Đề tài: HOÀN THIỆN THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI - TỰ NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN doc - Pdf 15

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài :
HOÀN THIỆN THANH TRA, KIỂM TRA
THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI - TỰ
NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
YÊN

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thanh tra, kiểm tra là một trong những hoạt động hết sức quan trọng nhằm đảm
bảo an toàn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá, vận
hành theo cơ chế thị trường. Trong đó, thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những hoạt

4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài có nhiều giải pháp thiết thực phù hợp với thực tiễn công tác thanh tra,
kiểm tra thuế ở Phú Yên hiện tại và trong thời gian tới. Tạo cơ sở khoa học cho Cục
thuế tỉnh Phú Yên có những định hướng và quyết định trong quản lý thuế mang lại
hiệu quả cao. Mặt khác đề tài cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người
quan tâm đến lĩnh vực thuế, chống thất thu thuế nhằm đảm bảo công bằng, động viên
đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao
năng suất lao động.
5. KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 Chương:
Chương I: Lý luận tổng quan về cơ chế tự khai tự nộp thuế.
Chương II: Thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự
nộp trên địa bàn tỉnh Phú yên.
Nội dung cụ thể từng chương của luận văn như sau:

- 3 -
Chương I
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1.1. Khái niệm cơ chế TKTN:
- Tự khai - tự nộp (Self assessment): tự xác định (lượng giá) căn bản thuế nhằm
mục đích tính thuế.

- Người dân phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, ĐTNT có ý thức
tuân thủ nghĩa vụ thuế, cộng đồng lên án những hành vi gian lận trốn thuế.
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan
thuế những thông tin về ĐTNT có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của
ĐTNT.
- Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như : thuế GTGT chỉ có
1 mức thuế suất, ít miễn giảm trong thuế thu nhập doanh nghiệp…, các qui định về kê
khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
- Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các
chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu
nợ và cưỡng chế thuế; thanh tra, kiểm tra thuế để nhằm chuyên môn hóa, nâng cao
năng lực quản lý thuế ở từng chức năng. Trên cơ sở đó có:
+ Hệ thống dịch vụ hỗ trợ ĐTNT toàn diện, có chất lượng.
+ Hệ thống cưỡng chế thuế, thu nợ có hiệu quả.
+ Hệ thống thanh tra, kiểm tra có mục tiêu rõ ràng.
- Hệ thống xử phạt nghiêm khắc. Cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều tra, đủ
điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp
gian lận, trốn thuế, chây ỳ nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho NSNN và đảm bảo sự công
bằng trong quản lý thuế.
- Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động có hiệu quả.
- Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại- kỹ thuật quản lý rủi ro,
trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ nguồn lực - 5 -
quản lý đối với các đối tượng nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao,
ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN.
Để thực hiện được quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro, cơ quan thuế cần
phải có:
+ Thông tin đầy đủ và liên tục về ĐTNT trong một khoảng thời gian nhất định

quan thuế là giảm).
- Tăng cơ hội bảo vệ các lợi ích cho chính doanh nghiệp ( tự mình hoặc có sự
trợ giúp từ bên ngoài, nhất là đối với các quyết định đưa ra từ phía cơ quan thuế mà
doanh nghiệp cho rằng quyết định đó xâm phạm đến quyền lợi của doanh nghiệp).
- Được cơ quan thuế, các công chức thừa hành trong hệ thống ngành thuế tôn
trọng.
- Được hưởng các dịch vụ thuế ngày càng có chất lượng hơn do thành quả thu
được từ công cuộc cải cách hành chính từ phía cơ quan thuế, tiết kiệm được chi phí,
các phiền hà trong hành chính được giảm thiểu.
- Được hưởng sự hỗ trợ tối đa của cơ quan thuế trong việc cung cấp các thông
tin, phương tiện, các trợ giúp để kê khai thuế, nộp thuế vì đây là nhiệm vụ chính của cơ
quan thuế.
[20]
Thứ hai: Đối với cơ quan thuế
- Cơ quan thuế có điều kiện để cải tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả
nhất các nguồn lực hiện có, công tác quản lý thuế được tổ chức theo hướng ngày càng
hiện đại và chuyên môn hóa.
- Cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác phục vụ, hỗ trợ
các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh hiểu và
tự giác thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình đối với NSNN.
- Cơ quan thuế có điều kiện để tăng cường thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế
có hiệu quả hơn đối với người nộp thuế có khả năng rủi ro cao trong việc không tuân
thủ thực hiện nghĩa vụ thuế. - 7 -
- Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy mạnh hiện
đại hoá quản lý thuế mà cụ thể là đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong
quản lý thuế. [20]
1.2.SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN NÂNG CAO VAI TRÒ THANH

phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế
quản lý thuế, chính sách thuế, pháp luật thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp
thuế.
b. Khái niệm về kiểm tra thuế:
Theo Từ điển tiếng Việt thì “ kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,
nhận xét”. Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơn
thanh tra rất nhiều. Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể là
một chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…), hoạt
động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp: kiểm tra của Giám đốc đối với các
phòng, ban, kiểm tra của Quản đốc đối với nguời lao động. Trên một bình diện rộng
hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá
nhân nào trong xã hội trong bất cứ hoạt động nào.Theo nghĩa hẹp kiểm tra là hoạt động
của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem
có phù hợp hay không phù hợp trạng thái đã quy định trước. Chủ thể kiểm tra có thể áp
dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc
phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính. Khái niệm kiểm tra nằm trong
khái niệm thanh tra “ tổ chức thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền
trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch
của Nhà nước, Pháp lệnh thanh tra năm 1990 cũng quy định: “Thanh tra Bộ, Ủy ban
Nhà nước hướng dẫn, kiểm tra thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý
(Điều 14).
[23] - 9 -
Từ sự phân tích trên, ta có khái niệm kiểm tra thuế là hoạt động xem xét
tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của
cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế và công tác

thẩm định, trình tự, thủ tục chặt chẽ theo pháp luật (luật thanh tra).
[23]
1.2.1.2. Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế TKTN:
- Trong chính sách thuế, mỗi ĐTNT phải tự xác định số thuế mà họ phải nộp.
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm chắc chắn rằng tiền thuế được tính toán
đúng, phát hiện và ngăn ngừa những hành vi gian lận, trốn thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục
tiêu của cơ quan thuế là thu đủ các loại thuế qui định trong luật trên cơ sở khuyến
khích sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế và duy trì sự tin tưởng của công chúng
vào tính thống nhất của chính sách thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là việc kiểm tra sổ sách và các chứng từ của người
nộp thuế để xác định một cách chính xác số tiền thuế, tiền phạt phải nộp theo quy định
của pháp luật, bên cạnh đó cơ quan thuế phải cung cấp thông tin, tài liệu hướng dẫn và
tuyên truyền hướng dẫn người nộp thuế.
- Tự kê khai, tự nộp thuế chỉ có thể được duy trì thông qua việc kiểm tra hồ sơ
khai thuế của người nộp thuế một cách thận trọng và thường xuyên. Mục đích của
thanh tra, kiểm tra thuế là giám sát và duy trì sự vận hành chính sách tự khai, tự nộp
thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là một yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ tự
nguyện của người nộp thuế, sự liên hệ giữa người nộp thuế và công chức thuế trong
quá trình thanh tra thúc đẩy môi trường mà người nộp thuế nhận thấy cả người nộp
thuế và công chức thuế phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật thuế.
[20]

- 11 -
1.2.1.3. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế:
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát huy nhân tố tích cực, ngăn

điểm đúng đắn, có bản lĩnh vững vàng và phải có kiến thức, năng lực cao.
Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ và kịp thời:
Công khai trong hoạt động thanh tra, kiểm tra tức là phải được dân biết, dân
bàn, dần làm, dân kiểm tra để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc
công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như sau: công khai quyết định thanh tra, công
khai tiếp xúc với các đối tượng có liên quan và công khai kết luận thanh tra. Tuy nhiên,
tuỳ theo tính chất vụ việc mà có hình thức công khai cho phù hợp, trong phạm vi cho
phép, vừ đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của
Nhà nước và công dân, vừa đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra, thanh tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan,
tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Phải lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia
hoạt động thanh tra, kiểm tra, đấu tranh, ngăn ngừa, đẩy lùi tiêu cực, phát huy các nhân
tố tích cực. Đồng thời cũng chính nhân dân là lực lượng thúc đẩy các quyết định, kiến
nghị của thanh tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu
thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm
tra trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người khác.
Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong thanh tra, kiểm tra nhằm nhanh
chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước. Để đảm bảo
tính kịp thời trong thanh tra, kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ
việc thanh tra, kiểm tra, tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số
lượng và chất lượng của đội ngũ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra.
Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ bí mật: - 13 -
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế vì trong quá trình
thanh tra, kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên
quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật quốc gia. Nếu để lộ
cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và

- Kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế.
- Kiểm tra, thanh tra việc hoàn thuế, khấu trừ thuế.
- Kiểm tra, thanh tra miễn giảm thuế.
1.2.2.2 Thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế:
Thanh tra, kiểm tra nội bộ là một quá trình các công chức thanh tra kiểm tra lại
các công chức kiểm tra, kiểm soát, các công chức quản lý thu, công chức thuế trong
việc thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình. Công tác kiểm tra, thanh tra nội bộ do
Phòng kiểm tra nội bộ thuộc Cục thuế đảm trách. Các công chức kiểm tra nội bộ được
sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Cục thuế sẽ tiến hành kiểm tra các phòng thuộc Cục thuế
và các Chi cục thuế quận, huyện để xem xét việc thực hiện chức năng của từng bộ
phận, của công chức thuế có làm việc vô tư, công bằng, nghiêm minh đối với người
nộp thuế hay không? Có tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình của từng bộ phận công tác
không?. Nhằm đạt được mục đích: thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế hiện hành,
thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số thu vào NSNN, đảm bảo hoàn thành kế
hoạch thu Nhà nước giao, góp phần củng cố đội ngũ công chức ngành thuế, góp phần
chống tiêu cực trong nội bộ ngành thuế, đưa công tác chỉ đạo và quản lý thu thuế vào
nề nếp, tổ chức xây dựng ngành thuế ngày càng vững mạnh.
[24]
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao vai trò thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ
chế tự khai, tự nộp thuế:
Kiểm tra, thanh tra thuế là một phạm trù lịch sử gắn liền với sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước thực
hiện quản lý kinh tế - xã hội thông qua việc đề ra hệ thống luật lệ, các chính sách, chế
độ quản lý để điều chỉnh các quan hệ và cưỡng chế các pháp nhân, thể nhân trong xã - 15 -
hội phải tuân thủ. Trong điều kiện đó, kiểm tra, thanh tra là hết sức cần thiết để đảm
bảo pháp luật Nhà nước được thực thi nghiêm minh, quyền và lợi ích Nhà nước, của
công dân được đảm bảo.

[20]
1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ TỔ CHỨC
THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI:
Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy mô hình hiện đại hoá công tác
quản lý thuế bao gồm 4 thành phần chủ yếu: chiến lược, tổ chức nhân sự, quy trình tác
nghiệp và công nghệ.
Bốn thành phần này đều thống nhất và xuyên xuốt trong các chương trình cải
cách và hiện đại hóa cụ thể như: Chương trình cải cách thể chế, chương trình công
nghệ thông tin, chương trình hiện đại hoá công tác hỗ trợ đối tượng nộp thuế, chương
trình hiện đại hóa công tác thanh tra thuế, chương trình thu nợ và cưỡng chế thuế.
Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý thuế, các
quốc gia đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác thanh tra thuế.
Mục tiêu là hiện đại hóa dựa trên kỹ thuật phân tích quản lý các khả năng thất
thu về thuế (còn gọi là quản lý rủi ro) để đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức
hoạt động thanh tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác thanh tra thuế.
1.3.1. Kinh nghiệm thanh tra ở nước Anh:
Năm 1996 cơ quan thu nội địa Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế tự cơ khai, tự
nộp thuế (TKTN). TKTN tác động tới hơn 8 triệu đối tượng nộp thuế cá nhân, chủ yếu
là các đối tượng làm thuê và tự kinh doanh với các công việc rất phức tạp, 700.000 tổ
chức hợp danh và 300.000 quĩ tín thác.
Để cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý được thành công. Anh đã dành 2 năm
cho công tác chuẩn bị và tập dượt. Khi chuyển sang cơ chế tự khai thì việc khai, tính và
nộp thuế đơn giản hơn, giải quyết được các mặt tồn tại của cơ chế quản lý thuế cũ. - 17 -
TKTN là một thay đổi cơ bản trong việc quản lý thuế [5]. Một số nội dung thay đổi so
với cơ chế cũ:
1.3.1.1. Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm và nguồn lực để

- Đối với chế độ báo cáo: Định kỳ 6 tháng công chức thu thập tài liệu phân tích
thông tin và tổ kiểm tra đối tượng phải báo cáo bằng văn bản về tiến độ triển khai và
mức độ hoàn thành công việc được phân công cho trưởng bộ phận. Trên cơ sở nội dung
báo cáo trưởng bộ phận có nhận xét và ý kiến chỉ đạo tiếp theo.
[2]
1.3.2. Kinh nghiệm thanh tra ở nước Úc:
Một trong những mốc đáng ghi nhớ trong sự phát triển của hệ thống thuế
Ôxtrâylia (ATO) là việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế (TKTN),
theo đó, người nộp thuế chịu trách nhiệm tự xác định nghĩa vụ thuế của mình và được
khích lệ để tuân thủ tự giác.
Năm 1986-1987, cơ quan thuế ATO tiến hành các bước ban đầu để thực hiện cơ
chế TKTN. Trên thực tế, hệ thống thuế mới đã chứng minh được tính ưu việt của nó so
với hệ thống thuế trước đây. Tuy vẫn còn một số hạn chế về mặt pháp lý, song hệ
thống thuế theo TKTN của ATO cũng thể hiện một số kinh nghiệm trong quá trình
thanh tra người nộp thuế như sau:
1.3.2.1. Yêu cầu cần có của một thanh tra viên:
Một công chức thuế muốn trở thành một thanh tra viên yêu cầu kiến thức cần
phải có bắt buộc gồm:
- Sự am hiểu về Luật, bao gồm luật thuế, luật thương mại và các luật khác.
- Kiến thức sâu về lĩnh vực kế toán, nắm vững các nguyên tắc kế toán.
- Có phong cách giao tiếp với Người nộp thuế, với đồng nghiệp. [3]
1.3.2.2. Thực hiện thanh tra tại doanh nghiệp:
- Thẻ thanh tra thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế. Dưới quyền lực
của thẻ thanh tra là các thông báo của cơ quan thuế yêu cầu Người nộp thuế xuất trình
các tài liệu thông tin theo yêu cầu. Cơ quan thuế có thể gửi các thông báo đến ngân - 19 -
hàng để yêu cầu cung cấp thông tin như số Tài khoản, số tiền … và ngân hàng không
có quyền từ chối thông báo của cơ quan thuế.

(4). Thanh tra theo vụ việc – Thanh tra tại cơ sở đối với những người nộp thuế
bị tố cáo trốn lậu thuế hoặc do cơ quan thuế cấp trên chỉ định.
(5). Thanh tra chống tránh thuế - Thanh tra tại cơ sở chủ yếu tập trung vào các
trường hợp giá chuyển nhượng.
Hiện nay, trong số các loại hình thanh tra này, chống tránh thuế và thuế thu
nhập cá nhân là hai nội dung cơ quan thuế Trung Quốc tập trung nhiều nhất. Dưới đây
là một số đặc điểm của công tác thanh tra đối với hai nội dung này.
1.3.3.1. Thanh tra chống tránh thuế:
Thanh tra chống tránh thuế còn được gọi là thanh tra giá chuyển nhượng. Thông
thường, cơ quan thuế lựa chọn đối tượng thanh tra thông qua kiểm tra tại bàn các tài
liệu, hồ sơ khai thuế do người nộp thuế nộp. Nhìn chung, các doanh nghiệp có các đặc
điểm như sau sẽ được lựa chọn thanh tra: lợi nhuận thấp hoặc lỗ trong thời gian dài
nhưng vẫn tiếp tục mở rộng kinh doanh; mức lợi nhuân không ổn định; lợi nhuận giảm
mạnh sau khi kết thúc thời gian được hưởng miễn, giảm thuế; tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn
so với mức bình quân của ngành. Cơ quan thuế tại một số địa phương đã xây dựng cơ
sở dữ liệu riêng để hỗ trợ trong việc xác định các đối tượng thanh tra và thực hiện điều
chỉnh giá chuyển nhượng.
Trong những năm đầu thực hiện thanh tra giá chuyển nhượng, cơ quan thuế
Trung Quốc chỉ tập trung vào các giao dịch xuất nhập khẩu với các bên có liên quan tại
nước ngoài của ĐTNT. Khi các thanh tra viên trở nên thuần thục hơn, thanh tra gía
chuyển nhượng được mở rộng với các giao dịch từ tài sản vô hình đến hữu hình như xi-
lăng, tài chính và cung cấp dịch vụ; từ các giao dịch thương mại qua biên giới đến các
giao dịch diễn ra tại Trung Quốc và các giao dịch khác.
Một kết quả quan trọng trong thanh tra giá chuyển nhượng là đã tác động nhanh
chóng đến các cuộc thanh tra phối hợp mang tính quốc gia – tiến hành thanh tra đồng - 21 -
thời các công ty con tại Trung Quốc của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại nhiều
thành phố khác nhau do Tổng cục thuế điều hành. Trong quá trình thanh tra các vụ việc

liên quan đến việc kê khai thấp thu nhập từ quyền mua cổ phiếu nước ngoài (offshore
stock option).
Việc thanh tra thuế thu nhập cá nhân được thực hiện trên cơ sở thanh tra thuế
chung hoặc khi có sự tố giác. Trong một vụ việc truy thu thuế thành công, người tố
giác có thể được thưởng tới 100.000 NDT ( tương đương 12.000 USD) hoặc cao hơn
theo sự phê duyệt đặc biệt. Không phải tất cả những người tố giác đều bị hấp dẫn bởi
phần thưởng này. Một số người tố giác là người làm công do bất bình và muốn gây khó
dễ cho những chủ lao động cũ của mình. Nếu những người tố giác không thoã mãn với
quyết định của cơ quan thuế địa phương thì có thể báo cáo lên cơ quan thuế cấp cao
hơn hoặc Cục An ninh. Thông thường sự tham gia của Cục An ninh làm cho việc điều
tra phức tạp hơn. Trong trường hợp này, việc hợp tác trong việc cung cấp thông tin cho
Cục An ninh yêu cầu là rất quan trọng, nếu không hợp tác thì vấn đề này được nhìn
nhận như tội che dấu và thậm chí có thể bị phạt tù.
[1]
1.3.4. Một số kinh nghiệm rút ra từ công tác thanh tra, kiểm tra của nước
Anh, nước Úc và Trung Quốc:
Để có thể quản lý người nộp thuế có hiệu quả, cơ quan thuế Anh, cơ quan thuế
ATO và cơ quan thuế Trung Quốc đã chuyển sang cơ chế quản lý thuế nhằm nâng cao
dần tính tự giác nộp thuế của người nộp thuế thông qua cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Theo kinh nghiệm thanh tra của cơ quan thuế nước Anh và nước Úc thì để đạt
hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thu, điều
trước tiên đòi hỏi trình độ nhất định của công chức thanh tra thuế. Khi thanh tra phải có
kế hoạch cụ thể dựa trên kết quả phân tích thông tin người nộp thuế, nghiêm cấm công
chức thanh tra trực tiếp xuống ĐTNT để thu thập thông tin lập báo cáo kiểm tra.
Mặt khác, ngành thuế phải ban hành Luật quy định quyền cho thanh tra viên hay
quyền cho Người nộp thuế để có sự đồng thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế. - 23 -
Ban hành thẻ thanh tra viên thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế trong một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status