Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẶNG QUANG TRỰC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS CHU ĐỨC DŨNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
, số liệu sử dụng trong luận văn do Tổng cục Thuế, Cục thuế
tỉnh Phú Thọ, UBND tỉnh Phú Thọ, Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp
và do cá nhân tôi thu thập từ các báo cáo của UBND tỉnh, ngành thuế, Sở Tài
nguyên và Môi trường
.
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2014
Tác giả luận văn Đặng Quang Trực
Đặng Quang Trực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
D vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp của Luận văn 4
5. Kết cấu của luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN 5
1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2. Các thành tố cơ bản trong hệ thống quản lý thuế 8
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế 14
1.2. Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác
PHÚ THỌ 31
3.1. Giới thiệu chung về tỉnh Phú Thọ 31
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2. Tình hình Kinh tế - xã hội 31
3.2. Khái quát về Cục Thuế tỉnh Phú Thọ 33
3.2.1. Khái quát chung 33
3.2.2. Tình hình quản lý NNT và kết quả thu ngân sách trên địa bàn 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
3.2.3. Đặc điểm hoạt động khai thác khoáng sản của các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ 35
3.3. Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng
sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 38
3.3.1. Công tác quản lý thông tin NNT 38
3.3.2. Kết quả thu NSNN từ hoạt động khai thác khoáng sản 41
3.3.3. Công tác đăng ký, kê khai và kế toán thuế 44
3.3.4. Tình hình phân cấp quản lý NNT 48
3.3.5. Công tác thanh tra, kiểm tra NNT 49
3.3.6. Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 50
3.4. Thành tựu của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng
sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong 5 năm qua 52
3.4.1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế 52
3.4.2. Công tác tổ chức cán bộ 54
3.4.3.Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuế 57
3.4.4. Cơ sở vật chất kĩ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin trong công
tác quản lý thuế 58
4.2.1. Phương hướng 74
4.2.2. Một số giải pháp 75
4.3. Một số kiến nghị 79
4.3.1. Đối với HĐND và UBND tỉnh 79
4.3.2. Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii STT 1
CBCC
Cán bộ, công chức
2
CNTT
Công nghệ thông tin
3
CQT
4
UBND
Ủy ban nhân dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng NNT từ năm 2008 đến năm 2012 34
Bảng 3.2: Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến
năm 2012 35
Bảng 3.3: Số lượng các doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng
sản qua các năm 38
Bảng 3.4: Tổng thu NSNN từ hoạt động khai thác khoáng sản từ năm
2008 đến năm 2012 41
Bảng 3.5: Kết quả thu thuế tài nguyên từ năm 2008 đến năm 2012 42
Bảng 3.6: Kết quả thu Phí bảo vệ môi trường từ năm 2008 -2012 43
Bảng 3.7: Số thuế nợ của NNT khai thác khoáng sản từ năm 2008 - 2012 51
Bảng 3.8: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ năm của cán bộ Cục Thuế
năm 2012 và năm 2013 57
Bảng 3.9: Chất lượng tuyển dụng qua từng thời kỳ 58
hành chính thuế nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp
của người nộp thuế (NNT), tạo điều kiện cho NNT chấp hành tốt pháp luật
thuế; quy định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của cơ quan quản lý thuế trong việc phục vụ hỗ trợ NNT và giám sát quá trình
tuân thủ pháp luật thuế; quy định cụ thể trách nhiệm của một số cơ quan, tổ
chức trong việc tham gia công tác quản lý thuế từ đó đã nâng cao vai trò và
trách nhiệm pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào
công tác quản lý thuế.
Việc thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm
trước pháp luật với những quy định cụ thể về thủ tục hành chính thuế cũng
như việc xử lý vi phạm công minh đã tạo cho NNT có ý thức hơn trong việc
thực hiện trách nhiệm của mình và tuân thủ chính sách pháp luật thuế.
Trong những năm qua, Cục Thuế tỉnh Phú Thọ thường xuyên tuyên
truyền, vận động, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá
nhân thực hiện tốt nghĩa vụ của mình với Nhà nước; Luôn đẩy mạnh cải cách
hành chính theo nội dung Đề án 30/CP của Chính phủ nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tiễn và phù hợp với nội dung cải cách hành chính thuế theo hướng đơn
giản, minh bạch, rõ ràng, công khai, dân chủ; đảm bảo dễ hiểu, dễ làm, tăng
cường vai trò kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng xã hội, phát hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
và kiến nghị loại bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho NNT. Do đó trong các năm qua số thu ngân sách nhà nước
(NSNN) của tỉnh ngày càng tăng cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
ổn định đời sống của nhân dân.
Mặc dù hệ thống chính sách thuế của Việt Nam liên tục được sửa đổi,
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế
đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm
2008 đến năm 2012, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác
quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
- Phân tích các nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng; đánh giá thực
trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với
hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ, bao gồm:
- Quản lý thông tin về NNT;
- Kê khai và kế toán thuế;
- Công tác thanh tra, kiểm tra NNT;
- Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
- Phân tích số liệu thực tế qua các năm và dựa vào các số liệu được điều
tra, khảo sát trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác quản lý
thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản ở địa phương.
