I. CỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU
I. Những quy định chung
1.
Cơ chế thay đổi thuế suất
2. Cơ chế trưởng thành
II.
Những quy định khuyến khích đặc biệt
III.
Các nước kém phát triển
IV. Thu hồi tạm thời chế độ GSP
V.
Đình chỉ ưu đãi đối với những sản phẩm phải tuân theo những biện
pháp chống phá giá
VI. Cơ chế bảo vệ
VII. Quy tắc xuất xứ
1.
Tiêu chuẩn xuất xứ
2. Quy định về vận chuyển thẳng
3.
Chứng từ
4.
Danh sách các nước được hưởng GSP của EU
Áp dụng những nguyên tắc trong hệ thống ưu đãi phổ cập của UNCTAD, chế độ
ưu đãi phổ cập của EU được ban hành vào ngày 1/7/1971, chế độ này khác với
những quy tắc của GATT và chế độ tối huệ quốc, và được GATT công nhận như là
một ngoại lệ chính thức, mà thường được biết như là "điều khoản uỷ quyền". Điều
khoản này được thông qua lần đầu tiên vào ngày 25/7/1971 và được sửa đổi vào
28/11/1979.
Chế độ GSP của EU, kể từ khi ban hành lần đầu tiên, đã được ban hành mới,
với quan điểm toàn diện diễn ra 10 năm một lần. Lần sửa đổi đầu tiên là vào
mới cho chính sách đối ngoại của EU nói chung và chính sách phát triển của Eu nói
riêng bằng cách xác định sự phát triển xã hội và kinh tế của các nước liên quan và sự
hoà nhập dần dần vào kinh tế thế giới của họ như là mục tiêu chủ yếu.
Chế độ GSP hoạt động như thế nào
Trước đây, các quy định được Hội đồng phê chuẩn mỗi năm về ưu đãi thuế
quan áp dụng từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm đó cho những sản phẩm
thuộc chế độ và xuất xứ từ nước được hưởng. Tuy nhiên ngày nay với quan điểm tạo
ra một môi trường thương mại công bằng hơn, chế độ GSP là chế độ nhiều năm.
Chế độ GSP đầu tiên của EU tồn tại trong khoảng thời gian 10 năm (1971 -
1981) và được sửa đổi cho thập niên thứ hai (1981 - 1991). Trong khoảng thời gian
này, GSP của EU đã được xem xét lại hàng năm, các quy định của EU được ban hành
hàng năm, thường trong tháng 12, và được áp dụng cho năm dương lịch tiếp theo.
Thay đổi hàng năm là về phạm vi sản phẩm, hạn ngạch, giới hạn cao nhất và hoạt
động hành chính, các nước được hưởng và ưu đãi về thuế đối với nông sản. Trong
năm 1991, lúc kết thúc thập niên thứ hai, chế độ này đã đến hạn phải sửa đổi. Tuy
nhiên, trong khi chờ kết quả của vòng đàm phán Urugoay, chế độ năm 1991 được
mở rộng với nhiều sửa đổi cho đến năm 1994, khi Cộng đồng đưa ra một chế độ 10
năm khác. Vào 1/1/1995, EU chấp thuận chế độ GSP đầu tiên cho giai đoạn 1995 -
2004. EU đã ban hành những quy định cho giai đoạn 5 năm đầu 1995 - 30/6/1999.
Đối với giai đoạn 1/7/1999 đến 31/12/2001, EU đã sửa đổi chế độ GSP của mình.
Tuy nhiên cấu trúc căn bản của chế độ 1995-2004 không thay đổi.
Trên thực tế, sửa đổi năm 1995 thay đổi cấu trúc tổng thể của chế độ, chế độ
này kể từ đó luôn xoay quanh ba vấn đề chủ yếu, đó là cắt giảm thuế suất, cơ chế
trưởng thành ngành quốc gia, và các quy định khuyến khích đặc biệt.
Sửa đổi xoá bỏ giới hạn về số lượng hàng nhập khẩu hưởng GSP. Nó được thay
thế bởi "cắt giảm thuế suất", theo cách này "khối lượng miến thuế cố định" và giới
hạn tối đa (liên quan đến sản phẩm công nghiệp nhạy cảm) và "khối lượng giảm thuế
cố định" (liên quan đến hàng nông sản) đã được thay thế bằng thuế suất giảm theo
hai loại nhạy cảm của sản phẩm.
Thay đổi chính thứ hai là đưa ra chính sách mở trưởng thành, bao gồm tiêu
không dựa trên tính cạnh tranh của quốc gia liên quan, thuế suất ưu đãi sẽ được áp
dụng cho mọi nước được hưởng mà không có sự phân biệt, trừ những nước kém phát
triển và những nước được hưởng theo quy định đặc biệt về "ma tuý".
