Quá trình hợp tác hóa nông nghiệp ở thái nguyên (từ 1958 đến 1990) - Pdf 84

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

--0
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LÊ VIỆT HÀ QUÁ TRÌNH HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP
Ở THÁI NGUYÊN (TỪ 1958 ĐẾN 1990)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


Tác giả
Lê Việt Hà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC KHI TIẾN
HÀNH HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP
7
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội của Thái Nguyên
7
1.2. Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp ở Thái Nguyên
giai đoạn trƣớc khi tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp
15
CHƢƠNG 2. HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN THỜI
KÌ THỰC HIỆN CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG
(1958 - 1980)
24
2.1. Lí luận chung và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp

Phụ lục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hợp tác hóa trong nông nghiệp là một thực thể lịch sử, là sự ra đời của
một chủ thể kinh tế ở nông thôn nƣớc ta trong thời gian dài, có tác dụng lớn
đến sự phát triển kinh tế, văn hóa ở nông thôn nói riêng và đến toàn bộ nền
kinh tế xã hội nƣớc ta nói chung
Phong trào hợp tác hóa, xây dựng HTX sản xuất nông nghiệp đƣợc
thực hiện trong công cuộc cải tạo XHCN từ cuối những năm 50 thế kỉ XX, có
ảnh hƣởng to lớn đến việc phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cao trình độ
thâm canh, tích tụ và tập trung hoá sản xuất, khắc phục tình trạng lạc hậu
nặng nề về kĩ thuật, sản xuất phân tán, manh mún, tự cấp tự túc; tạo điều kiện
phát triển sản xuất đi lên con đƣờng XHCN. Tổ chức kinh tế tập thể còn có
vai trò to lớn trong việc cải thiện đời sống văn hoá - xã hội, cải biến nông
thôn, có vai trò quan trọng bảo đảm sản xuất, đồng thời cung cấp sức ngƣời,
sức của cho tiền tuyến trong thời kì đất nƣớc có chiến tranh. Nhƣng trong quá
trình thực hiện, do tƣ tƣởng chủ quan, nôn nóng, muốn cải biến quan hệ sản
xuất, đẩy nhanh quá trình xã hội hoá và sản xuất chuyên môn hoá, hiện đại
hoá mà coi nhẹ vai trò của yếu tố lực lƣợng sản xuất; đồng thời, do sự hạn chế
về kiến thức và khả năng tổ chức, quản lí..., cho nên hợp tác hóa sản xuất
nông nghiệp có nhiều nhƣợc điểm thể hiện ở: sức sản xuất xã hội; hiệu quả
kinh tế; nhịp độ phát triển sản xuất giảm dần..., số đông HTX không còn
chứng minh đƣợc tính ƣu việt của phƣơng thức sản xuất mới.
Đánh giá một vấn đề rộng lớn, quan trọng nhƣ vậy là một vấn đề phức


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Hợp tác hóa nông nghiệp là một vấn đề không chỉ đƣợc các đồng chí
lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc, mà còn đƣợc cả những nhà nghiên cứu cũng
rất quan tâm dƣới nhiều hình thức, góc độ khác nhau. Đặc biệt, từ khi thực
hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc theo chủ trƣơng của Đảng, với cách tƣ duy
mới, việc đánh giá quá trình hợp tác hóa đối với sự phát triển kinh tế cả nƣớc
nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, càng đƣợc nghiên cứu sâu hơn
nhằm tìm ra những kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện kinh tế hợp tác trong
thời kì đổi mới.
Trong tác phẩm “Nội dung cơ bản của cách mạng XHCN ở Việt Nam”
của đồng chí Lê Duẩn, Nxb Sự thật Hà Nội, xuất bản năm 1986, đã đề cập tới
những nội dung cơ bản của cách mạng XHCN ở Việt Nam và đƣợc trình bày
tại đại hội lần thứ IV của Đảng trong đó có các về vấn đề: Hợp tác hóa nông
nghiệp, đẩy mạnh cách mạng khoa học kĩ thuật, xây dựng đào tạo con ngƣời
mới, kinh tế địa phƣơng vv....; Tác giả Phạm Nhƣ Cƣơng trong cuốn “Một số
vấn đề kinh tế của hợp tác hóa nông nghiệp ở Việt Nam” Nxb Khoa học xã
hội, 1991, có đề cập đến Lịch sử hợp tác hóa ở nƣớc ta sau cách mạng tháng
tám (1945), bản chất và những khuyết điểm của nó cùng những đề nghị về
điều chỉnh quá trình hợp tác hóa trong thời gian tới; Chử Văn Lâm, Nguyễn
Thái Nguyên, Phùng Hữu Phú trong cuốn “Hợp tác hóa nông nghiệp Việt
Nam: Lịch sử, vấn đề, triển vọng” Nxb Sự thật, 1992, đã đề cập tới Lịch sử
phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong suốt 30 năm 1958-1980. Những
thành tựu và thiếu sót của phong trào này. Những nét mới trong phong trào
hợp tác hóa hiện nay: Vấn đề và mâu thuẫn; một số kinh nghiệm của nƣớc
ngoài; định hƣớng và giải pháp của kinh tế hợp tác ở nông thôn.
Về quá trình hợp tác hóa nông nghiệp Thái Nguyên đã có những tài liệu
đề cập đến nhƣ Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 4,5,6..., các văn kiện

