Bao giờ thì những thị trường mới nổi không còn “đang nổi” nữa?
Cụm từ “những thị trường
mới nổi” đã xuất hiện hơn 25 năm
nay và vừa từng bước xác định lại
các ranh giới rộng lớn của một thế
giới đang phải trải qua sự thay đổi
kinh tế nhanh chóng. Nhiều quốc
gia bị sụt giảm kinh tế vì chính sự
thay đổi này mặc dù vẫn đang phát
triển theo tốc độ tăng trưởng cùng
với những đặc thù riêng của mình
trên con đường phát triển kinh tế.
Hiện nay, dù nhiều thị trường mới nổi đều cho thấy các tín hiệu về một tầng
lớp dân cư trung lưu mạnh mẽ và đang phát triển nhưng các quốc gia bên ngoài
vẫn tự hỏi liệu cụm từ này có đánh mất chút nào ý nghĩa của nó hay không. Bởi
ban đầu, cụm từ này được dùng để nói tới những nền kinh tế đang phát triển nhanh
ở Châu Á cũng như được sử dụng ở Đông Âu sau sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.
Và ngay khi lợi ích toàn cầu trong những nền kinh tế định hướng thị trường phát
triển thì các nhà đầu tư cũng bắt đầu hướng vào các nước Mỹ La-tinh như những
thị trường mới nổi và cuối cùng là những quốc gia khác như Inđônêxia, Thái Lan,
Trung Quốc, Ấn Độ và Nga.
Và theo Mauro Guillen, giáo sư quản lý trường Wharton thì: “Một khi bạn
bắt đầu xếp quá nhiều quốc gia vào cùng một thứ hạng thì thứ hạng đó sẽ mất đi ý
nghĩa. Trong khi Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan đều cùng có những nét đặc
trưng như nhau mà bạn lại xếp các quốc gia đó vào cùng một chỗ với Ấn Độ,
Mêhicô, Áchentina, Inđônêxia và Ba Lan thì nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Thế nên
cụm từ ‘những thị trường mới nổi’ đã trở thành nạn nhân của chính sự thành công
của nó.”
Còn với giáo sư quản lý trường Wharton, Gerald McDermott, thì ông cũng
đồng ý rằng định nghĩa đó hoàn toàn mập mờ, nhưng ý nghĩa ẩn sau cụm từ đó thì
Philip Nichols, giáo sư chuyên nghiên cứu luật và đạo đức kinh doanh của
trường Wharton cho rằng sự định nghĩa dựa trên các con số là không đầy đủ ý
nghĩa bằng với việc hiểu được cách mà hoạt động kinh doanh được tiến hành tại
một quốc gia. Theo ông, những nền kinh tế mới nổi là những nơi đang thay đổi từ
một hệ thống dựa trên các mối quan hệ thân mật thành một hệ thống chính thống
hơn với những nguyên tắc rõ ràng và áp dụng ngang bằng đối với tất cả những
người tham gia vào thị trường. “Chúng ta thường dùng các con số như thu nhập
hoặc thị trường tài chính (để định nghĩa những thị trường đó) nhưng điều đó lại
không có giá trị gì hết. Vì những kiểu định nghĩa như vậy không hề nói cho bạn
biết thực sự cái gì đang phát triển.”
Và theo lời Nichols thì cuộc Chiến tranh Lạnh đã làm nổ ra một cuộc thẩm
vấn toàn cầu về các hệ thống tài chính, không chỉ có trong Liên bang Xô Viết
trước kia mà còn bao trùm toàn thế giới. Những nền kinh tế được hoạch định ở các
nước Mỹ La-tinh đã bị thất bại và một thế hệ mới các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã
đề ra được những cải cách về kinh tế. “Điều hết sức ngạc nhiên đó là có quá nhiều
nơi đang kết hợp thành một khối với nhau dựa trên cùng một sự thay đổi này tại
cùng một thời điểm.”
McDermott cũng lưu ý rằng, theo sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết,
mức độ và tốc độ của sự dịch chuyển sở hữu từ chính phủ sang khu vực kinh tế tư
nhân thực sự quan trọng đối với việc định nghĩa các đặc tính chung của những thị
trường mới nổi. Tuy nhiên, điều đó đã dẫn tới những vấn đề liên quan tới một kết
quả khác về hình ảnh quá trình tư nhân hóa. Theo ông: “Nhiều tiêu chuẩn đánh giá
đều có liên quan tới việc bao nhiêu giá trị kinh tế thuộc sự kiểm soát của tư nhân.
Những tiêu chí này hoàn toàn không hữu ích bởi chúng khiến cho những người
không chịu thay đổi cũng bị phá sản mà những người thay đổi thực sự quá nhanh
cũng bị phá sản.”
McDermott vừa thực hiện nghiên cứu về các mô hình phát triển ở Đông Âu
và Mỹ La-tinh, đồng thời cũng nhận thấy rằng những điểm khác biệt theo sự phát
triển kinh tế có thể được kết nối tới cái mà ông gọi là “những chế độ hội nhập
Trong khi sự chú ý chủ yếu được tập trung vào sự phát triển nhanh chóng ở
Ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia mà thực sự gần như không có nơi nào được
coi là “đang nổi” hoàn toàn theo như đánh giá của các nhà phân tích lẫn các giảng
viên trường Wharton. Trong khi cả Ấn Độ và Trung Quốc đều được hưởng những
lợi ích của nền kinh tế phát triển thịnh vượng thì sự giàu có của quốc gia lại được
phân bổ không đồng đều và hầu hết dân chúng ở những nước này đều sống trong
tình trạng nghèo khổ.
Marshall Meyer, giáo sư quản lý trường Wharton, nói rằng nhiều thành phố
Trung Quốc dường như trở nên sành điệu như bất kỳ thành phố nào ở Châu Âu
hoặc Bắc Mỹ, nhưng những vùng nông thôn ở Trung Quốc thì thực sự vẫn còn
nguyên sự nghèo khổ hoang sơ. Ông lưu ý rằng thu nhập theo hộ gia đình cao hơn
đến 10 lần ở những thành phố bên miền duyên hải, kiểu như Thượng Hải, so với
những tỉnh nội địa nông thôn. Và ông đặt câu hỏi: “Có phải Trung Quốc vừa mới
nổi không?” Và theo Meyer thì: “Nếu bạn nhìn vào sự hình thành nguồn vốn cùng
với sự đầu tư tài sản cố định thì điều đó hoàn toàn đúng như vậy. Nhưng nếu bạn
nhìn vào thu nhập hiện tại theo hộ gia đình thì điều đó chưa có được.”
Và cũng theo Nichols thì cả Ấn Độ và Trung Quốc đều thực sự chưa đạt tới
được tình trạng “đang nổi”. Ông giải thích rằng cho dù là một người nước ngoài
thì người đó cũng hoàn toàn cảm thấy thoải mái khi tham gia ký hợp đồng ở
Singapore, còn ở Ấn Độ hoặc Trung Quốc thì không. Và theo Nichols thì: “Nếu
tôi định tiến hành kinh doanh ở Ấn Độ hoặc Trung Quốc, tôi phải thực sự hết sức
cẩn trọng, mà chính tôi phải thiết lập các nguyên tắc hơn là chỉ nên tin vào những
tổ chức nói rằng họ mở cửa cho những người nước ngoài. Bởi Trung Quốc đang
dịch chuyển một cách rõ ràng nhưng chỉ đối với những tổ chức hoạt động chính
thống và điều đó cũng là thực tế ở Ấn Độ. Mà bạn cũng có thể đôi khi trở nên ngớ
ngẩn nếu chỉ tin vào một bản hợp đồng, mặc dù Ấn Độ còn phát triển trước cả
Trung Quốc.”
Guillen cũng hết sức thận trọng khi nhấn mạnh rằng không có chung một con
đường dẫn tới sự thịnh vượng nền kinh tế. Ông nói: “Tất cả các quốc gia đều xuất
phát ở những vị trí khác nhau. Vì vậy, nếu họ thành công thì thực sự họ cũng tiến
hành theo những cách hoàn toàn khác nhau.”
Bert Van Der Vaart, giám đốc điều hành của quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
(Small Enterprise Assistance Funds), một hãng đầu tư toàn cầu cung cấp vốn và sự
hỗ trợ cho 29 thị trường mới nổi, nói rằng khu vực này ngày càng được chấp nhận
như một loại đầu tư mà thông thường nên chiếm từ 5% tới 15% tổng số tài sản.
Ông cho biết: “Sự phát triển tại những quốc gia này dường như đang có xu hướng
hết sức vững vàng và hơn cả mức độ trung bình của OECD. Và theo khả năng
phán đoán thì những nền kinh tế này đang ‘theo kịp’ nhau. Ở một mức độ nào đó,
liệu có bao giờ chúng ta thêm cụm từ ‘sự đầu tư xứng đáng’ đối với ‘những thị
trường mới nổi’ để có thể có được giá trị thặng dư không.”
Định nghĩa của ông loại trừ một số các quốc gia nghèo mà chính phủ của
chúng đều không sẵn sàng chấp nhận những cải cách thị trường thực sự, hoặc là
những nơi mà việc thực hiện các nguyên tắc được làm tốt tới mức họ chẳng còn
bận tâm về việc thu hút một lượng lớn sự đầu tư tư nhân nữa. Và theo lời Van Der
Vaart thì lấy ví dụ như Zimbabiuê, bất chấp tất cả các nguồn lực về con người và