Về thời gian: 5 năm (Từ năm 2008 đến năm 2012 và một vài số liệu
liên quan trong năm 2013)
thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THU THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về Quản lý
Hiện nay còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Thuật ngữ
quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ
nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: Kinh tế học, hành chính học,
luật học, xã hội học… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp
với đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành.
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học, “Quản lý là điều
khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật
hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động
theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định
trước” [ 1, tr.258].
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản
lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết
phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [ 1, tr.258]
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng
tăng, ngoài việc huy động nguồn thu từ thuế, Nhà nước còn sử dụng một số
hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí, thu từ bán
dầu thô… Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của Nhà
nước trong chế độ xã hội có Nhà nước. Như vậy, thuế được sinh ra từ Nhà
nước, tồn tại dựa vào quyền lực Nhà nước và nhằm thỏa mãn phần lớn các nu
cầu chi tiêu của Nhà nước. Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế
đã trở thành hoạt động tất yếu của Nhà nước, luôn được Nhà nước và cả xã
hội quan tâm.
Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm như sau:
“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính
sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước
trong lĩnh vực thuế” [8, tr.18]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
“Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế, là việc định
ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc
thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi
trường luôn biến động” [ 11, tr.11]
Theo các quan niệm trên, khái niệm quản lý thuế được tiếp cận theo hai
phạm vi sau đây:
Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của Nhà nước
liên quan đến thuế. Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều
hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng
chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động
Hệ thống chính sách thuế đối với hoạt động này bao gồm: Thuế môn
bài, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với
hoạt động khai thác khoáng sản, tiền thuê đất v.v… Trong đó sắc thuế quan
trọng và thể hiện bản chất của hoạt động khai thác khoáng sản là thuế tài
nguyên và phí bảo vệ môi trường. Để hoạt động khai thác khoáng sản hợp lý,
hiệu quả, các sắc thuế này có tỷ lệ động viên vào NSNN ngày càng tăng.
Công tác quản lý của ngành thuế bao gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ
người nộp thuế, công tác kê khai kế toán thuế, công tác thanh tra kiểm tra
thuế, công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế, công tác tổ chức cán bộ.
Ngoài ra để quản lý tốt nguồn thu đối với hoạt động này, ngành thuế
còn phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành liên quan trong công
tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản.
1.1.2. Các thành tố cơ bản trong hệ thống quản lý thuế
1.1.2.1. Cơ chế quản lý thuế
Cơ chế quản lý thuế nói chung có thể hiểu là phương thức quản lý thuế
mà Nhà nước sử dụng để quản lý quá trình thu nộp thuế từ các đối tượng nộp
thuế cho NSNN. Có 2 loại cơ chế quản lý, đó là cơ chế cơ quan thuế tính thuế và
cơ chế NNT tự tính thuế hay còn gọi là cơ chế NNT tự kê khai, tự nộp thuế.
+ Cơ chế cơ quan thuế tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ thuế
phải kiểm tra tất cả các tờ khai thuế, các khoản phải thu dựa trên những số
liệu mà cơ quan thuế có được để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
thông báo thuế cho NNT thực hiện. Với cơ chế này, thể hiện sự không tin
tưởng hoặc ít tin tưởng của Nhà nước đối với NNT. Cách thức quản lý thuế
mang tính áp đặt, sử dụng quyền lực Nhà nước là chủ yếu để quản lý thuế đối
10
thuế là chức năng phục vụ và chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động tuân thủ
pháp luật thuế đối với NNT.
Hiện nay ở Việt Nam chủ yếu áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Trừ
trường hợp đặc biệt khi NNT không thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng
từ theo quy định, không tự giác kê khai thuế hoặc kê khai không đúng số thuế
phải nộp thì cơ quan thuế tính thuế cho NNT.
1.1.2.2. Mô hình tổ chức quản lý thuế
Mô hình tổ chức quản lý thuế là việc xác định cơ cấu tổ chức, bộ máy
quản lý thuế theo một nguyên tắc chủ đạo nhất định, đồng thời xác định số
lượng các bộ phận; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận trong cơ
cấu tổ chức đó; thực hiện phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý nhằm hình
thành bộ máy quản lý thuế một cách phù hợp đảm bảo tính thống nhất, đầy
đủ, có hiệu quả của các chức năng quản lý thuế.
+ Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế: Đây là mô hình trong đó bộ
máy quản lý thuế được tổ chức thành từng bộ phận riêng biệt để quản lý
một hoặc một số loại thuế cụ thể. Ví dụ: Phòng thuế thu nhập cá nhân,
Phòng thuế tiêu thụ đặc biệt, Phòng thu lệ phí trước bạ, Phòng quản lý các
khoản thu từ đất…
Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có ưu điểm là: Tạo điều kiện
chuyên sâu quản lý từng sắc thuế, hiểu rõ phương pháp quản lý sắc thuế một
cách có hiệu quả nhất, cho phép từng phòng tự phát triển các chương trình
chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu của từng sắc thuế. Công tác quản lý
thuế được điều chỉnh kịp thời khi chính sách thuế thay đổi, bổ sung hoặc thay
đổi quy trình quản lý.
Bên cạnh những ưu điểm trên mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có
những nhược điểm: Chi phí quản lý cao, hiệu suất quản lý thấp vì các chức
năng quản lý bị chồng chéo giữa các bộ phận. Mỗi bộ phận đều phải thực hiện
đầy đủ các chức năng quản lý trong khi có chức năng có thể chỉ do một
được chuyên môn hóa, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng, mô
hình này khuyến khích và phát huy sở trường năng lực chuyên môn của từng
cán bộ; tạo điều kiện cho NNT tăng cường tính tự giác chấp hành pháp luật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế; giảm thiểu hiện tượng tiêu cực,
tham nhũng trong quản lý thuế do có sự kiểm tra, giám sát giữa các bộ phận
trong cơ quan thuế.
Bên cạnh những ưu điểm, mô hình này có có một số nhược điểm như:
Chưa hoàn toàn thích ứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế và
tính tự giác của NNT còn thấp và trong cơ chế giao chỉ tiêu pháp lệnh thu
ngân sách.
Để áp dụng có hiệu quả mô hình này đòi hỏi bộ phận tuyên truyền và
hỗ trợ NNT phải hoạt động có hiệu quả, nhằm tuyên truyền, phổ biến chính
sách pháp luật thuế cho mọi người dân và NNT; đồng thời cơ quan thuế phải
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm xử lý kịp thời các trường hợp vi
phạm chính sách thuế.
+ Mô hình quản lý thuế có tính hỗn hợp:
Là mô hình quản lý thuế có sự kết hợp giữa các mô hình quản lý theo
đối tượng, quản lý thuế theo sắc thuế và quản lý thuế theo chức năng. Hiện
nay Việt Nam đang áp dụng mô hình quản lý thuế có tính hỗn hợp, chủ yếu là
quản lý thuế theo chức năng. Ở địa phương thực hiện quản lý thuế theo chức
năng có các bộ phận quản lý đó là: Tuyên truyễn hỗ trợ NNT, kê khai thuế,
quản lý nợ, thanh tra kiểm tra thuế. Ngoài ra còn có bộ phận quản lý thuế Thu
nhập cá nhân, bộ phận quản lý các khoản thu từ đất, thu lệ phí trước bạ (quản
lý theo sắc thuế)… Ở Tổng cục Thuế có Vụ Quản lý doanh nghiệp lớn (quản
nộp đủ thuế, đúng hạn nhưng không tự giác, chủ động chấp hành mà phải có
thông báo nộp thuế của cơ quan thuế. Biện pháp quản lý của cơ quan thuế là
tự quản lý có sự kiểm tra của cơ quan thuế. NNT có trách nhiệm tự sửa chữa
những vi phạm của họ nhưng cần phải có cơ chế để đảm bảo rằng họ sẽ tuân
thủ và cung cấp thông tin phản hồi để đảm bảo sự tuân thủ tốt.
+ Nhóm NNT miễn cưỡng tuân thủ: Trường hợp này NNT thường chấp
hành chính sách thuế khi được cơ quan thuế đôn đốc nhiều lần hoặc có biện
pháp cưỡng chế theo quy trình quản lý. Biện pháp quản lý áp dụng là cưỡng chế
có suy xét ở cấp độ mềm mỏng của quản lý mệnh lệnh đó là xem xét, phân tích
việc sử dụng các hình thức, biện pháp xử phạt để cải thiện sự tuân thủ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
+ Nhóm NNT từ chối tuân thủ: NNT tách ra khỏi sự quản lý của cơ
quan thuế. Biện pháp quản lý là cưỡng chế không suy xét khi áp dụng các
hình thức xử phạt vi phạm pháp luật thuế, biện pháp xử phạt sẽ được ấn định
nghiêm khắc khi sự không tuân thủ bị phát hiện ở bất kỳ hoàn cảnh nào.
Trên thực tế, trong quá trình quản lý, cơ quan thuế cần phải theo dõi sự
tuân thủ của NNT để có biện pháp quản lý phù hợp. Các biện pháp quản lý
được áp dụng linh hoạt, phụ thuộc vào mức độ sai phạm, điều kiện kinh
doanh thực tế của đơn vị, việc tuân thủ pháp luật của NNT.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
1.1.3.1. Nhân tố khách quan
+ Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế có vai trò quan trọng
đến hiệu quả của công tác quản lý thuế. Nếu hệ thống chính sách thuế đồng
bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường