Tổng quan về thương mại điện tử và thanh toán điện tử - Pdf 85

Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành

CHƯƠNG 1: Tổng quan về thương mại điện tử và thanh
toán điện tử.
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử.
1.1.1 Khái niệm và các loại hình thương mại điện tử.
1.1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử.
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về “thương mại điện tử”
nhưng tựu trung lại có hai quan điểm lớn như nêu ra dưới đây.
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp thương mại điện tử bao gồm các hoạt động thương mại được
thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về thương mại điện
tử theo hướng này.
Theo WTO thì thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán
hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, kể cả
được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những
thông tin số hóa thông qua mạng Internet.
Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm :
thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên việc
truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹp thương
mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thông qua
mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax,
telex... Thương mại điện tử là hình thức mua bán mà hàng hóa được bày tại các trang
Web trên Internet và được thanh toán bằng thẻ tín dụng. Qua hình thức mua bán và
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 1
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
thanh toán này, thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi
cách thức mua sắm .
Thương mại điện tử theo nghĩa rộng.

Các đối tác (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng
hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách "trực tuyến" thông qua mạng, gọi là
thư điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin ở dạng "phi
cấu trúc" (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã
thoả thuận trước (khác với "trao đổi dữ liệu điện tử" sẽ nói dưới đây).
b. Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua
thông điệp điện tử (electronic message). Sự hình thành và phát triển của TMĐT đã
hướng thanh toán điện tử mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là: trao đổi dữ liệu điện
tử tài chính, tiền mặt Internet, túi tiền điện tử hay két điện tử, thẻ thông minh, giao
dịch ngân hàng số hoá.
c. Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) là việc trao đổi
các dữ liệu dưới dạng "có cấu trúc" (structured form) từ máy tính điện tử này sang
máy tính điện tử khác trong nội bộ công ty, hay giữa các công ty (hay tổ chức) đã
thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự
can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận
từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật
thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã đưa ra định nghĩa pháp lý sau đây: "Trao đổi
dữ liệu điện tử" (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 3
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử trong đó sử dụng một tiêu chuẩn đã được
thoả thuận về cấu trúc thông tin."
Trên bình diện này, nhiều khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn
bán giữa các nước có quan điểm, chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau về
căn bản, đòi hỏi phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan
điểm về tự do hoá thương mại và tự do hoá việc sử dụng Internet; chỉ như vậy mới
đảm bảo được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện
tử (EDI).

giao dịch thương mại điện tử càng nhiều với mức độ càng cao thì nước đó càng có
lợi thế phát triển và trở thành người dẫn đầu trong một nền kinh tế thế giới số hóa.
Mỗi quốc gia có thể áp dụng một loại hình TMĐT đặc thù, nhưng nhìn chung
tuân thủ mô hình tổng quan sau:
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 5
Ebook.VCU www.ebookvcu.com Giỏo trỡnh chuyờn ngnh
Hỡnh 1.1: Mụ hỡnh tng quan cỏc thnh viờn tham gia h thng thng mi in t
ca mt quc gia.
Theo mụ hỡnh ny ta thy rng khi thc hin TMT thỡ i tng cn tham
gia u tiờn l nh nc, cỏc n v cung ng c s h tng; Tham gia vo phn dch
v l cỏc t chc m nhn thanh toỏn v to dch v nh ngõn hng, t chc ti
chớnh-tớn dng, t chc th (cỏc loi th...), cỏc cụng ty bo him;
Ngi tiờu dựng sau khi ó c cp xỏc thc tham gia vo h thng ny
cú th s dng tt c cỏc dch v cú sn trờn ú. Vỡ õy tin in t úng vai trũ
then cht trong vic thc hin cỏc giao dch in t bng c s h tng núi trờn, cho
nờn, m bo mi thnh viờn trong xó hi u cú quyn tham gia sau khi ó c
xỏc nhn.
Vi mụ hỡnh ny, thnh viờn cú li nhiu nht trờn TMT l cỏc t chc/cỏc
nh m trỏch phn vn chuyn hng hoỏ do lu lng hng hoỏ v kh nng lu
Ebook.VCU Khoa Thng Mi in T 6
Người tham gia Thanh toán
Banks/Financial Institute/
Credit Cards/ Smart Cards
Cơ quan Công chứng Điện tử
cho người tham gia
Cơ quan Cấp phát chứng nhận CA
Mạng mở
Công nghệ mã hoá/
Chữ ký điện tử
Doanh nghiệp/Công ty

Ebook.VCU Khoa Thng Mi in T 7
Electronic Ecommerce = World Wide Manufacturing Web
+ Borderless Marketing
Internet
Intranet
Dịch vụ
Thông tin
Trực tuyến
Hệ thống
Thanh toán
Điện tử
Xác nhận
Điện tử
R & D
Thiết kế
Sản phẩm
Mua sắm
Phân phối &
Hậu cần
Kiểm soát
sản xuất
Hỗ trợ
Internet
Intranet
Mã hoá và
Mật mã
Dịch vụ
Thông tin
Trực tuyến
Hệ thống

mới mang tính cạnh tranh hơn đồng thời thuyết phục người tiêu dùng hơn.
1.1.2.3 Mô hình giao dịch thương mại điện tử B2B và B2C.
Trong TMĐT quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp
với người tiêu dùng được thể hiện qua sơ đồ sau:
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 8
Ebook.VCU www.ebookvcu.com Giỏo trỡnh chuyờn ngnh
EC người tiêu dùng EC giữa các Công ty
D
â
n

t
h
ư

n
g

-

K
h
u

v

c

k
i


n

h
ì
n
h

c
á
p

-

T
h
ô
n
g

t
i
n

q
u
a

m
á

e
r
n
e
t


Ngân hàng thanh toán
Lưu thông hàng hoá
Hàng hoá
Hàng hoá
Hỡnh 1.3: Mụ hỡnh chung v thng mi in t B2B v B2C
Mi quan h khng khớt do TMT to nờn qua vic thc hin mua, bỏn, giao
dch ó to cho vic phỏt trin nhng h thng thanh toỏn t ng, lm cho cỏc
doanh nghip v ngi tiờu dựng gn gi nhau hn, rng buc trỏch nhim hn,
ng thi phỏt huy mnh chc nng ca cỏc t chc ti chớnh v ngõn hng trong
vic to ra cỏc dch v em li hiu qu trong sn xut ca doanh nghip, tng nhanh
chu trỡnh tỏi sn xut.
Nh vy, thng mi in t ó em li nhng li ớch tim tng khụng ch i
vi cỏc doanh nghip m cũn i vi h thng ngõn hng, cỏc t chc v ngi tiờu
dựng. Khỏch hng cú thờm thụng tin phong phỳ v th trng v i tỏc, gim chi
phớ, d dng to dng v cng c mi quan h; rỳt ngn chu trỡnh sn xut, tỏi - to
nhiu sn phm mi trờn quan im chin lc lõu di; giỳp v thỳc y cho s phỏt
trin cụng ngh thụng tin trong giai on chuyn tip sang kinh t s hoỏ, kinh t tri
Ebook.VCU Khoa Thng Mi in T 9
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
thức- một xã hội thông tin với một xu thế tất yếu không thể đảo ngược.
1.2 Tổng quan về thanh toán điện tử.
1.2.1 Khái niệm.
Thanh toán điện tử (Electronic Payment): Là việc thanh toán tiền qua thông
điệp điện tử (electronic message) thay cho việc giao tay tiền mặt.
Theo cách hiểu như trên, thanh toán điện tử (TTĐT) là hệ thống thanh toán
dựa trên nền tảng công nghệ thông tin. Việc thanh toán được thực hiện qua máy tính
và mạng máy tính, nối mạng với các đơn vị thành viên tham gia thanh toán. Việc
chuyển những chứng từ bằng giấy thành những “chứng từ điện tử” đã làm cho
khoảng cách giữa các đơn vị thành viên được thu hẹp lại như trong cùng một ngân
hàng, giúp cho quá trình thanh toán nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu chu chuyển

mạng lưới, tùy theo sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế, xây
dựng và tổ chức thực hiện mà hệ thống chuyển tiền điện tử được gọi là hệ thống
thanh toán hay hệ thống chuyển tiền.
Thanh toán điện tử là việc chuyển và hoàn tất một lệnh thanh toán thông qua
mạng máy tính giữa các chi nhánh trong nội bộ một ngân hàng hoặc giữa các ngân
hàng, trong đó có các chủ thể tham gia thanh toán.
Như vậy hệ thống thanh toán điện tử nội bộ thực chất là thanh toán liên hàng,
làm nghiệp vụ chuyển tiền, chuyển vốn giữa các chi nhánh trong nội bộ ngân hàng,
và không làm thay đổi tổng nguồn vốn của ngân hàng.
1.2.3.2 Hệ thống thanh toán điện tử đa ngân hàng.
Thanh toán điện tử đa ngân hàng là hệ thống thanh toán giữa hai hay nhiều
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 11
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
ngân hàng thương mại (NHTM) hay chi nhánh NHTM trong và ngoài hệ thống, trên
cùng địa bàn hoặc khác địa bàn. Hệ thống này được thể hiện dưới hai hình thức:
thanh toán song biên giữa hai ngân hàng thương mại và thanh toán điện tử liên ngân
hàng.
a. Thanh toán song biên giữa hai NHTM.
Trong trường hợp này, việc thanh toán diễn ra trực tiếp giữa hai ngân hàng,
không có sự can thiệp của ngân hàng trung gian đầu mối. Thông thường, thanh toán
song biên được thực hiện dưới hai hình thức: thanh toán bằng cách mở tài khoản tiền
gửi với nhau hoặc uỷ nhiệm thu hộ chi hộ.
 Thanh toán mở tài khoản tiền gửi với nhau tại các NHTM
Trong trường hợp tần suất thanh toán giữa hai ngân hàng thương mại cao
trong khi không tổ chức thanh toán liên hàng được (vì không cùng hệ thống), không
tổ chức thanh toán bù trừ được (vì không cùng địa bàn), các NHTM có thể ký kết
hợp đồng thanh toán bằng cách mở tài khoản tiền gửi với nhau Tuy nhiên, việc mở
tài khoản lẫn nhau làm cơ sở cho việc thanh toán cho nhau có hạn chế là gây đọng
vốn cho các ngân hàng thương mại.
 Uỷ nhiệm thu hộ chi hộ giữa các NHTM

tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh toán, chiếm dụng vốn lẫn nhau và hạn chế khả năng
kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước trung ương.
 Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng có thể xử lý thanh toán bù
trừ tự động tất cả các khoản thanh toán điện tử phát sinh trong cả nước giữa các ngân
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 13
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
hàng khác hệ thống với nhau. Trong hệ thống này, việc thanh toán bù trừ bằng chứng
từ truyền thống được thay thế dần bằng chứng từ điện tử hoàn toàn tự động với các
trung tâm xử lý thanh toán bù trừ tự động bằng điện tử được xây dựng tại các tỉnh và
thành phố. Việc quyết toán cuối cùng được thực hiện tại trung tâm thanh toán quốc
gia, nơi mở tài khoản tiền gửi thanh toán của các ngân hàng thương mại.
1.2.3.3 Hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế qua SWIFT
SWIFT là từ viết tắt của Society for Worldwide Interbank Financial
Telecommunication. Đây là một tổ chức hoạt động theo đạo luật của Bỉ, có trụ sở tại
Brucxen. Tổ chức này hoạt động không vì lợi nhuận, cung cấp cho các Ngân hàng
thành viên một mạng riêng để chuyển giao dữ liệu trên phạm vi toàn cầu. SWIFT đã
sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Organization – ISO) và
ngược lại ISO cũng sử dụng định dạng các bức điện trong thanh toán liên Ngân hàng
phù hợp với chuẩn mực do SWIFT đưa ra.
Mục đích hoạt động của SWIFT là chuyển những thông tin thanh toán, giá
thành hạ, an toàn, nhanh chóng, không dùng chứng từ giữa ngân hàng với ngân
hàng. Mọi thông tin của SWIFT đều được mã hoá mà chỉ những người có phận sự
mới nắm được.
Ngày nay, thị trường tài chính-tiền tệ phát triển và quốc tế hoá cao, hoạt động
liên tục 24/24 giờ, 7/7 ngày trong tuần và 365 ngày trong năm. Trên thị trường ấy,
giao dịch mua, bán hết sức sôi động, giá cả biến động từng giờ, từng phút và luân
chuyển liên tục từ quốc gia, châu lục này sang quốc gia, châu lục khác với khối
lượng thanh toán lớn, đạt con số khó tưởng tượng nổi. Trong khi tổng doanh số
thương mại dịch vụ thông thường trên toàn thế giới đạt khoảng 4.000 tỷ USD thì

Home-banking mang lại những lợi ích thiết thực: nhanh chóng- an toàn- thuận tiện.
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 15
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Khẩu hiệu “Dịch vụ ngân hàng 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần” chính là ưu thế
lớn nhất mà mô hình ngân hàng “hành chính” truyền thống không thể nào sánh
được.
Dịch vụ ngân hàng tại nhà được xây dựng trên một trong hai nền tảng: hệ
thống các phần mềm ứng dụng (Software Base) và nền tảng công nghệ web (Web
Base), thông qua hệ thống máy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng,
thông tin tài chính sẽ được thiết lập, mã hoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và
khách hàng. Mặc dù có một số điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, chu trình sử dụng
dịch vụ ngân hàng tại nhà bao gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Thiết lập kết nối.
Khách hàng kết nối máy tính của mình với hệ thống máy tính của ngân hàng
qua mạng Internet, sau đó truy cập vào trang web của ngân hàng phục vụ mình (hoặc
giao diện người sử dụng của phần mềm). Sau khi kiểm tra và xác nhận khách hàng
(khách hàng nhập User ID, Password… và hệ thống máy tính kiểm tra, xác nhận),
khách hàng sẽ được thiết lập một đường truyền bảo mật (https) và đăng nhập (login)
vào mạng máy tính của ngân hàng.
Bước 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ.
Dịch vụ ngân hàng điện tử rất phong phú và đa dạng, có thể là truy vấn thông
tin tài khoản, thiết lập nghiệp vụ chuyển tiền, hủy bỏ việc chi trả séc, thanh toán điện
tử … và rất nhiều các dịch vụ trực tuyến khác.
Trên website (hoặc giao diện người sử dụng) có sẵn hệ thống Menu chọn lựa
và hướng dẫn cụ thể các bước để thực hiện quá trình giao dịch. Tất cả mọi việc
khách hàng phải làm chỉ là chọn dịch vụ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của dịch
vụ và của ngân hàng.
Bước 3: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin và thoát khỏi mạng:
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 16
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành

ngân hàng như lãi suất, tỷ giá hối đoái, chuyển tiền, thanh toán hoá đơn và dịch vụ
hỗ trợ khách hàng,..thực hiện mọi lúc mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính.
c. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile-banking):
Mobile-banking là một kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ
thống mạng điện thoại di động. Về nguyên tắc, đây chính là quy trình thông tin được
mã hoá, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động
của khách hàng (ĐTDĐ, Pocket PC, Palm…).
Với dịch vụ thanh toán thông qua hệ thống Mobile-banking khách hàng có thể
thanh toán tiền mua sắm hàng hoá dịch vụ tại các siêu thị, nhà hàng, trang web bán
hàng trên mạng…. Khi khách hàng gửi tin nhắn yêu cầu thanh toán theo mẫu có sẵn,
ngân hàng sẽ gửi tin nhắn để xác nhận giao dịch và thực hiện việc trả tiền cho các
đại lý. Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể sử dụng dịch vụ này để thanh toán hoá
đơn (tiền điện, tiền nước, cước điện thoại cố định và điện thoại di động…) hay thậm
chí có thể giao dịch chứng khoán qua điện thoại di động chỉ bằng vài tin nhắn đơn
giản.
d. Internet-banking:
Internet banking cũng là một trong những kênh phân phối các sản phẩm dịch vụ
của ngân hàng, “đưa” ngân hàng đến từng nhà, từng văn phòng, trường học, đến bất
kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào. Với máy tính kết nối Internet, khách hàng của ngân
hàng sẽ được cung cấp và được hướng dẫn các sản phẩm, các dịch vụ của ngân hàng.
Qua Internet-banking khách hàng có thể gửi đến ngân hàng những thắc mắc, góp ý
với ngân hàng và được trả lời sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên, so với dịch vụ
Home-banking hoặc Kiosk-banking thì dịch vụ Internet-banking vẫn còn được cung
cấp hạn chế và đòi hỏi quá trình xác nhận giao dịch phức tạp hơn do độ bảo mật
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 18
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
không cao bằng hai dịch vụ trên.
e. Kiosk-banking
Kiosk-banking là sự phát triển của dịch vụ ngân hàng hướng tới việc phục vụ
khách hàng với chất lượng cao nhất và thuận tiện nhất. Trên đường phố sẽ đặt các

hàng. Đó là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin
National NewYork vào năm 1951.
Năm 1960, Ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng
riêng của mình, gọi là BankAmericard. Tiếp đó, việc phát triển mạng lưới đại lý và
chủ thẻ ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn nước Mỹ. Năm 1966, 14 ngân hàng
Mỹ đã liên kết với nhau hình thành tổ chức Hiệp hội thẻ liên ngân hàng (Interbank
Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi, liên kết các thông tin
về giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn ngân hàng ở California đổi tên từ
California Bankcard Association thành Western States BankCard Association
(WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở
phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là Master Charge.
Vào cuối thập niên 60, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của
MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với BankAmericard. Năm 1968, ICA mở rộng
thành viên ra khỏi phạm vi nước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính Châu Âu,
hình thành tổ chức Eurocard. Cũng trong những năm đó, thành viên đầu tiên của
Nhật tham gia vào tổ chức ICA. Năm 1977, BankAmericard đổi tên thành Visa
International (có trên 1,2 tỷ chủ thẻ). Năm 1979, MasterCharge đổi tên thành
MasterCard (hiện nay có khoảng trên 500 triệu chủ thẻ). Trong những năm tiếp theo,
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 20
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
ngày càng nhiều tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương trình thẻ ngân
hàng.
Ngoài các loại thẻ chính kể trên, các sản phẩm thẻ khác với thị phần ít hơn
cũng lần lượt hình thành và phát triển như American Express - năm 1958, Diners
Club - năm 1950, JCB - năm 1961.
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng
phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc
để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi
số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát
hành thẻ và chủ thẻ. Hóa đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối

chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một cách tự động, dẫn đến việc
quá trình thanh toán diễn ra rất dễ dàng tiện lợi và nhanh chóng.
2.1.3 Cấu tạo của thẻ
Các loại thẻ thường có đặc điểm chung là: Được làm bằng Plastic, có kích
thước theo tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm; 8,5cm. Thẻ thường dày từ 2-2,5mm. Trên
thẻ có in các thông số nhận dạng như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của
nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực (ngày cuối cùng có hiệu lực)
… và một số đặc tính khác tùy theo quy định của các Tổ chức thẻ quốc tế hoặc Hiệp
hội phát hành thẻ…
Mặt trước của thẻ:
- Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của
tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một đặc tính mang tính an ninh nhằm
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 22
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
chống giả mạo. Ví dụ:
+ VISA: Hình chữ nhật 3 mầu: xanh, trắng, vàng có chữ Visa chạy ngang giữa
màu trắng, trên hình chữ nhật 3 mầu là hình chim bồ câu đang bay in chìm.
+ MASTERCARD: Có 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một
hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ Mastercard nằm ở giữa; trên hai
hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm.
+ JBC: Biểu tượng 3 mầu xanh công nhân, đỏ xanh lá cây, có chữ JBC chạy
ngang giữa.
+ AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh.
- Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in
lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tùy theo từng loại thẻ mà chữ số
khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.
- Thời gian có hiệu lực của thẻ: Là thời gian mà thẻ được phép lưu hành. Tùy
theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên
đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ.
- Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của

và có nhiều ưu điểm nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ này
cũng đắt nên sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận
thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ
quốc tế vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và
chấp nhận loại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ.
Ebook.VCU – Khoa Thương Mại Điện Tử 24
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
 Theo chủ thể phát hành:
Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho
khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền
do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay,
không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ:
VISA,MASTERCARD, JBC…
Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Đó là các loại thẻ du lịch giải trí
của các tập đoàn kinh doanh lớn, hoặc cũng có thể là thẻ do các công ty xăng dầu,
các cửa hiệu lớn phát hành,… Ví dụ: Thẻ Dinners Club, Amex…
 Theo cơ chế thanh toán của thẻ:
- Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ
được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại
những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và
thường được quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính,
tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức
đã cho. Chủ thẻ phải thanh toán cho Ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng.
Lãi suất tín dụng tùy thuộc vào quy định mỗi Ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng
tháng. Tính chất tín dụng của thẻ còn thể hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một
hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất
định. Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu
dùng.
- Thẻ ghi nợ: Với loại thẻ này, chủ thẻ có thể chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ
dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai của mình tại ngân hàng phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status