Thuế ưu đãi và danh sách sản phẩm nhạy cảm sẽ có giá trị theo thời hiệu của
chế độ. Theo quy định mới nhất của EU áp dụng chế độ GSP cho giai đoạn 2002 đến
2004, sản phẩm sẽ chỉ còn được chia làm hai loại: sản phẩm không nhạy cảm và sản
phẩm nhạy cảm. Theo đó, sản phẩm không nhạy cảm sẽ được miễn thuế hoàn toàn,
sản phẩm nhạy cảm sẽ được giảm xuống 3,5% nếu thuế đối với sản phẩm cụ thể đó
là thuế tính theo trị giá hàng; được giảm xuống 30% nếu thuế cho sản phẩm cụ thể
đó là thuế đặc biệt.
Yếu tố duy nhất mà làm thay đổi tình trạng của sản phẩm trong thời gian có
hiệu lực của chế độ là việc áp dụng cơ chế bảo vệ, cơ chế này có thể được áp dụng
trong những trường hợp ngoại lệ, những trường hợp mà nhà sản xuất EU thấy trước
hoặc bị ảnh hưởng bởi những khó khăn nghiêm trọng. Cơ chế này gần giống với cơ
chế bảo vệ của GATT, việc áp dụng cơ chế này sẽ tuân theo một thủ tục là sự tổng
hợp của sự cần thiết điều tra chiều sâu (bởi Uỷ ban Điều hành mới) và sự phản ứng
mau lẹ.
1.2. Cơ chế trưởng thành
Theo chế độ trước, mức độ cạnh tranh khác nhau của các nước được hưởng có
thể được cho phép đối với một số sản phẩm bằng cách áp dụng hạn ngạch riêng lẻ
hoặc thậm chí loại trừ một số nước (sự phân biệt). Cơ chế trưởng thành là một cách
tiếp cận hoàn toàn khác. Để xác định đúng hơn tính cạnh tranh của một nước đối với
một số sản phẩm nhất định, chế độ hiện hành sẽ đánh giá khả năng công nghiệp mà
mỗi nước đạt được trong mỗi ngành sản xuất chính để xác định, trong khi xem xét
mức độ phát triển, nước nào vẫn cần được hưởng GSP để duy trì mức xuất khẩu đầy
đủ. Khi một nước đã phát triển tới một mức độ mà GSP không còn cần thiết để duy
trì mức xuất khẩu này, những ưu đãi GSP sẽ được rút dần dần trong những ngành
liên quan, trong khi cho những nước kém phát triển những lợi thế ưu đãi so với nước
vượt trội hơn. Nói cách khác, cơ chế trưởng thành có nghĩa là đối với một số sản
phẩm công nghiệp và nông nghiệp, những nước nhất định sẽ bị loại khỏi chế độ GSP.
+ Đối với những quốc gia/lãnh thổ có tổng sản phẩm quốc gia trên đầu người
hơn 6000 đô la trong năm 1991 (Ba -Ranh, Bru-nây, Hồng - Kông, Cô-Oét, Li-Bi, A-
rập Gia-Ma-Hi-Ri-Ya, NauRu, Ô-Man, Qua-ta, Hàn Quốc, A-Rập Xê-Út, Xingapo, Các
Tiểu vương quốc A-Rập thống nhất), theo dữ liệu cung cấp bởi Ngân hàng Thế giới,
giới hạn ưu đãi sẽ được giảm xuống tới 50% từ 1/4/1995 và được huỷ bỏ
từ1/6/1996;
+ Đối với những nước khác, giới hạn ưu đãi được giảm đến 50% từ 1/1/1997
và huỷ từ 1/1/1998;
- Cơ chế trưởng thành quốc gia
Những nước tiến bộ nhất đáp ứng tiêu chuẩn sau sẽ bị loại khỏi danh sách các
nước và lãnh thổ được hưởng:
+ Tổng sản phẩm quốc gia trên đầu người vượt quá 8210 đô la Mỹ trong năm
1995 theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Thế giới.
+ Chỉ số phát triển, tính theo công thức và số liệu do EU quy định, lớn hơn -1.
2. Những quy định khuyến khích đặc biệt
Đây là điểm nổi bật của chế độ GSP từ 1995. Nguyên nhân chính của điều này
là sự cần thiết phải mang tất cả các phương tiện hiện có - bao gồm thương mại - liên
quan tới việc giúp đỡ những nước được hưởng cải thiện khối lượng phát triển của họ
bằng cách chấp nhận những chính sách về môi trường và xã hội ưu việt hơn. Những
ưu thế ưu đãi bổ sungmà GSP đưa ra được thiết lập nhằm bù đắp chi phí phụ trội
phát sinh trong khi ban hành những chính sách như vậy cho những nước liên quan.
Khuyến khích đặc biệt hoạt động trên cơ sở giới hạn ưu đãi bổ sung, giới hạn
này được dành cho những nước được hưởng mà tuân thủ theo các tiêu chuẩn về lao
động và môi trường. Cụ thể hơn, khuyến khích đối với quyền lao động có thể được
dành chỉ cho những nước yêu cầu bằng văn bản và cung cấp bằng chứng rằng họ đã
chấp nhận và áp dụng vào luật quốc gia các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Thế
giới.
Khuyến khích về bảo vệ môi trường áp dụng chỉ cho những sản phẩm xuất xứ
tại những vùng rừng nhiệt đới và có thể cho những nước có yêu cầu và cung cấp
bằng chứng rằng họ thể chế hoá các tiêu chuẩn của Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế