Sạn Thận
Bác sĩ Nguyễn văn Đích Sạn thận thường xảy ra ở người trẻ, trung bình 30 tuổi. Đàn ông bị sạn nhiều gấp đôi đàn
bà. Dân cư một số vùng bị sạn thận nhiều hơn vùng khác.Việt nam được coi là ở trong
“vòng đai sạn”. Tuy có nhiều tiến bộ về chẩn đoán và điều trị, ngoại trừ một số trường
hợp, nguyên nhân của sạn vẫn còn chưa biết rõ.
* Trong tiến trình tạo thành sạn, muối khoáng kết thành tinh thể ở nhánh lên của quai
Henle, ống thận xa và ống góp (collecting duct). Sự tạo thành sạn tùy thuộc ở thể tích
nước tiểu, nồng độ calcium, phosphate, oxalate, sodium và uric acid; đồng thời cũng tùy
thuộc ở nồng độ của các chất ngăn cản sự tạo thành sạn như citrate, magnesium, proteins
Tamm-Horsfall và pH của nước tiểu. Nồng độ ions cao, thể tích nước tiểu thấp, pH thấp,
nồng độ citrate thấp là những yếu tố thuận lợi cho việc tạo thành sạn.
Sạn thận được xếp vào 5 nhóm: calcium oxalate (70%), calcium phosphate (5-10%), uric
acid (10%), struvite (15-20%), và cystine (1%).
* Sạn nằm yên trong hệ bồn đài không gây triệu chứng, chỉ được phát hiện khi có nhiễm
trùng hoặc khi có máu trong nước tiểu. Khi di chuyển xuống niệu quản sạn gây cơn đau
dữ dội, lan xuống bộ phận sinh dục, kèm theo tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu ra máu. Bệnh
nhân cũng buồn nôn và có thể nôn mửa. Bệnh nhân có sạn struvite có thể sốt, trụy mạch
vì nhiễm trùng.
* Phần lớn sạn có calcium (90%) nên có thể thấy trên phim X quang thường.nhưng ngày
nay chụp CT không dùng chất cản quang là phương pháp tốt nhất để phát hiện các lọai
sạn đồng thời cũng phát hiện các bệnh lý bất ngờ trong ổ bụng. CT không cản quang
nhạy bén và chuyên biệt, ít phóng xạ và tránh được độc tính của iodine.
* Nếu sạn nhỏ hơn 5 mm, có 90% khả năng bệnh nhân tự tiểu ra được trong 4 tuần nếu
uống nhiều nước và dùng thuốc chống đau. Thuốc giảm đau thường dùng có chất á phiện
nhưng các thuốc giảm đau chống viêm không steroid nhu ketorolac và diclofenac cũng có
hiệu quả. Các nghiên cứu mới cho thấy dùng chất ức chế alpha1 tamsulosin hoặc
nifedipine tác dụng kéo dài 30mg/ngày đơn thuần hoặc kết hợp với steroid có thể tăng
ngoài hoặc tích tụ lại trong cơ thể;
- tăng tiểu uric acid (trên 800mg/24 giờ);
- giảm tiểu citrate, nguyên phát hay toan huyết do ống thân (renal tubular acidosis).
Điều trị ngừa sạn oxalate tái phát có thể gồm lợi tiểu thiazide để giảm calcium trong nước
tiểu, kiềm hóa nước tiểu bằng potassium citrate (30-60 mEq/ngày). Không có thuốc
chuyên biệt điều trị chứng tăng tiểu oxalate do đó cần ăn thêm calcium để giảm hấp thu
oxalate, giảm thực phẩm có nhiều oxalate. Các thực phẩm có nhiều oxalate cần tránh là
bia đen, trà đen, chocolate, cocoa, đậu nành, các lọai hột (nuts), đậu phọng (lạc), ngũ cốc
chưa xay (gạo lức), các lọai đậu, củ cải, cà rốt, cà, spinach. Các thực phẩm có lượng
oxalate trung bình cần hạn chế là bia, nước cà chua, táo, mận, dừa, dứa, đào, hành tây,
broccoli. Các thực phẩm có ít oxalate có thể dùng là trà xanh, nước chanh, trà oolong,
rượu vang, bơ, sữa, dầu thực vật, chuối, bưởi, xoài, dưa, đu đủ, đào, mận, nho, thịt, gạo
trắng, các lọai rau như bắp cải, bông cải...
- Sạn calcium phosphate thường xảy ra nhiều hơn ở phụ nữ, vì toan huyết do ống thận,
cường tuyến cận giáp, và bệnh sarcoid. Toan huyết do ống thận thường kèm theo tăng
tiểu calcium và giảm tiểu citrate. Điều trị ngừa sạn calcium phosphate gồm citrate, thêm
thiazide nếu bệnh nhân tiếp tục bị tăng tiểu calcium.
- Sạn uric acid thường xảy ra ở đàn ông, do pH nước tiểu thấp dưới 5.5, do thống phong,
tình trạng kháng insulin, ăn nhiều thịt. Potassium citrate 30-60 mEq/ngày, tăng pH lên
6.5-7, thêm allupurinol 300mg/ngày nếu uric acid trong máu cao.
- Sạn struvite gồm magnesium, ammonium và calcium phosphate, thường xảy ra ở phụ
nữ do nhiễm các vi trùng phân giải urea như proteus mirabilis, ureaplasma urealyticum,
klebsiella pneumoniae. Nếu bệnh nhân sốt, cần điều trị kháng sinh 48 giờ trước khi can
thiệp ngoại khoa.
- Sạn cystine là một bệnh di truyền do giảm tái hấp thu cystine ở thận, do đó thường xảy
ra ở trẻ em. Cystine trên 250mg/24 giờ có giá trị chẩn đoán. Phòng ngừa bằng uống nhiều
nước và kiềm hóa nước tiểu bằng potassium citrate. Các chất gắn với cystine như
penicillamine và tiopronin giúp ngừa sạn cystine nhưng có nhiều tác dụng phụ.
Nhờ tiến bộ kỹ thuật mà ngày nay ta có thể chẩn đoán và điều trị sạn dễ dàng và có hiệu
quả. Hiểu biết về khoa học cơ bản hướng dẫn sự phòng ngừa, uống nhiều nước chứng tỏ