Luận văn
Hạch toán hàng hoá và tiêu thụ
hàng hoá ở công ty chế biến và
kinh doanh than Hà Nội
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp, không phát huy
được nội lực của mình sang nền kinh tế mở theo xu hướng khu vực hoá, toàn
cầu hoá. Đó chính là chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đã thực hiện
nhằm tạo một một môi trường kinh doanh, sản suất mới đầy triển vọng cho tất
cả các doanh nghiệp trong nước, phát huy được nội lực của mình, góp phần
vào mục tiêu chung là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đứng trước một cánh cửa mở rộng như vậy thì việc đẩy mạnh sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp vô cùng quan trọng , là điều kiện
sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Có tiêu thụ được sản phẩm mới đảm
bảo được việc thu hồi vốn bỏ ra, tích luỹ sản xuất nâng cao đời sống cho cán
bộ công nhân viên. Đồng thời còn phải khai thác các nguồn lực tài chính, huy
động nguồn lực đó và sử dụng nguồn lực có hiệu quả.
Do đó mà hạch toán kế toán là một bộ phận rất quan trọng của công cụ
quản lý kinh tế có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát
các hoạt động kinh tế, kế toán gắn liền với hoạt động kinh tế tài chính.
Công ty chế biến và kinh doanh than Hà Nội là một công ty vừa mang
tính chất thương mại, vừa mang tính phục vụ nhiệm vụ chính của ngành. Lĩnh
vực hoạt động của công ty là một lĩnh vực lớn đầy tiềm năng. Bởi vì than làn
một nguyên liệu truyền thống được sử dụng nhiều ở các cơ sở sản xuất. Do
vậy mà công ty có nhiều cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời phải đương đầu
với nhiều sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế trên thị trường đòi hỏi
công ty phải có sự kết hợp nhanh nhẹn và khéo léo dể giữ vững vị trí của
mình trong nền kinh tế thị trường.
2
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác kế toán chúng tôi
Sản phẩm hàng hóa là tập hợp tất cả các đặc tính vật lý, hóa học có thể
quan sát được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật vừa mang giá trị
sử dụng vừa mang giá trị. Sản phẩm đó có thể mang ra trao đổi được.
Hàng hóa trong các doanh nghiệp thương mại là hàng hóa mua vào để
bán nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng và xuất khẩu.
Hàng hóa được biểu hiện trên hai mặt giá trị và số lượng. Số lượng của
hàng hóa được xác định bằng đơn vị đo lường phù hợp với tính chất hóa học,
lý học của nó như kg, lít, mét... nó phản ánh quy mô, đặc điểm sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thương mại. Chất lượng hàng hóa được xác định
bằng tỉ lệ % tốt, xấu hoặc giá trị phẩm cấp của hàng hóa.
2. Đặc điểm của quá trình tiêu thụ hàng hóa
Đó là là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận, doanh nghiệp đồng ý bán và
khách hàng đồng ý mua, đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Có sự chuyển đổi quyền sở hữu hàng hóa từ doanh nghiệp sang khác
hàng.
Doanh nghiệp giao hàng hóa từ doanh nghiệp sang khách hàng khoản
tiển hay một khoản nợ tương ứng. Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán
hàng, dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh.
4
Căn cứ trên số tiền hay khoản nợ mà khách hàng chấp nhận trả để hạch
toán kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
3. Vai trò của quá trình tiêu thụ hàng hóa
Tiêu thụ hàng hóa là quá trình doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hóa
vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái giá trị,
thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa thông qua quan hệ trao đổi.
Tiêu thụ là khâu quan trong của hoạt động thương mại doanh nghiệp,
nó thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm hàng hóa
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung gian, là cầu
nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh
Đồng thời phải tính toán và đưa ra các mức kế hoạch và chi phí, kết quản kinh
doanh, năng suất lao động, thời gian chu chuyển vốn.
Việc quản lý tiêu thụ hàng hóa theo các nội dung sau:
Quản lý về số lượng, chất lượng, giá trị hàng hóa, bao gồm: Việc quản
lý từng người mua, từng lần gửi hàng, từng nhóm hàng, từng bộ phận kinh
doanh. Việc quản lý chỉ kết thúc khi quyền sở hữu được chuyển giao và
doanh nghiệp nhận được tiền hay có đòi hỏi tiền.
