Kỹ thuật nuôi treo bào ngư trên biển
Nguồn: vietlinh.com.vn
Trong các sinh vật biển, Bào ngư được gọi là "hoàng kim mềm" vì thịt của
chúng ngon, hàm lượng dinh dưỡng cao và có giá trị kinh tế quan trọng. Hiện nay
ở Trung Quốc, bào ngư được nuôi nhiều, chủ yếu theo các phương thức nuôi vãi
(gieo) đáy, nuôi lồng bè, nuôi công nghiệp và nuôi kênh mương. Từ năm 2003, tại
tỉnh Phúc Kiến, người ta đã nghiên cứu áp dụng kỹ thuật nuôi treo bào ngư trên
biển và đạt được hiệu quả khả quan. Tại Việt Nam, hình thức này cũng đang bước
đầu được áp dụng, vì vậy chúng tôi xin giới thiệu kết quả nuôi thử nghiệm của
Trung Quốc để bạn đọc tham khảo.
1. Môi trường nuôi
Khu nuôi bào ngư phải tuyệt đối không có bất cứ nguồn ô nhiễm nào. Chất
nước đạt tiêu chuẩn cho nuôi trồng thuỷ sản. Dòng triều thông thoáng, giao thông
tiện lợi. điều kiện đối với các yếu tố lý hoá như sau: Ðộ sâu của nước đạt trên
10m, lưu tốc nước 0,5m/giây - 1,0m/giây, nhiệt độ nước 110C - 280C, độ mặn
30‰, ôxy hoà tan trên 4mg/l, ammonia nitrogen ≤ 100mg/l, pH 7,4 - 8,6.
2. Bố trí thiết bị nuôi
Thiết bị nuôi chủ yếu là khung lồng nuôi bào ngư kiểu nhiều tầng. Lồng
nuôi bào ngư bằng chất dẻo polyethylene màu sẫm hoặc polyvinyl chloride (PVC)
không độc. Lồng nuôi bào ngư gồm 6 tầng, kích thước mỗi tầng là 40cm x 30cm x
13cm. Khung giá tương tự như khung giá lồng nuôi cá biển, nguyên liệu làm
khung giá thường là gỗ thông, kích thước 2,5m x 3,6m. Cứ 10 khung kết thành 1
giàn. Cứ 3 giàn lại được nối với nhau bằng các chiếc lốp xe cũ để tạo thành 1 tổ
hợp. Xung quanh mỗi tổ hợp sử dụng 15 chiếc phao nổi hình cầu, mỗi chiếc có sức
nổi 75kg/chiếc.
3. Tuyển chọn, vận chuyển và thả giống
3.1. Tuyển chọn con giống: Phải tuyển chọn những con giống khoẻ mạnh,
đã được kiểm dịch và được ương nuôi tại bản địa. Chiều dài vỏ con giống bào ngư
dài hơn 1,5cm, thể hình hoàn chỉnh, ngoại hình đầy đặn, không có dị hình, hoạt
lực mạnh, lực bám mạnh.
5 cm, 6 cm, 7 cm thì mật độ mỗi tầng tương ứng sẽ là 60 con, 45 con, 35 con, 25
con, 20 con, 15 con.
4.3. Quản lý hàng ngày:
Kiểm tra tình trạng bắt mồi (ăn) của bào ngư. Kịp thời điều chỉnh lượng
cho ăn và ghi chép đầy đủ, thường xuyên kiểm tra và làm sạch các dị vật và địch
hại xung quanh lồng nuôi bào ngư. Khi cho ăn cần quan sát tình trạng hoạt động
của bào ngư, phát hiện những bào ngư dị thường hoặc đã chết, tìm nguyên nhân và
áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp. định kỳ xác định các chỉ tiêu chất nước
như nhiệt độ nước, độ mặn, pH, độ ôxy hoà tan, nitrogen ammonia v.v? và ghi
chép cẩn thận. Thường xuyên kiểm tra lồng lưới, khung giàn có an toàn vững
chắc? Ðề phòng trường hợp cửa lồng chưa được đóng chặt khiến bào ngư có thể
thoát ra ngoài.
4.4. Phòng trừ bệnh :
Phòng bệnh là chính. Khi chọn vị trí nuôi, cố gắng chọn nơi xa nguồn ô
nhiễm, có dòng triều thông thoáng, chất nước trong sạch. Tăng cường công tác
quản lý, bảo đảm mật độ nuôi thích hợp. Cố gắng sử dụng thức ăn tươi, cấm sử
dụng thức ăn đã thối rữa và đã biến chất. Ðịnh kỳ loại thải và tẩy sạch các sinh vật
có hại trên lồng lưới? và một số tảo tạp, phòng tránh trường hợp các mắt lưới bị bịt
kín không cho dòng nước thông suốt từ trong ra ngoài lồng lưới, đồng thời với
việc phân loại bào ngư vào mùa xuân và vào mùa thu. Trong quá trình nuôi bào
ngư, chủ yếu thường xuất hiện bệnh mụn nhọt (pustuls) do một số loại vi khuẩn
thuộc giống khuẩn Vibrio gây ra, thời gian mắc bệnh này kéo dài, tỷ lệ chết cao,
tính nguy hại lớn. Phương pháp phòng trị chủ yếu hiện nay là sử dụng văcxin
kháng khuẩn Vibrio.
5. Kết quả
Thời gian nuôi nghiên cứu bắt đầu từ tháng 5-2003 và được kết thúc vào
tháng 10-2005, tổng cộng thời gian nuôi là 29 tháng. Chiều dài vỏ bào ngư từ 1,5
cm tăng trưởng đạt khoảng 8 cm, tăng trọng bình quân đạt 70 gam, tỷ lệ sống đạt
55%. Giá trị đạt 1 triệu nhân dân tệ, khấu trừ vốn 550 nghìn nhân dân tệ, lợi nhuận
đạt 450 nghìn nhân dân tệ (tương đương chín trăm triệu đồng VN). Hiệu quả kinh