Phân tích tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà đầu tư các nhân - Pdf 84

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
..........................................................
TRẦN NAM TRUNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI
ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
..........................................................
TRẦN NAM TRUNG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI
ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số :
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. EFA (EXPLORATORY FACTOR ANALYSIS): phân tích nhân tố khám phá
2. NĐT CN: nhà đầu tư cá nhân
3. TTCK : Thị trường chứng khoán
4. Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
5. TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky
Hình 3.1 : Biểu đồ thời gian tham gia TTCK của NĐT CN Tp.HCM

1.2.2 Tâm lý dựa vào kinh nghiệm: (Heuristics) ----------------------------------------------- 10
1.2.2.1 Tình huống điển hình: (Representativeness) ----------------------------------------- 10
1.2.2.2 Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction) ---------------------- 11
1.2.2.3 Bám vào những giá trị đã thiết lập: (Anchoring) ------------------------------------ 11
1.2.2.4 Hành vi bầy đàn: (Herb Behavior)----------------------------------------------------- 12
Kết luận chương 1 -------------------------------------------------------------------------------------- 13
CHƯƠNG 2 – SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ------------------------------------------------------ 14
2.1 Giai đoạn 2000 – 2005: --------------------------------------------------------------------------- 14
2.2 Giai đoạn 2006 – 2007: --------------------------------------------------------------------------- 18
2.3 Giai đoạn 2008 đến nay: -------------------------------------------------------------------------- 21
Kết luận chương 2 ------------------------------------------------------------------------------------- 25
CHƯƠNG 3 – KHẢO SÁT SỰ TÁC ĐỘNG CÁC NHÂN TỐ HÀNH VI ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN TTCK TP.HỒ CHÍ MINH -- 26
3.1 Mô hình khảo sát----------------------------------------------------------------------------------- 26
3.2 Quy trình khảo sát --------------------------------------------------------------------------------- 26
3.3 Kết quả khảo sát------------------------------------------------------------------------------------ 30
3.3.1 Phân tích mô tả ------------------------------------------------------------------------------- 30
3.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo ---------------------------------------------------------- 35
3.3.3 Phân tích nhân tố ----------------------------------------------------------------------------- 37
- 2 -
3.3.4 Hồi quy tuyết tính---------------------------------------------------------------------------- 42
3.3.5 Kiểm định mô hình -------------------------------------------------------------------------- 45
Kết luận chương 3 -------------------------------------------------------------------------------------- 46
CHƯƠNG 4 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ---------------------------------------------- 47
4.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu ---------------------------------------------------------------- 47
4.2 Đóng góp của nghiên cứu------------------------------------------------------------------------- 48
4.3 Kết luận---------------------------------------------------------------------------------------------- 49
4.4 Những khuyến nghị-------------------------------------------------------------------------------- 49
4.5 Đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo ------------------------------------------------------- 51

thiếu trong đầu tư chứng khoán và ngày càng được xem xét nhiều hơn khi các
phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật hầu như đã không còn phát huy
được vai trò của chính nó trong việc nhận định và dự đoán xu hướng của thị trường
(như trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 vừa qua).
- 4 -
Đề tài “Phân tích tác động của các nhân tố hành vi đến quyết định của nhà
đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh” được thực hiện
không ngoài mục đích trên và rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để vấn đề
nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hành vi
của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tổ chức tài chính và Nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thuộc đối tượng nghiên
cứu của công trình này.
Cơ sở lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
Trên 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán là tài khoản cá
nhân. Chính họ là nhân tố tạo nên sự nhộn nhịp, sôi động cho thị trường. Ở một số
thời điểm, đặc biệt như trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, hầu
như các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài nằm im, không giao dịch hoặc
giao dịch cầm chừng thì chính họ lại là nhân tố mang đến tính thanh khoản và quyết
định cho sự tăng giảm giá trên thị trường mặc dù lượng vốn của các tổ chức và nhà
đầu tư nước ngoài lớn hơn họ rất nhiều. Các quyết định của họ nếu xét trong từng
thời kỳ thì thường tỏ ra nhạy bén và bám sát xu hướng của thị trường hơn so với các
quyết định của các nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài.
Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật của các nhà đầu tư cá nhân là đầu tư theo phong
trào và phương thức đầu tư của phần đông trong số này là khi giá chứng khoán tăng
thì ào ào mua vào đẩy giá càng lên cao và lên nhanh nhưng khi giá chứng khoán
xuống thì lại “giẫm đạp lên nhau, ùa nhau bán tháo" để cắt lỗ đẩy giá chứng khoán
giảm sâu hơn.
Vì vậy, luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào nhóm các nhà đầu tư cá nhân, để tìm

