một đòi hỏi
bức thiết, là yêu cầu khách quan xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, thuế là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc kiểm soát,
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập
của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà
nước. Quá trình thực thu các luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng quyết
định đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế. Bởi vậy, tăng cường công tác kiểm tra, thanh
tra thuế nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng, vai trò của thuế đối với nền kinh tế -
xã hội.
Thứ hai, luật thuế nói chung và pháp lệnh thuế nói riêng là sự thể hiện ý chí và
nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế ở nước ta còn đang
trong quá trình cải cách, chưa thật hoàn chỉnh, do vậy cần thiết phải tăng cường công
tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện những bất hợp lý, những sai sót trong hệ
thống chính sách thuế để sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tiễn, làm cho
pháp luật luôn là công cụ có hiệu lực trong lãnh đạo, quản lý nhà nước.
Thứ ba, trốn lậu thuế là một tồn tại không thể tránh khỏi trong bất kỳ một nền
kinh tế nào. Ở nước ta, vấn đề này càng trở nên búc xúc, nhất là trong điều kiện thực
hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp hiện nay, đề cao tính tự giác của người
nộp thuế qua việc tự tính, tự khai, tự nộp. Vì vậy, cần phải tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra thuế để ngăn chặn kịp thời các hành vi khai man, trốn lậu thuế, đảm bảo
tính bình đẳng giữa những người nộp thuế. Mặt khác, trong thực tiễn một số công chức
thuế do hạn chế về trình độ chuyên môn hoặc do thái hóa, biến chất mà có những biểu

- 17 -
TKTN là một thay đổi cơ bản trong việc quản lý thuế [5]. Một số nội dung thay đổi so
với cơ chế cũ:
1.3.1.1. Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm và nguồn lực để
tiến hành thanh tra:
Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh, phương pháp lập kế hoạch thanh tra
hàng năm dựa trên cơ sở phân tích rủi ro, việc lựa chọn đối tượng thanh tra theo tiêu
chí ĐTNT có độ rủi ro từ cao xuống thấp, thông thường kế hoạch thanh tra thuế được
xây dựng theo cơ cấu:
+ 40% là khối lượng công việc thanh tra từ cơ quan thuế trung ương chỉ đạo
xuống bên dưới thực hiện.
+ 10% đối tượng thanh tra lựa chọn ngẫu nhiên.
+ 50% đối tượng thanh tra là kế hoạch xây dựng của phòng thanh tra (cục) và
chi cục.
Để thực hiện tốt công tác thanh tra, nguồn nhân lực cần thiết phải có để thực
hiện tốt công việc từ 25 -30% tổng số công chức toàn ngành. Trong từng bộ phận thanh
tra được chia thành 3 nhóm: nhóm xây dựng đề án, nhóm thu thập hồ sơ và phân tích
thông tin, nhóm thanh tra trực tiếp.
[2]
1.3.1.2. Những nội dung cần lưu ý trong quá trình thực hiện công tác thanh
tra thuế ở nước Anh:
- Trong quá trình thu thập hồ sơ và phân tích thông tin nghiêm cấm công chức
đến trực tiếp đơn vị để yêu cầu cung cấp tài liệu, hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán.
- Trong quá trình thanh tra nếu phát hiện doanh nghiệp trốn thuế, tránh thuế
trong kỳ kiểm tra thì công chức thanh tra có thể xem xét lại tờ khai thuế trong vòng 6
năm (đối với thanh tra toàn diện) hoặc 2 năm (đối với thanh tra theo chuyên đề).
- Về thời gian cho một cuộc thanh tra: Thời gian cho công chức thu thập tài liệu
phân tích thông tin cho 1 bộ hồ sơ thông thường từ 4 đến 6 tuần ( 30 ngày đến 45

của thẻ thanh tra là các thông báo của cơ quan thuế yêu cầu Người nộp thuế xuất trình
các tài liệu thông tin theo yêu cầu. Cơ quan thuế có thể gửi các thông báo đến ngân - 19 -
hàng để yêu cầu cung cấp thông tin như số Tài khoản, số tiền … và ngân hàng không
có quyền từ chối thông báo của cơ quan thuế.
- Trong quá trình thanh tra, việc thu thập thông tin là vô cùng quan trọng. Do đó
ATO đã ban hành sách quy định quyền của thanh tra viên, quyền của người nộp thuế.
Khi công chức đi thanh tra có thể mang theo sách này để cung cấp, tuyên truyền cho
người nộp thuế ( sách này có nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả tiếng Việt).
- Khi thanh tra không phải thanh tra tất cả các vấn đề của người nộp thuế mà chỉ
thanh tra một vài vấn đề qua đánh giá rủi ro và chỉ thực hiện thanh tra trên cơ sở các
vấn đề rủi ro đã được đánh giá. Trong quá trình phân tích nếu phát hiện ra vấn đề gì
phải thanh tra, công chức thanh tra chỉ được thanh tra vào những nội dung đó, nếu
trong quá trình thanh tra phát hiện thêm vấn đề gì, công chức thanh tra phải báo cáo bổ
sung nội dung cần thanh tra.
[3]
1.3.3. Kinh nghiệm thanh tra ở Trung Quốc:
Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã yêu cầu nước này phải thực hiện giảm thuế
quan trong những năm tới. Việc giảm thuế quan cũng có nghĩa là giảm số thu của
Chính phủ. Để đảm bảo nguồn thu sau khi gia nhập WTO, cơ quan thuế đã phải tập
trung nỗ lực vào công tác thanh tra thuế công ty cũng như cá nhân.
Trong năm 2002, cơ quan thuế Trung Quốc đã tiến hành kiểm tra tổng số 2 triệu
trường hợp, trong đó đã tiến hành thanh tra 800.000 ĐTNT và truy thu được hơn 39 tỷ
NDT ( tương đương 4,7 tỷ USD). Qua sự kiểm tra như vậy, cơ quan thuế nhận thấy cần
phải thắt chặt hơn nữa công tác cưỡng chế thuế.
Tại Trung Quốc, thanh tra thuế được chia thành 5 loại:
(1). Kiểm tra tại bàn - Phân tích các tờ khai, báo cáo tài chính và các tài liệu
khác do người nộp thuế nộp cho cơ quan thuế.

Một kết quả quan trọng trong thanh tra giá chuyển nhượng là đã tác động nhanh
chóng đến các cuộc thanh tra phối hợp mang tính quốc gia – tiến hành thanh tra đồng - 21 -
thời các công ty con tại Trung Quốc của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại nhiều
thành phố khác nhau do Tổng cục thuế điều hành. Trong quá trình thanh tra các vụ việc
này, Tổng Cục thuế và cơ quan thuế địa phương sẽ tiến hành họp thường xuyên để thảo
luận và Tổng Cục thuế sẽ tư vấn về kỷ thuật cho các cơ quan thuế địa phương để hỗ trợ
họ thực hiện thanh tra. Vì các cuộc thanh tra phối hợp mang tính quốc gia phức tạp hơn
so với thanh tra từng công ty đơn lẻ nên thường mất nhiều thời gian hơn.
Trong các vụ việc thanh tra thông thường, nếu ĐTNT bị phát hiện ẩn lậu thuế,
cơ quan thuế sẽ có quyền truy thu trong vòng 3 năm gần nhất. Nếu sự việc trên là do
người nộp thuế tính sai thì họ chỉ phải nộp tiền phạt. Trong một số trường hợp đặc biệt,
thời gian truy thu thuế có thể là 5 năm. Đối với trường hợp truy thu thuế do trốn thuế,
người nộp thuế từ chối không nộp thuế hoặc gian lận về thuế thì không có giới hạn về
thời gian truy thu thuế. Đối với các trường hợp này, ngoài việc truy thu thuế, cơ quan
thuế vẫn tính phạt.
Đối với các vụ thanh tra giá chuyển nhượng, nếu người nộp thuế bị phát hiện
không thực hiện các giao dịch với các bên liên kết trên cơ sở giao dịch thị trường thì cơ
quan thuế có quyền điều chỉnh giá chuyển nhượng trong vòng 3 năm (đến 10 năm
trong những trường hợp đặc biệt) kể từ năm phát sinh giao dịch liên quan.
Kết quả điều chỉnh giá chuyển nhượng thường là ĐTNT phải nộp thuế bổ sung
đối với thu nhập bị điều chỉnh ngay cả khi khoản thu nhập này có thể phải chịu thuế tại
nước kia. Sau khi bị thanh tra, các ĐTNT vẫn có thể bị thanh tra trong tương lai.
[1]
1.3.3.2. Thanh tra thuế thu nhập cá nhân:
Gần đây, cơ quan thuế Trung Quốc tăng cường công tác cưỡng chế đối với các
trường hợp cá nhân trốn thuế thông qua việc ban hành hàng loạt các văn bản về thuế
thu nhập cá nhân. Cơ quan thuế tập trung vào các cá nhân giàu có nhất Trung Quốc

chức thanh tra trực tiếp xuống ĐTNT để thu thập thông tin lập báo cáo kiểm tra.
Mặt khác, ngành thuế phải ban hành Luật quy định quyền cho thanh tra viên hay
quyền cho Người nộp thuế để có sự đồng thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. - 23 -
Ban hành thẻ thanh tra viên thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế trong một số
trường hợp cấp thiết. Để làm được điều này đòi hỏi ngành thuế phải có một nguồn lực
tương thích để đảm đương công việc một cách có hiệu quả.
Riêng việc thanh tra thuế chống tránh thuế và thanh tra thuế thu nhập cá nhân
của Trung Quốc giúp ngành thuế cả nước nói chung, ngành thuế Phú yên nói riêng làm
quen với loại hình thanh tra mới trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO như hiện
nay.
Với bề dày kinh nghiệm hơn 10 năm về cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế, kinh
nghiệm của các nước là tài liệu quí giá chúng ta học tập và áp dụng vào công tác quản
lý thuế của mình. TKTN không phải chỉ nhằm mục đích tiết kiệm được chi phí mà chủ
yếu nhằm phân bổ lại nguồn lực một cách có hiệu lực, hiệu quả. Ngoài ra TKTN còn là
một động lực để hiện đại hoá công tác quản lý thuế, có tác động tích cực đến số thu,
đến năng suất của mỗi công chức và tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.
Kết luận Chương I:
Trong Chương I, luận văn tập trung làm rõ lý luận tổng quan về cơ chế tự khai
tự nộp thuế và vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế mới này. Trong
đó góp phần làm rõ lý luận và ý nghĩa thực tiễn của sự cần thiết khách quan trong thực
hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế quản lý thuế tự khai tự nộp thuế ở
Việt Nam. Luận văn cũng đã đề cập đến những bài học kinh nghiệm từ một số nước
đối với Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Những tổng luận lý thuyết nêu trên làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu
đặt ra trong nghiên cứu của luận văn là hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
theo cơ chế TKTN trên địa bàn tỉnh Phú Yên.


trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
[18]
2.1.1.2. Dân số và lao động:
Về cơ bản Phú Yên vẫn là một tỉnh nông nghiệp với dân số khoảng 890,900
người (năm 2003), mật độ dân số 168 người/km
2
, dân số thành thị chiếm khoảng 20%,
nông thôn chiếm khoảng 80%, số người trong độ tuổi lao động vào khoảng 636.994
người, chiếm 71,5% dân số.
2.1.1.3. Lợi thế phát triển:
Một:
Phú Yên rất thuận tiện trong giao thông: có Quốc lộ 1A đi ngang qua,
đường tỉnh lộ 645 và Quốc lộ 25 nối với các tỉnh
Tây Nguyên; đường sắt Bắc-Nam và - 25 -
.Tỉnh lộ 641 nối QL1A từ Thị trấn Chí
Thanh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai rồi gặp lại QL1A tại Thị
trấn Diêu trì (Tỉnh Bình Định). Quốc lộ 1D (nối Sông Cầu với thành phố
Qui Nhơn),
đường từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng
Vũng Rô. Hệ thống đường liên thôn,
liên xã thông suốt thuận lợi trong việc đi lại.
Hai: lợi thế phát triển thủy điện, khai thác tài nguyên, khoáng sản. Với hệ thống
Sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ với tổng diện tích lưu vực là 16.400km
2
,
tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m
3

Trích đoạn Định hướng quản lý thuế đến năm 2015: Kiện toàn tổ chức bộ máy thanh tra của Cục thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế TKTN: Đổi mới quy trình lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra có tính mức độ rủi ro về thuế theo cơ chế tự khai tự nộp thuế: Bước Mời người nộp thuế được kiểm tra đến làm việc tại trụ sở
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status