Quản lý về giá cả bao gồm việc lập dự định và theo dõi thực hiện giá,
đồng thời doanh nghiệp phải đưa ra kế hoạch cho kỳ tiếp theo. Doanh nghiệp
phải đưa ra một biểu giá hợp lý cho từng mặt hàng, từng phương thức bán,
từng địa điểm kinh doanh. Trong công tác quản lý giá cả hàng hóa thì hệ
thống chứng từ, sổ sách kết toán là công cụ đắc lực nhất, phản ánh chính xác
nhất tình hình tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là sự biến động của giá cả trong
6
từng thời điểm. Nó giúp cho nhà quản lý xây dựng được định mức giá hợp lý
nhất cho hàng bán ra.
Quản lý việc thu hồi tiền bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
Quản lý việc thu hồi tiền bán hàng là việc xem xét số tiền thu được sau tiêu
thụ được chuyển về đơn vị dưới hình thức nào, số lượng bao nhiêu, chiều
hướng phát sinh các khoản nợ khó đòi. Quản lý mặt này bao gồm cả việc
quản lý các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình tiêu thụ như nhận được tièn
trước của khách hàng, chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại. Sau khi quá
trình tiêu thụ hàng hóa kết thúc cần phải quản lý việc xác định kết quản kinh
doanh, đảm bảo tính đúng, tính đủ kết quả kinh doanh đã đạt được.
5. Xác định kết quả tiêu thụ
Kết quả tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng về việc tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh chính
và kinh doanh phụ.
5.1. Các yếu tố cấu thành việc xác đinh kết quả tiêu thụ
5.1.1. Doanh thu bán hàng
thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán
hoặc các cam kết mua, bán hàng.
5.1.3. Giảm giá hàng bán
Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn
hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém
phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm
trong hợp đồng....(do chủ quan doanh nghiệp). Ngoài ra tính vào khoản giảm
8
giá hàng bán còn bao gồm các khoản thưởng khách hàng trong một khoảng
thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lượng hàng hóa trong một đợt.
5.1.4. Hàng bán bị trả lại
Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao
quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người chấp nhận trả tiền) nhưng lại bị
người mua từ chối và trả lại do người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế
đã ký kết nhưng không phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật,
hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại...Tương ứng với hàng bán bị trả
lại là giá vốn của hàng bán bị trả lại (tính theo giá vốn khi bán) và doanh thu
của hàng bán bị trả lại cụng với thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị
trả lại.
5.1.5. Doanh thu thuần
Doanh thu thuần: Là số chênh lệch giữa tổng số doanh thu với các
khoản giảm giá, chiết khấu thương mại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
5.1.6. Giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, vật tư, hàng hóa lao vụ,
dịch vụ tiêu thụ. Đối với sản phẩm, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá thành sản xuất
(giá thành công xưởng) hay chi phí sản xuất. Với vật tư tiêu thụ, giá vốn là
giá trị ghi sổ, còn với hàng hóa tiêu thụ, giá vốn bao gồm trị giá mua của hàng
hóa tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ.
Việc xác định vốn hàng bán là hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện
người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT.
Phương pháp xác định thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
10
Số thuế GTGT Phải nộp
Thuế GTGT đầu ra
Thuế GTGT đầu v o à
được khấu trừ
Đối tượng áp dụng: là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, bao gồm các
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư
nhân, các công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác.
Xác định thuế GTGT phải nộp
= -
11
Thuế
GTGT
đầu ra Giá trị tính thuế của
này một lần tức là sau khi mặt hàng đó đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu
sản xuất thì không phải chịu thuế lần thứ hai khi lưu thông trên thị trường. Cơ
sở sản xuất mặt hàng này chỉ chịu thuế tiêu thụ đặc biệc mà không chịu thuế
GTGT, còn cơ sở thương nghiệp kinh doanh mặt hàng đó chỉ chịu thuế GTGT
mà không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế xuất khẩu
12
Thuế xuất khẩu là loại thuế gián thu, thu vào vác hàng hóa được phép xuất
khẩu.