định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
- 6 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tài chính học hành vi:
Trong thời kỳ cổ điển, kinh tế học đã có mối liên kết gần gũi với tâm lý học.
Chẳng hạn như Adam Smith viết cuốn “Lý thuyết về tình cảm luân lý” (The Theory
of Moral Sentiments), văn bản quan trọng mô tả những nguyên lý tâm lý học của
các hành vi cá nhân, xuất bản vào năm 1759, được viết ra với thể văn hào nhoáng,
chải chuốt, chứa đựng nhiều giai thoại, mang tính chất phân tích. Trong tác phẩm
này Adam Smith đã mô tả các nguyên tắc về "bản chất con người" và đặt vấn đề về
nguồn gốc của khả năng tạo ra các phán xét luân lý, kể cả các phán xét hành vi của
chính mình trong việc tư lợi và tự bảo tồn. Adam Smith cho rằng trong mỗi người
chúng ta có một "con người bên trong" (an inner man) đóng vai trò như một người
khách quan không thiên vị, thường chấp nhận hay lên án các hành động của chính ta
và của người khác. Qua tác phẩm này, Adam Smith đã đưa ra nhận xét quan trọng
mà sau này ông đã lặp lại trong tác phẩm “Tài sản của các quốc gia”: (The Wealth
of Nations): "con người tự tìm kiếm mình thường bị dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình
... mà không hay biết, không do chủ đích để làm gia tăng các lợi ích của xã hội…”
Trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, các nhà kinh tế học bắt đầu đặt mình bên
ngoài tâm lý học nhằm hướng tới những nghiên cứu kinh tế như một khoa học tự
nhiên, bắt đầu với những giải thích về hành vi kinh tế được suy ra từ các giả định về
tính tự nhiên của các thực thể (tác nhân) kinh tế. Khái niệm con người kinh tế đã
được đề xuất, tâm lý của con người được xem xét cơ bản dựa trên lý trí. Những đại
diện tiêu biểu trong thời kỳ này là: Francis Edgeworth, Vilfredo Pareto, Irving
Fisher và John Maynard Keynes.
Năm 1979, Daniel Kahneman, giáo sư khoa Tâm lý học tại ĐH Princeton, và
Amos Tversky đã trình bày “Lý thuyết kỳ vọng”, mô tả sự lựa chọn của con người
- 7 -

giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lại một giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so với sự
tăng lên trước đó trong giá trị tài sản đầu tư nhưng sẽ mang đến sự đau khổ và dằn
vặt nhiều hơn khi một giá trị tài sản bị sụt giảm do thua lỗ.
Hình 1.1 : Hàm giá trị của Kahneman và Tversky
Kahneman và Tversky cho rằng, hàm giá trị này có độ dốc hướng lên khi giá trị
tài sản dưới điểm tham chiếu và độ dốc hướng xuống khi giá trị tài sản ở trên điểm
tham chiếu. Điểm tham chiếu được quyết định bởi mỗi cá nhân như một điểm so
sánh, như để đo lường mức độ mục tiêu của giá trị tài sản. Khi giá trị tài sản nằm
dưới điểm tham chiếu (nhà đầu tư đang thua lỗ) thì họ sẽ là người sẵn sàng chấp
nhận rủi ro, tiếp tục tham gia cuộc chơi với hy vọng sẽ mau chóng lấy lại giá trị đầu
tư ban đầu. Ngược lại, khi giá trị tài sản nằm trên điểm tham chiếu, hàm giá trị có
chiều hướng lõm xuống, mô tả cho hành vi chống đỡ, ác cảm với những rủi ro trong
đầu tư khi nhanh chóng ra quyết định bán cổ phiếu để kiếm lời mà không phân tích
đến khả năng gia tăng thêm giá trị đầu tư để tăng thêm cơ hội thu được nhiều lợi
nhuận hơn.
Reference Point
Wealth
Utility
- 9 -
Tóm lại: hàm giá trị của Kahneman và Tversky là cơ sở quan trọng cho việc giải
thích một số hành vi tài chính của nhà đầu tư như: sự ghét lỗ và sự tiếc nuối.
1.2.1.1 Sự ghét lỗ: (Loss Aversion)
Qua thực nghiệm chỉ ra rằng những khoản lỗ thì nặng hơn gấp hai lần so với
khoản lãi. Lỗ 1$ thì đau khổ gấp hai lần so với lãi được 1$ (Kahneman và Tversky,
1991).
Sự ghét lỗ đề cập đến một sự thật là con người thường có xu hướng quá nhạy
cảm đối với sự sụt giảm tài sản của họ hơn sự gia tăng. Điều này được phản ánh bởi
hàm giá trị của của thuyết kỳ vọng rằng có một sự lệch lạc ở giá trị ban đầu. Sự ghét
lỗ có thể giúp chúng ta giải thích vì sao con người luôn có khuynh hướng cảm thấy
khổ sở, đau buồn khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán. Lỗ 1$ thì đau khổ

dẫn dắt con người đến chỗ lạc lối khi đi theo xu hướng chung của thị trường vì sự
quá tự tin về những việc mà họ đánh giá.
Sự quá tự tin cũng có thể bị vạch ra bởi “sự biểu hiện của tâm lý nhận thức” một
xu hướng cho con người để cố gắng phân loại các sự kiện theo loại hình hoặc cách
thức biểu hiện của cách phân loại được biết đến nhiều nhất. Trong thị trường chứng
khoán chẳng hạn, các nhà đầu tư phân loại theo nhóm các cổ phiếu có lịch sử tăng
trưởng về lợi nhuận nhưng lại bỏ qua sự hợp lý là có rất ít công ty giữ được tốc độ
tăng trưởng theo thời gian. Cho nên sự tự tin là một bộ phận cấu thành nên tâm lý
dựa vào kinh nghiệm và sẽ được mô tả cụ thể ở phần dưới đây cùng với tình huống
điển hình, hành vi tâm lý bầy đàn và tâm lý thích dựa vào những giá trị đã thiết lập
khi ra quyết định đầu tư.
1.2.2.1 Tình huống điển hình: (Representativeness):
Tình huống điển hình là sự đánh đồng hiệu quả kinh doanh và hiệu quả đầu tư
tài chính trong khi hai khái niệm này là hoàn toàn khác nhau. Hiệu quả kinh doanh
- 11 -
được đánh giá qua các chỉ số về doanh thu và lợi nhuận còn hiệu quả đầu tư tài
chính là chênh lệch giá.
Tình huống điển hình còn thể hiện ở sự ra quyết định dựa trên những kinh
nghiệm có được trong quá khứ mà bỏ sót nhiều sự kiện trong hiện tại, đánh giá sự
việc một cách riêng lẽ, không kết hợp thành hệ thống và tính đến mối liên hệ với
tổng thể.
1.2.2.2 Sự quá tự tin: (Overconfidence and Over & Underreaction)
Tâm lý chung của con người là thích thổi phồng, phóng đại tài năng của họ và
đánh giá thấp những kết quả tồi tệ có thể xảy ra mà họ không kiểm soát được. Sự
kết hợp của sự tự tin và lạc quan làm cho con người đánh giá quá cao kiến thức của
họ nhưng lại đánh giá thấp những rủi ro tiềm tàng và thổi phồng khả năng của họ về
việc kiểm soát được các sự việc, điều này dẫn đến khối lượng giao dịch quá mức và
thị trường bong bóng. Một người càng quá tự tin vào chính bản thân anh ta, thì
càng gặp nhiều rủi ro và sai lầm trong quyết định vì sự tự tin thường không tạo ra
mối quan hệ nào với kiến thức thực tế.

dừng lại và khi tăng số người đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80%
người đi đường phải ngẩng đầu quan sát theo. Vì sao lại như vậy? Vì người ta cho
rằng nếu có nhiều người cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải
có gì đó. Đó là lý do vì sao càng có đông người, đám đông càng dễ bị ảnh hưởng:
thêm một người là thêm một bằng chứng cho thấy có điều gì đó quan trọng đang
xảy ra. Họ tin tưởng rằng nếu càng có nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì
việc đó nhất định đúng. Bằng chứng này cho thấy tất cả mọi người dường như là
nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chước những gì người
khác đang làm.
Chừng nào lòng tham và sự sợ hãi còn ngự trị trong con người thì chừng ấy còn
tồn tại tâm lý đám đông. Nhưng khi đám đông hành động ngược lại với những điều
- 13 -
nhà đầu tư phân tích thì quyết định đúng đắn và khôn ngoan nhất là nhà đầu tư nên
rời bỏ khỏi đám đông đó. Thà từ bỏ một khoản lời tiềm năng còn hơn là mất một
khoản vốn trước mắt.
Nhưng ra quyết định chấp nhận bỏ lỡ một cơ hội kiếm tiền mười mươi là một
tâm lý vô cùng khó khăn. Một nghịch lý trong kinh doanh vẫn thường xảy ra: Bản
năng tự nhiên của con người và mong muốn được hòa nhập với đám đông lại là
những tình huống đưa các nhà đầu tư tài chính đến bờ vực phá sản.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tài chính học hành vi là một phân ngành kinh tế học, sử dụng các lý thuyết về
tâm lý hành vi để lý giải cho những bất thường xảy ra trên thị trường chứng khoán.
Thuyết kỳ vọng và tâm lý dựa vào kinh nghiệm là hai mảng chính của tài chính học
hành vi. Các nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực này là Daniel Kahneman va
Amos Tversky.
Mặc dù lý thuyết tài chính học hành vi không cung cấp cho các nhà đầu tư một
phương thức đầu tư kỳ diệu, nhưng lại có thể giúp cho họ cẩn trọng hơn đối với các
hành vi của mình và tránh được những suy nghĩ sai lầm khi đưa ra các quyết định
đầu tư tài chính.
- 14 -

Sự quan tâm này không hoàn toàn dựa trên nền tảng sự tăng trưởng của nền kinh tế
mà bắt nguồn từ suy nghĩ đơn thuần của những người lần đầu tham gia vào thị
trường chứng khoán rằng đây là nơi mà họ có thể thu được lợi nhuận kỳ vọng một
cách nhanh chóng, dễ dàng và đôi khi hơn cả sự mong đợi. Quan niệm “đầu tư
chứng khoán như chơi một canh bạc, may mắn thì thắng” và xem đây như là cách
nhanh nhất để trở nên giàu có, họ mua chứng khoán với mong muốn điều kỳ diệu ấy
sẽ xảy ra để họ nhanh chóng được đổi đời. Tâm lý này khiến cho nhu cầu mua
chứng khoán tăng cao trong khi lượng cung còn quá nhỏ và khan hiếm. Chính điều
này đã làm cho giá các loại cổ phiếu đang niêm yết trên sàn lúc bấy giờ tăng liên tục
trong nhiều tháng liền và vượt xa giá trị nội tại của nó.
Nhận thấy sự xuất hiện của “bong bóng tài chính” có thể sẽ là một trở ngại lớn
cho sự phát triển bền vững của thị trường, đồng thời cũng để nhằm hạn chế sự đầu
cơ quá mức trên thị trường, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra một loạt các
biện pháp mạnh tay như: giảm biên độ giao dịch, quy định khối lượng giao dịch tối
đa cho mỗi loại chứng khoán…Mặc dù những chính sách này xuất phát từ mục đích
bảo vệ nhà đầu tư nhưng nó lại có những tác động hết sức tiêu cực đến thị trường
chứng khoán, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư và làm cho giá cổ phiếu giảm
mạnh. Từ cuối năm 2001, tâm lý nhà đầu tư hầu như bị tổn thương nghiêm trọng và
dẫn đến tình trạng thị trường dần rơi vào trạng thái “đóng băng”.
Cảnh chợ chiều này đã làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên chậm
phát triển. Thống kê cho thấy, đến cuối năm 2003 toàn thị trường mới chỉ có 73 loại
chứng khoán (trong đó có 21 mã cổ phiếu được niêm yết, 02 loại trái phiếu của
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và 50 loại trái phiếu chính phủ) với tổng
mức vốn hóa chỉ khoảng 6.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 1.6% GDP. Chỉ số này thực
sự quá nhỏ bé so với mức 20% - 30% GDP của các nước trong khu vực và nếu xét
- 16 -
về cơ cấu thì thị trường cổ phiếu hầu như bị lấn át bởi giao dịch của thị trường trái
phiếu.
Sự ảm đạm của thị trường còn được thể hiện ngay trong quy mô giao dịch, vì
trong khoảng thời gian kể từ khi thị trường được thành lập đến tháng 05/2003, khối

chứng khoán là 20.300 tài khoản. Điểm nổi bật là bên cạnh việc đầu tư cổ phiếu,
nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển mạnh sang giao dịch trái phiếu (chiếm 48% tổng
giá trị giao dịch của những đối tượng này). Tính thanh khoản của thị trường cũng
được nâng lên. Khối lượng giao dịch tăng mạnh trong năm 2004 với tổng giá trị gần
20.000 tỷ đồng (bình quân 80 tỷ đồng/phiên), tăng 6,6 lần so với 2003. Các nhà đầu
tư có tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với giao dịch chứng khoán trên thị trường
tập trung: tuy chỉ chiếm trên 1% về số lượng nhưng các nhà đầu tư có tổ chức lại
chiếm gần 39% tổng giá trị giao dịch của năm 2004.
Bước sang năm 2005, hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự
khởi sắc hơn so với những năm trước đó, quy mô thị trường được mở rộng, lòng tin
của nhà đầu tư đối với thị trường được nâng lên, do tình hình sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp niêm yết có sự tăng trưởng cao cả về vốn, doanh thu và lợi
nhuận.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp lớn, tổ
chức đấu giá công khai qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán nhiều doanh nghiệp
lớn của ngành điện lực như Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thủy điện
Thác Bà, Nhiệt điện Phả Lại, Điện lực Khánh Hòa... Các doanh nghiệp này đã làm
gia tăng đáng kể lượng hàng hóa cho thị trường chứng khoán.
Năm 2005 cũng là năm có nhiều thay đổi trong chính sách liên quan đến thị
trường chứng khoán theo hướng ngày càng hoàn thiện, nhất là đối với nhà đầu tư
nước ngoài. Cụ thể là đã nới lỏng tỷ lệ sở hữu từ 30% lên 49% đối với các nhà đầu
tư nước ngoài, cho phép các tập đoàn bảo hiểm như Prudential, Manulife và một số
tổ chức liên doanh thành lập công ty quản lý quỹ ở Việt Nam, cấp phép lưu ký cho
Tập đoàn CitiGroup, cho phép chuyển các xí nghiệp liên doanh thành công ty cổ
- 18 -
phần và một số doanh nghiệp này đang hoàn tất hồ sơ niêm yết trên Trung tâm giao
dịch chứng khoán.
Tóm lại: trong giai đoạn này, sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu được thể hiện ở những đặc điểm sau:
 Thị trường chứng khoán lúc này chưa chứng tỏ được vai trò của nó là kênh

bàn luận về chứng khoán, về cổ phiếu này cổ phiếu nọ. Ở Việt Nam, chưa bao giờ
đề tài về chứng khoán lại trở nên sôi động đến như vậy. Nó thật sự đã đi vào đời
sống thường nhật của người dân và cũng là câu chuyện, một đề tài nóng bỏng để họ
bàn bạc, trao đổi nhau mỗi khi gặp mặt.
Vào thời điểm này người ta tranh nhau mua chứng khoán với cùng suy nghĩ là
“mua là thắng, ai giữ cổ phiếu là tiên và là con đường để đổi đời nhanh chóng nhất”.
Với quan điểm đó, họ đã chen chúc, xô đẩy, tranh giành nhau để mong lệnh của
mình vào sàn sớm nhất để có cơ hội mua được cổ phiếu. Chưa bao giờ và chưa từng
có tiền lệ, cơn khát chứng khoán được đẩy lên cao trào đến như vậy. Lúc này, người
ta tranh nhau mua mà chẳng hề quan tâm đến việc công ty phát hành thêm cổ phiếu
để làm gì? Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty như thế nào? Họ chỉ thích
những công ty chia cổ tức bằng cổ phiếu vì việc nắm giữ thật nhiều cổ phiếu sẽ
khiến họ trở nên giàu có một cách nhanh chóng hơn.
Khi tất cả mọi người điều cùng chung một suy nghĩ thì sự thăng hoa nhanh
chóng của VN-Index cũng chẳng có gì là xa lạ. Cộng thêm vào đó là hàng loạt sự
kiện trọng đại của đất nước trong cùng giai đoạn này đã làm cho tâm lý của nhà đầu
tư càng trở nên phấn khích một cách cao độ hơn bao giờ hết như sự kiện ngày
07/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) và chỉ vài ngày sau đó, ngày 19/11/2006, Việt Nam tổ chức
thành công hội nghị APEC lần thứ 14 đã đem đến cho nhà đầu tư một kỳ vọng cao
hơn và tốt đẹp hơn về sự phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng cao trào hơn hết là
ngày 20/11/2006, Tổng thống Mỹ G.W.BUSH đến thăm Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh, gặp gỡ các nhà lãnh đạo hàng đầu tại Việt Nam
- 20 -
khiến thị trường như bùng nổ sự hưng phấn. Giá trị khớp lệnh của sàn Tp.Hồ Chí
Minh lập tức lần đầu tiên vượt ngưỡng 21 triệu USD/ngày ngay sau khi Tổng thống
Bush gõ chiêng mở cửa phiên giao dịch của thị trường.
Năm 2006, chỉ số VN-Index kết thúc ở mức 750 điểm và Việt Nam trở thành
quốc gia có tốc độ tăng trưởng thị trường chứng khoán nhanh nhất thế giới với mức
148%/năm. Cũng chính trong năm này, khi nhiều tỷ phú của Mỹ đến Việt Nam gặp

chế tài chính trung gian tiếp tục gia tăng về số lượng khi toàn thị trường lúc này đã
có 74 công ty chứng khoán và 24 công ty quản lý quỹ. Cùng với sự gia tăng của chỉ
số VN-Index thì các công ty trên sàn cũng đã thành công lớn trong việc huy động
vốn thông qua thị trường chứng khoán. Theo số liệu thống kê của Ủy Ban Chứng
khoán Nhà nước thì tổng lượng vốn huy động thông qua thị trường chứng khoán
trong năm 2007 là hơn 63.000 tỷ đồng.
Tóm lại: giai đoạn 2006 – 2007 là giai đoạn đánh dấu sự bùng nổ tăng trưởng và
phát triển mạnh mẽ nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ khi hình thành
cho đến nay.
2.3. Giai đoạn 2008 – đến nay:
Ngày 10/10/2007, VN-Index đạt mức 1.104 điểm. Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng thị
trường chứng khoán Việt Nam có thể tái lập ngưỡng 1.170 được xác lập vào ngày
12/03/2007. Nhưng không ai ngờ rằng, phía trước chỗ họ đang đứng lại là một vực
sâu. Sau hai tuần giằng co ở mức 1.100 điểm, thị trường chứng khoán Việt Nam bắt
đầu trượt dốc từ ngày 25/10/2007 và liên tục xuyên thủng các ngưỡng hỗ trợ để lập
ra những đáy mới của thị trường, lúc này chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam
đã thay đổi 180
O
với những thành tựu đã tạo lập nên của một năm trước đó và đến
ngày 24/02/2009, chỉ số VN-Index xuống mốc 234 điểm. Đây là mức điểm thấp
nhất của chỉ số này trong gần 48 tháng kể từ ngày 01/03/2005. Lúc này, các nhà đầu
tư cảm thấy hụt hẫng và bàng hoàng trước sự sụt giảm quá nhanh và quá mạnh của
thị trường.

Trích đoạn Giai đoạn 2008 đến nay: Quy trình khảo sát Phân tích nhân tố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status