- Nghiên cứu, hệ thống lại quá trình hình thành và phát triển phong trào
hợp tác hóa nông nghiệp ở Thái Nguyên.
- Từ thực tiễn phong trào, trong quá trình thực hiện kinh tế HTX nông
nghiệp, thông qua cách thức tiến hành, tổ chức, qui mô HTX,... của tỉnh trong
việc quản lí hoạt động sản xuất, dƣới hình thức tập thể hóa TLSX. Đề tài rút
ra những mặt thành công và hạn chế của phong trào hợp tác hóa của tỉnh
trong tổng thể tình hình chung của cả nƣớc giai đoạn 1958 - 1990.
4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tƣ liệu sau:
- Các tác phẩm kinh điển của Mác - Ăng ghen, Lênin bàn về vấn đề
hợp tác hóa.
- Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, tƣ và các nghị quyết,
chỉ thị của Đảng và Nhà nƣớc về vấn đề hợp tác hóa.
- Văn kiện, nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Thái Nguyên trong thời kì 1954 -1990, trong đó chủ yếu là thời kì 1958 - 1990.
Những tác phẩm, bài viết của các lãnh tụ về lịch sử kinh tế xã hội trong
đó có chủ trƣơng hợp tác hóa của Đảng, lịch sử Đảng bộ tỉnh và nhiều tài liệu
khác viết về vấn đề hợp tác hóa của Thái Nguyên nói riêng.
Tƣ liệu đƣợc khai thác chủ yếu ở Kho lƣu trữ Văn phòng Tỉnh uỷ, Lƣu
trữ Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thƣ viện tỉnh, Phòng Lịch sử - Ban Tuyên giáo
Tỉnh uỷ, Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và nhiều tài
liệu, văn bản sƣu tầm của cá nhân…. Đó là cơ sở, cứ liệu chủ yếu trong
nghiên cứu đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Thực hiện đề tài, chúng tôi còn khai thác tƣ liệu từ nhân chứng, từ điều
tra thực địa để đảm bảo tính chính xác và phong phú hơn cho nội dung đề tài
nghiên cứu.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

12
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC KHI TIẾN HÀNH
HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP

1.1. VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA
TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng trung du Đông Bắc , có
diệ n tí ch đấ t tƣ̣ nhiên là 3.541,1 km
2
, chiế m 1,13% diệ n tí ch cả nƣớ c. Phía bắc
giáp tỉnh Bắc K ạn, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc , Tuyên Quang , phía đông
giáp tỉnh Lạng Sơn , Bắ c Giang, phía nam giáp thủ đô Hà Nội .
Địa hình tỉnh Thái Nguyên rất phong phú và đa dạng , Thái Nguyên có
nhiề u dã y nú i cao chạ y theo hƣớ ng Bắc - Nam, thấp dần xuống phía Nam và
chấ m dƣ́ t ở Đè o Khế . Cấ u trú c vù ng nú i phí a Bắ c chủ yế u là đá phong hoá
mạnh (castơ) tạo thành nhiều hang động , thung lũ ng nhỏ . Phía Tây Nam có
dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590 m, các vách nú i dƣ̣ ng đƣ́ ng và ké o dà i
theo hƣớ ng tây bắ c - đông nam. Ngoài hai dãy núi kể trên , tỉnh còn có dãy
Ngân Sơn (bắ t đầ u tƣ̀ Bắ c Kạ n chạ y theo hƣớ ng Đông bắ c - Tây nam đế n
huyệ n Võ Nhai ) và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hƣớng Tây bắc - Đông nam.
Là tỉnh trung du , miề n nú i, nhƣng đị a hì nh tỉ nh Thá i Nguyên không phƣ́ c tạ p
lắ m nế u so vớ i cá c tỉ nh trung du , miề n nú i khá c trong vù ng . Đây là điề u kiệ n
thuậ n lợ i cho tỉ nh trong quá trì nh phá t triể n sả n xuấ t nông - lâm nghiệ p nó i
riêng và phá t triể n kinh tế - xã hội nói chung.
Khí hậu của Thái Nguyên chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Lƣợ ng
mƣa trung bình khoả ng 2.000 mm/năm, cao nhấ t và o thá ng 8 (400 mm) và
thấ p nhấ t và o thá ng 1 (dƣớ i 50 mm). Do đị a hình thấ p dầ n tƣ̀ vù ng nú i cao
xuố ng vù ng nú i thấ p , trung du, đồ ng bằ ng theo hƣớ ng Bắ c - Nam, nên khí hậ u

thích hợp cho việc phát triển cây lƣơng thực, thực phẩm, cây công nghiệp và
chăn nuôi đại gia súc.
Đất núi : chiế m 48,4% diệ n tí ch tƣ̣ nhiên, nằ m ở độ cao trên 200m so
vớ i mƣ̣ c nƣớ c biể n , thích hợp cho phát triển lâm nghiệp , trồ ng rƣ̀ ng đầ u
nguồ n, rƣ̀ ng phò ng hộ , rƣ̀ ng kinh doanh và trồ ng cá c cây đặ c sả n, cây ăn quả ,
cây lƣơng thƣ̣ c phụ c vụ nhân dân vù ng cao .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Đất đồi: Chiế m 31,4% diệ n tí ch tƣ̣ nhiên , chủ yếu hình thành trên cát
kế t, bộ t kế t, phiế n sé t và mộ t phầ n phù sa cổ . Đất đồi tại một số vùng nhƣ :
Đạ i Tƣ̀ , Phú Lƣơng,... nằ m ở độ cao 150 - 200 m, độ dố c 5 - 200, phù hợp cho
sƣ̣ sinh trƣở ng củ a cây công nghiệ p và cây ăn quả lâu năm .
Đất ruộng: Chiế m 12,4% diệ n tí ch tƣ̣ nhiên , đây là loạ i đấ t có sƣ̣ phân
hoá phức tạp . Mộ t phầ n phân bố dọ c theo cá c con suố i , rải rác không tập
trung, chịu tác động lớn của chế độ thuỷ văn khắc nghiệt (lũ đột ngột , hạn
hán,...), khó khăn cho việc canh tác.
Với đặc điểm địa hình tự nhiên nhƣ vậy, tỉnh Thái Nguyên có tiềm
năng đất đai rất đa dạng kể cả đất nông nghiệp, đất công nghiệp, đất rừng và
tài nguyên khoáng sản.
1.1.1. Địa l‎í hành chính
Thái Nguyên là điểm tiếp giáp, là cầu nối giữa đồng bằng châu thổ
sông Hồng với các tỉnh miền núi phía Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn). Tỉnh có ba
quốc lộ: Quốc lộ số 3 chạy dọc theo chiều dài tỉnh từ phía nam (cầu Đa Phúc,
huyện Phổ Yên) lên phía bắc (cầu ổ Gà, huyện Phú Lƣơng), qua tỉnh Bắc Kạn
lên Cao Bằng. Quốc lộ 1B từ cầu Gia Bẩy (điểm nối thành Phố Thái Nguyên
và huyện Đồng Hỷ) qua hai huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai lên tỉnh Lạng Sơn.
Quốc lộ 19 chạy từ Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang Thái Nguyên. Ngoài ra, tỉnh
Thái Nguyên còn có hai tuyến đƣờng sắt: Hà Nội - Quan Triều - Núi Hồng và
Lƣu Xá (Thái Nguyên) - Kép (Bắc Giang) - Uông Bí (Quảng Ninh), cùng
nhiều tuyến giao thông nội tỉnh, liên tỉnh thuận tiện. Đó là đƣờng 13A từ Bờ

Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Thái lại chia tách thành hai tỉnh Thái Nguyên
và Bắ c Kạ n. Tỉnh Thái Nguyên ngày nay gồm thành phố Thái Nguyên , thị xã
Sông Công và 7 huyệ n Phú Bì nh , Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lƣơng ,
Đạ i Tƣ̀ và Định Hoá .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
1.1.3. Tình hình văn hóa, xã hội
Dƣới thời Pháp thuộc, Thái Nguyên có dân số khoảng 100.000 ngƣời;
mật độ dân số 29 ngƣời/km2 [61, 4]. Ngƣời dân bản địa ở Thái Nguyên so với
những tỉnh khác không nhiều, song qua các thời kì lịch sử, thành phần dân tộc
và dân số đã tăng nhanh. Tính đến năm 1936, tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận
trên 6 ngàn đồng bào từ các tỉnh miền xuôi đến lập nghiệp. Đồng bào nhập cƣ
đến Thái Nguyên tăng nhanh trong những năm sau này, nhất là trong thời kì
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Ngày nay, dân số Thá i Nguyên có gầ n 1,1 triệ u dân, gồ m 8 dân tộc chủ
yếu là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa và một số ít
các dân tộc khác nhƣng chiếm tỉ lệ không lớn. Mậ t độ dân số khoả ng 260
ngƣờ i/ km
2
, cao nhấ t trong cá c tỉ nh miề n nú i phía bắ c . Tuy nhiên , dân cƣ
phân bố không đề u, vùng cao và vùng núi dân cƣ rất thƣa thớt , trong khi đó ở
vùng thành thị , đồ ng bằ ng dân cƣ rấ t dà y đặ c . Nơi có mậ t độ dân cƣ cao nhấ t
là thành phố Thái Nguyên (1.300 ngƣờ i/km
2
), nơi có mậ t độ dân cƣ thấ p nhấ t
là huyện Võ Nhai (khoảng 80 ngƣờ i/km
2
). [63,44]
Ở Thái Nguyên, dân tộc Kinh chiếm 75,5% dân số. Đây là dân tộc
mang nguồn gốc bản địa, chiếm số lƣợng đông nhất. Dân tộc Kinh gồm nhiều

năng canh tác của họ đa dạng, phong phú với các loại rau đậu, các loại cây
lƣơng thực… song vì cuộc sống của họ không ổn định, cho nên gặp nhiều khó
khăn. Tuy nhiên, thông qua việc thực hiện những chính sách phát triển kinh
tế, xã hội của Đảng, hiện nay trình độ dân trí và đời sống của ngƣời Dao đã
đƣợc nâng cao hơn nhiều so với trƣớc.
Mặc dù mỗi thành phần dân tộc ở Thái Nguyên đều có những đặc điểm
riêng về ngôn ngữ, trình độ sản xuất, bản sắc văn hoá, song tất cả đều có
những nét tƣơng đồng, hoà nhập trong một thể thống nhất và chung sống trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
cùng một lãnh thổ. Mỗi dân tộc tuy có nguồn gốc và quá trình phát triển riêng,
có dân tộc cƣ trú lâu đời, có dân tộc mới từ các tỉnh chuyển đến sinh cơ lập
nghiệp vài ba đời, các dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên đều có sự nỗ lực rất lớn
vun đắp nên truyền thống đoàn kết dân tộc. Xuất phát từ truyền thống đó mà
hình thành nên một đặc trƣng nổi bật về mặt phân bố dân tộc ở Thái Nguyên
đƣợc đều khắp từ các huyện miền núi phía Bắc, những vùng xa xôi hẻo lánh
đến các huyện phía Nam, không có sự biệt lập về mặt địa vực theo dân tộc.
Mức độ xen kẽ giữa các dân tộc ngày một đồng đều hơn. Đặc biệt từ sau cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mức độ cƣ trú xen kẽ giữa các dân
tộc ngày càng sâu sắc. Hiện nay ở các huyện, xã đều gồm nhiều dân tộc khác
nhau cƣ trú, sự hội tụ đó làm cho nền văn hoá Thái Nguyên trở nên phong phú
đa sắc tộc.
Tất nhiên, giao lƣu văn hóa là hiện tƣợng mang tính phổ biến và quen
thuộc trong các dân tộc ở nhiều quốc gia đa dân tộc. Song trên mảnh đất Thái
Nguyên, sự giao lƣu diễn ra không phải lẻ tẻ và rời rạc, mà là một sự tiếp thu
bồi đắp lâu dài, có hệ thống, tạo nên những chuyển biến cơ bản trong việc
hình thành và phát triển một truyền thống văn hóa phong phú và đặc sắc.
Có thể khẳng định, Thái Nguyên là một vùng văn hóa lâu đời, giàu
truyền thống, nhất là truyền thống đấu tranh cách mạng. Là trung tâm của
vùng chiến lƣợc phía bắc sông Hồng, sông núi hiểm trở, nên trong lịch sử

vùng hạ du, từ nông thôn đến thành thị mặc dù liên tục bị kẻ thù khủng bố,
đàn áp dã man, bị o ép, khống chế trong các trại tập trung, nhƣng vẫn một
lòng đi theo bảo vệ cách mạng, chống lại kẻ thù, san sẻ cho Cứu quốc quân
từng ngọn rau, bát cháo, đồ dùng sinh hoạt… Tinh thần yêu nƣớc của nhân dân đã
hun đúc vào truyền thống kiên cƣờng, bất khuất của quê hƣơng Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Cách mạng tháng Tám thành công, từ sau năm 1945 trở đi, trong quá
trình cùng nhau xây dựng chính quyền mới và phát triển kinh tế, văn hóa - xã
hội, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, tập thể đƣợc nhân lên gấp bội khi các
dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay và các dân tộc khác sát cánh bên
nhau thực hiện các chính sách mới của Đảng và Chính phủ trên con đƣờng đi
lên CNXH mà bƣớc đầu là đi vào làm ăn tập thể trong sản xuất nông nghiệp.
1.2. QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG NÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN TRƢỚC KHI TIẾN HÀNH HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP
1.2.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp trƣớc năm 1958
Trƣớc năm 1945, ở Thái Nguyên hơn 90% dân số là nông dân. Phần
lớn ruộng đất của Thái Nguyên nằm trong tay các điền chủ ngƣời Pháp và địa
chủ ngƣời Việt, đa số nông dân Thái Nguyên không có ruộng cày phải lĩnh
canh, nộp tô cho địa chủ, hoặc vào làm tá điền trong các đồn điền chịu sự bóc
lột nặng nề của các chủ đất. Lối canh tác của nông dân lúc bấy giờ rất thô sơ,
không hộ nông dân nào có máy kéo, phân bón hóa học và các công cụ cải tiến
khác chƣa đƣợc sử dụng trong nông nghiệp. Vì vậy, năng suất và sản lƣợng
cây trồng rất thấp.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đã mở ra trang sử mới
cho nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Đƣợc sống trong tự do, đƣợc
hƣởng một số quyền lợi bƣớc đầu về kinh tế và chính trị do chính quyền cách
mạng mới đem lại, do đó, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt là
nông dân tuyệt đối tin tƣởng vào Đảng và đi theo đƣờng lối cách mạng của
đảng, xây dựng CNXH. Đây chính là điều kiện thuận lợi để Đảng và Nhà

phá đập Vạn Già (Phú Bình), một công trình thuỷ nông quan trọng của tỉnh
Thái Nguyên. Tiếp đó, tháng 6/1952, chúng lại huy động máy bay ném bom,
đánh phá đập Thác Huống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Mặt khác, sức sản xuất của ngƣời nông dân vẫn bị kìm hãm, mặc dù
thông qua các đợt thực hiện chính sách giảm tô (9/1949), chính sách ruộng đất
1951, 1952 tính đến năm 1953, giai cấp địa chủ ở Thái Nguyên còn chiếm
hữu khoảng 16.572 mẫu ruộng trên tổng số 82.834 mẫu; 3701 trên tổng số
28.800 con trâu bò toàn tỉnh. Tỷ lệ chiếm hữu tuy không lớn nhƣng tính bình
quân nhân khẩu thì lại rất cao. Riêng diện tích ruộng bình quân nhân khẩu giai
cấp địa chủ chiếm từ 2,3 mẫu đến 2,7 mẫu, trong khi thành phần cố nông và
bần nông chỉ có từ 0,7 sào đến 1,2 sào Bắc bộ một đầu ngƣời. Nông dân thiếu
ruộng vẫn phải lĩnh canh của địa chủ để gieo trồng và nộp tô cho chúng; vẫn
bị phụ thuộc và bị bóc lột sức lao động, đó chính là trở ngại lớn trong việc
phát triển sản xuất .
Khi hiệp định Giơ-ne-vơ đƣợc kí kết, ở Thái Nguyên địch tập trung dụ
dỗ cƣỡng ép đồng bào theo đạo thiên chúa giáo bằng cách cho những tên tay
sai phản động đội lốt các chức sắc tôn giáo từ Thái Bình, Nam Định lên dùng
thần quyền để tuyên truyền mê hoặc thúc ép giáo dân di cƣ theo chúng vào
miền Nam. Một số ngƣời kém hiểu biết đã tin, bỏ lại nhà cửa ruộng vƣờn theo
địch vào Nam, làm cho đồng ruộng càng thiếu ngƣời sản xuất. Thêm vào đó,
trong năm 1954 lại bị thiên tai dồn dập, sản xuất sút kém, nạn đói xẩy ra
nhiều vùng và kéo dài suốt 6 tháng đầu năm 1955.
Tất cả những khó khăn trên đã kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp,
nông thôn Thái Nguyên. Mặc dù nông dân các dân tộc rất hăng hái tham gia
lao động sản xuất, khai hoang phục hóa nhƣng vẫn không đem lại đƣợc kết
quả nhƣ mong muốn. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, "Giặc đói" vẫn
là mối đe dọa thƣờng xuyên trong nhiều gia đình.
Thông qua một loạt các chính sách của Đảng và Chính phủ nhƣ: Chính

nông, lâm nghiệp là 0,26% tổng chi ngân sách cho các ngành kinh tế [56],
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
những năm tiếp theo mức độ đầu tƣ có tăng song không đáng kể; các công
trình thuỷ lợi mới phục hồi đƣợc cống Vạn Già trên sông máng (Phú Bình),
khôi phục đập thác Huống, đào thêm ao, chuôm chứa nƣớc, làm cọn nƣớc,
đào giếng chống hạn... Giống cây trồng vẫn là giống truyền thống, chƣa có
phân hoá học… Song với quan hệ sản xuất mới phù hợp cùng với các yêu tố
chính trị, xã hội mới đã tạo ra sự hăng hái, phấn khởi lao động sản xuất trong
nông dân. Từng bƣớc khắc phục đƣợc nhiều khó khăn nhƣ: hạn hán, mƣa lũ,
sâu bệnh, ra sức làm thuỷ lợi, khai hoang phục hoá, không những trồng lúa,
trồng mầu mà còn chú trọng trồng cây công nghiệp.
Kết quả, mặc dù bị hạn hán và sâu bệnh phá hoại nặng, nhƣng tổng sản
lƣợng lƣơng thực năm 1955 toàn tỉnh vẫn đạt 96,854 tấn trong đó lúa đạt
54.753 tấn, hai năm 1956, 1957 nhân dân các dân tộc trong tỉnh hăng hái thi
đua khai hoang phục hoá, thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích gieo trồng
đƣa diện tích cấy lúa cả năm 1957 lên 50.072 ha, tăng gần 4000 ha so với năm
1955. Các biện pháp kỹ thuật cày sâu, bừa kỹ, cấy dầy, tăng cƣờng phân bón,
đắp bờ giữ nƣớc, làm cỏ sục bùn tiếp tục đƣợc duy trì và phát triển, vì vậy
năng suất các loại cây lƣơng thực tiếp tục đƣợc nâng cao. Riêng lúa năng suất
năm 1957 tăng 2,4 tạ/ha so với năm 1955. Tổng sản lƣợng lúa đạt 71.160 tấn,
do đó đã tạo ra sự tăng trƣởng về giá trị sản lƣợng nông nghiệp, bình quân
tăng 10%/năm. Thu hoạch bình quân tính theo đầu ngƣời về lƣơng thực, kể cả
hoa màu quy ra thóc là 315kg năm 1955; 444kg năm 1956 và 342kg năm
1957. Cùng với hơn 20.000 tấn hoa mầu các loại Thái Nguyên không chỉ bảo
đảm lƣơng thực cho nhu cầu của nhân dân mà còn đóng góp cho Nhà nƣớc
mỗi năm từ 10.000 đến 13.000 tấn [4, 316].
Do đƣợc quan tâm chăm sóc tốt, nhất là về chuồng trại và thức ăn nên
trong hơn 2 năm đàn trâu toàn tỉnh tăng 10.400 con, đàn bò tăng 4.200 con,
đàn lợn tăng 23.000 con, không chỉ đáp ứng đủ sức kéo cho phát triển sản

Trích đoạn Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp trƣớc khi tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp Lí luận chung Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hợp tác hóa trong nông nghiệp THỜI KÌ ĐẦU XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở THÁI NGUYÊN (1958 1960) Hợp tác hóa nông nghiệp giai đoạn 1961-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status