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập
khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam (trừ hàng viện trợ quá cảnh, hàng tạm
nhập tái xuất, hàng viện trợ nhân đạo...)
Thuế xuất khẩu được tính căn cứ vào số lượng từng mặt hàng tính thuế
và thuế suất từng mặt hàng. Cách tính số thuế phải nộp như sau:
= x
5.2. Xác định kết quả tiêu thụ
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và giá trị vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ), doanh
thu từ hoạt động tài chính, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp. Và được xác định bằng công thức:
= - - - -
= + -
13
Thuế xuất
khẩu phải
nộp
Số lượng mặt
h ng chà ịu thuế kê
khai trong tờ khai
h ng hóaà
gộp từ bán
h ng v à à
cung cấp
dịch vụ
Chi phí
bán
h ngà
Chi phí
phân bổ
quản lý
doanh
nghiệp
14
5.3. Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ
Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời khối lượng hàng hóa bán ra, tính
toán đúng đắn trị giá vốn của hàng xuất bán nhằm xác định đúng đắn kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình bán
hàng, phục vụ cho lãnh đạo điều hành hoạt động kinh doanh thương mại.
Kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch lợi nhuân, kỷ
luận thanh toán và quản lý chặt chẽ tiền bán hàng, kỷ luật thu nộp ngân sách
Nhà nước.
Để tổ chức tốt hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu và trình tự luân
chuyển chứng từ.
Kế toán cần phải có đầy đủ các chứng từ hợp pháp ban đầu về nghiệp
vụ bán hàng, tổ chức việc luân chuyển chứng từ và ghi sổ sách kế toán một
cách hợp lý nhằm phản ánh đước các số liệu phục vụ cho công tác quản lý
kinh doanh tránh ghi chép trùng lặp, phức tạp không cần thiết, nâng cao hiệu
quả công tác kế toán. Căn cứ vào các trường hợp hàng hóa được coi là bán mà
phản ánh đúng đắn kịp thời doanh số bán, cung cấp được các thông tin lãnh
đạo quản lý kinh doanh về hàng hóa đã bán và sô hiện còn trong kho.
lớn. Tuy nhiên, với phương thức này doanh nghiệp cũng có thể gặp nguy cơ
khủng hoảng thừa trong tiêu thụ do doanh nghiệp bị ngăn cách với người tiêu
dùng cuối cùng bởi người mua trung gian hoặc bị chiếm dụng vốn do bên
mua thiếu thiện chí, chậm thanh toán. Theo phương thức này có hai hình thức
bán buôn.
1.1.1.1 Bán buôn qua kho.
16
Bán buôn qua kho là hình thức bán hàng mà bán được xuất ra từ kho
bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn qua kho bao gồm theo hình thức giao
hàng trực tiếp hoặc bán buốn qua kho theo hình thức chuyển hàng.
Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Là hình thức bán
hàng trong đó doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếo cho đại diện của
bên mua.
Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Là hình thức bán hàng
trong đó doanh nghiệp căn cứ vào đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký kết xuất
kho hàng hóa.
1.1.1.2. Bán buôn vận chuyển thẳng.
Bán buôn vận chuyển thẳng là hình thức bán mà doanh nghiệp thương
mại sau khi tiến hành mua hàng không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến
cho bên mua. Thuộc hình thức này bao gồm bán buôn vận chuyển thẳng trực
tiếp và bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng.
Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp: Là hình thức bán mà người mua
cử đại diện đến nhận hàng do doanh nghiệp bán chỉ định theo hóa đơn của
người bán đã nhận.
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Là hình thức bán
hàng mà bên bán tự vận chuyển hàng từ các điểm nhận hàng đến địa điểm của
bênh mua theo hợp đồng bằng phương tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài.
1.1.2. Phương thức bán lẻ.
Bán lẻ được hiểu là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu
dùng, không thông qua các trung gian. Thuộc phương thức bán lẻ gồm có các
18
phẩm, hàng hóa cho mục đích biếu tặng, quảng cáo hay để trả công cho người
lao động thay tiền lương.
1.2. Phương pháp đánh giá hàng hóa xuất kho
Khi xuất kho hàng hóa để tiêu thụ kế toán phải vận dụng một trong các
phương pháp tính giá thực tế hàng hóa xuất kho sau:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
- Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
- Phương pháp giá bình quân
- Phương pháp thực tế đích danh
1.2.1. Phương pháp nhập trước, xuất trước( FIFO)
Theo phương thức này, lô hàng nào nhập trước thì xuất trước. Hàng
xuất thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá vốn lô hàng để tính.
Phương pháp này chỉ thích hợp với điều kiện giá cả ổn định và có xu
thế hướng giảm.
1.2.2. Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này, lô hàng nào nhập sau thì xuất trước. Kế toán
phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập kho, khi xuất kho căn cứ vào
số lượng hàng hóa để tính ra giá thực tế xuất kho, do đó giá thực tế của hàng
hóa tồn kho cuối kỳ lại là lần nhập kho đầu kỳ.
Phương pháp này chỉ thích hợp khi nền kinh tế có lạm phát, giá cả có
biến động lớn.
1.2.3. Phương pháp giá bình quân
Theo phương pháp này:
= x
Đơn giá bình quân có thể được xác định theo một trong 3 cách:
19
Trị giá h ngà
xuất bán
Sản lượng h ng à
Đơn giá thực tế
bình quân liên
ho nà
Đơn giá thực tế
bình quân liên
ho nà
Đơn giá
Bình quân
Trị giá h ng hóa tà ồn đầu kỳ
Số lượng h ng hóa tà ồn đầu
kỳ
kho. Giá vốn thực tế của hàng tồn kho hiện còn được tính bằng số từng lô
hàng hiện còn với đơn giá nhập kho của từng lô hàng rồi tổng hợp lại.
22
1.3. Hạch toán chi tiết hàng hóa
Các phương pháp hạch toán chi tiết hàng hóa được áp dụng phổ biến
hiện nay:
- Phương pháp ghi thẻ song song
- Phương pháp sổ số dư
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Phương pháp thẻ song song
Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chéo phản ánh hàng ngày tình
hình nhập - xuất - tồn của từng loại hàng hóa về nhập hàng, kế toán hành
kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ, phân loại chứng từ. Cuối ngày
căn cứ vào chứng từ để ghi vào thẻ kho tính ra số tồn cuối ngày. Sau khi thủ
kho sắp xếp lại chứng từ, lập phiếu giao nhận chứng từ và chuyển những
chứng từ đó vào phòng kế toán. Khi giao nhận chứng từ thủ kho và kế toán
đều ký và phiếu giao nhận chứng tsắp xếp lại chứng từ, lập phiếu giao nhận
chứng từ và chuyển những chứng từ đó vào phòng kế toán. Khi giao nhận
chứng từ thủ kho và kế toán đều ký và phiếu giao nhận chứng từ.
Thẻ kho
Chứng từ
nhập
Sổ (thẻ) kế toán
chi tiết h ng hóa à
Chứng từ
xuất
Sổ (thẻ) kế toán
chi tiết h ng hóa à
Chứng từ
xuất
Bảng kê tổng hợp
nhập - xuất - tồn
Chứng từ
xuất
Bảng kê tổng hợp
nhập - xuất - tồn
Kế toán
tổng hợp
theo từng mặt hàng. Hàng ngày hay định kỳ 3 đến 6 ngày nhân viên kế toán
xuống kho nhận chứng từ kế toán về nhập, xuất hàng hóa thì kế toán ký xác
nhận trên thẻ kho và phiếu nhận chứng từ, kế toán mang chứng tù về hoàn
chỉnh. Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá chứng từ (theo
giá hạch toán), tổng hợp cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao
nhận chứng từ, đồng thời ghi số tiền vừa tính được của từng lại hàng hóa
(nhập riêng, xuất riêng) vào bảng lũy kê nhập, xuất tồn kho hàng tháng. Bảng
này được mở rổng từng kho, mỗi kho một tờ, được ghi trên cơ sở các phiếu
giao nhận chứng từ nhập, xuất hàng hóa. Tiếp đó cộng số tiền nhập, xuất
trong tháng và dựa vào dư đầu tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng
nhóm hàng hóa. Số dự này được dùng để đối chiếu với số dư trên số dư: