Chọn lọc các dòng vô tính keo lá tràm (acacia auriculiformis) có năng suất, chất lượng cao cho trồng rừng một số tỉnh phía bắc - Pdf 85


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------- PHẠM THU HÀ CHỌN LỌC CÁC DÕNG VÔ TÍNH KEO LÁ TRÀM
(ACACIA AURICULIFORMIS) CÓ NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CAO CHO TRỒNG RỪNG MỘT SỐ
TỈNH PHÍA BẮC L
L
U
U


N

H
O
O
A
AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H

PHẠM THU HÀ

CHỌN LỌC CÁC DÕNG VÔ TÍNH KEO LÁ TRÀM
(ACACIA AURICULIFORMIS) CÓ NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CAO CHO TRỒNG RỪNG MỘT SỐ
TỈNH PHÍA BẮC CHUYÊN NGÀNH: LÂM NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.60
L
L
U
U


N
NV

AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I



Thái Nguyên, tháng 10 năm 2008
Tác giả Phạm Thu Hà

ii
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm - Thái
Nguyên, Ban Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng - Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam đề tài đã được triển khai nghiên cứu tại trạm giống cây
rừng Ba Vì - Hà Tây - Hà Nội thuộc trung tâm nghiên cứu giống cây rừng. Sau
hơn một năm thu thập, xử lí số liệu, viết và chỉnh sửa đến nay luận văn đã hoàn
thành. Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo thạc sỹ Lâm nghiệp
cao học trong nước hệ không tập chung, khoá học 2005 - 2008 của Trường Đại
học Nông Lâm - Thái Nguyên.
Có được kết quả này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc tới TS. Hà Huy Thịnh thầy giáo hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo và giúp
đỡ tôi có được những kiến thức về chuyên môn thiết thực trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
Qua đây tôi xin cảm ơn BCN Khoa Lâm nghiệp và Khoa sau đại học -
Trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có
thể hoàn thành nhiệm vụ. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã trực
tiếp giảng dạy tôi trong hơn 3 năm học vừa qua.
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn về sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tuỵ của Ban giám
đốc và toàn thể cán bộ, công nhân viên của Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng,
đặc biệt là Ths. Phí Hồng Hải, Ths. Nguyễn Đức Kiên và Ths. Mai Trung Kiên đã
đóng góp những ý kiến quý báu cho bản luận văn của tôi được hoàn thiện nhất.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức mình, học hỏi

mục đích khác như xây dựng, đồ gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi... Đây cũng là
loài cây có nốt sần chứa cả Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng tổng
hợp nitơ tự do trong không khí rất cao (Dart và các cộng sự, 1991), có khả
năng thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu đất đai ở nước ta từ vùng cát ven
biển tương đối khô hạn đến vùng núi thấp dưới 400m ở Tây Nguyên. Từ năm
1980, nòi địa phương Đồng Nai của Keo lá tràm đã được lấy giống để gây
trồng ở nhiều nơi. Nếu nguồn giống tốt, điều kiện sinh thái và lập địa phù hợp
sẽ tạo ra khối lượng gỗ lớn không những đáp ứng được nhu cầu trong nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
mà còn có thể xuất khẩu sang nước ngoài. Những năm gần đây một loạt các
công trình nghiên cứu dòng vô tính keo lá tràm đã được thực hiện nhằm cải
thiện chất lượng di truyền.
Keo lá tràm là một trong những loài cây đáp ứng được mục tiêu của
trồng rừng sản xuất của nước ta trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Có khả năng thích ứng lớn có thể trồng trên đất trống đồi núi trọc, vừa có khả
năng cung cấp gỗ nguyên liệu vừa có khả năng cung cấp gỗ lớn có giá trị để
làm đồ mộc. Vì vậy, đây là một trong những loài cây chính được dùng trong
trồng rừng sản xuất ở nhiều vùng trong cả nước. Nói đến trồng rừng sản xuất
thì năng suất rừng là vấn đề quan trọng hàng đầu, trong đó công tác giống là
vấn đề rất quan trọng vì có giống tốt sẽ làm tăng năng suất và chất lượng
rừng. Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá tràm được thực hiện ở Trung
tâm nghiên cứu giống cây rừng từ năm 1991 đến nay qua các đề tài nghiên
cứu khoa học. Giai đoạn 1991- 1995 đề tài cấp nhà nước “Xây dựng cơ sở
khoa học cho việc cung cấp nguồn giống cây rừng được cải thiện - mã số KN
03 - 03” và kế tiếp giai đoạn 1996 - 2000 là đề tài cấp nhà nước “Chọn giống
và nhân giống cho một số loài cây rừng chủ yếu - mã số KH 08- 04” do Giáo
sư Lê Đình Khả làm chủ nhiệm và Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Nghĩa làm chủ đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm canh.
Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng
suất rừng lên cao. Trong dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng, có 2 triệu hecta
rừng sản xuất và 1 triệu hecta rừng phòng hộ. Giống có vai trò cực kỳ quan
trọng trong công tác trồng rừng, đặc biệt đối với trồng rừng sản xuất. Vì thế
nghiên cứu chọn tạo giống cây rừng là một khâu không thể thiếu trong sản
xuất lâm nghiệp.
Công tác giống có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện dự án
trồng rừng. Dù trồng rừng sản xuất hay trồng rừng phòng hộ thì dùng giống
có chất lượng di truyền được cải thiện mới mau đem lại hiệu quả. Chọn loài
cây cho trồng rừng phải căn cứ vào mục tiêu kinh tế và/ hoặc phòng hộ được
đặt ra, có thị trường tiêu thụ mau đạt hiệu quả và phù hợp điều kiện lập địa ở
nơi gây trồng. Cây ngoại lai hay cây bản địa đáp ứng yêu cầu này đều có vai

xứ đã được khảo nghiệm trước đây tại Việt Nam và Thái Lan được đánh giá
là những xuất xứ tốt nhất. Mỗi xuất xứ được lấy từ một số cây trội nhất định,
hạt lấy từ cây trội được thụ phấn tự do coi là một gia đình (family) (Phi Hong
Hai, 1999) 36 . Các gia đình này được trồng thành vườn giống theo khối hàng
4 cây lặp lại 8 lần hoàn toàn ngẫu nhiên. Đánh giá tổng hợp các vườn giống
sau 3 năm về sinh trưởng của cây theo gia đình và theo xuất xứ, từ đó giữ lại
những gia đình tốt nhất của các xuất xứ có triển vọng, tỉa bỏ những cá thể và
những gia đình xấu để thành vườn giống lấy hạt (Seed orchard) cung cấp
giống trồng rừng ở Việt Nam (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) 15 . Qua đó
chọn ra được những xuất xứ, gia đình và cá thể xuất sắc nhất của vườn giống
để tiếp tục nhân giống và khảo nghiệm dòng vô tính. Mục đích của việc khảo
nghiệm các dòng vô tính Keo lá tràm nhằm chọn ra các dòng sinh trưởng,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
phát triển tốt, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh và khả
năng nhân giống cao, thích ứng tốt với các vùng sinh thái khác nhau, phục vụ
cho công tác trồng rừng.
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÂY KEO LÁ TRÀM
Keo Acacia là một chi thực vật họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae) thuộc
họ Đậu (Leguminosae) bao gồm khoảng 1200 loài có phân bố rộng ở châu Á,
và châu Đại Dương. Riêng Austrailia có khoảng 850 loài Keo Acacia với
hàng trăm loài có lá giả (Pedley, 1987) 35 . Ở Việt Nam, vào đầu những năm
1960 gần 20 loài Keo Acacia được đưa vào thử nghiệm gây trồng, Keo lá
tràm là một trong những loài có khả năng thích nghi cao và sinh trưởng nhanh
do đó trở thành loài cây trồng rừng phổ biến ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn
Hoàng Nghĩa, 1997) 18 .
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis A.Cunn. ex Benth), có nơi còn gọi
là Tràm bông vàng (vì chúng có lá giống lá cây Tràm và có hoa màu vàng) là

độ 130
0
đến 135
0
đông), Cape York Peninsula, Queesland và trên đảo Torres
Strait ở độ cao 150m (10
0
đến 16
0
vĩ nam và 142
0
đến 145
0
kinh đông).
Ở Papua New Guinea Keo lá tràm chủ yếu ở phía Tây từ vùng giáp
ranh Irian Jaya đến vùng sông oriomo. Tại Indonesia chúng có phân bố gần
Papua New Guinea và trên đảo Kai Island chủ yếu ở độ cao từ 5 đến 20m
(Pinyopusarerk. K, 1984) [38]. Ở nước ta, Keo lá tràm là cây nhập nội đã được
gây trồng rộng rãi ở hầu hết các địa phương, đây là loài cây thích ứng khá
rộng với các vùng sinh thái khác nhau của nước ta, từ điều kiện khí hậu, đất
đai của vùng cát ven biển tương đối khô hạn miền Trung đến vùng núi thấp
dưới 400m ở Tây nguyên. (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [15]
Gỗ Keo lá tràm có tỷ trọng từ 0,5 đến 0,6 thậm chí 0,7 nhiệt lượng cao
4800 đến 4900 kcal/kg (Viện hàn lâm khoa học Mỹ, 1984), trong thành phần
hoá học gỗ chứa 48-50,5% cellulose, 23,5-25,5% lignin và 19,6-22,7%
pentosan (Lê Đình Khả ,1999) [16], vì vậy thường được sử dụng làm chất đốt,
làm giấy sợi, gỗ xây dựng và đồ mộc. Ngoài ra, Keo lá tràm cũng là loài cây
có nốt sần ở rễ chứa cả Rhizobium và Bradyrhizobium có khả năng tổng hợp
Nitơ trong khí quyển rất cao, do đó khả năng cải tạo đất của chúng rất hiệu
quả. Nhiều nơi đã dùng Keo lá tràm như là một trong những loài cây tiên

vùng sinh thái cụ thể, cũng cần phải nghiên cứu để hiểu biết đầy đủ về đặc
tính sinh vật học, lâm học… của loài cây đó. Đây chính là nhiệm vụ rất quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
trọng, vì nắm vững các đặc tính trên sẽ đề ra các biện pháp kỹ thuật gây trồng
một cách chính xác. Đối với Keo lá tràm cũng vậy, hầu hết các nước có nhập
nội hoặc ngay cả những nước nguyên sản của chúng cũng đều tập trung
nghiên cứu về những lĩnh vực này.
Theo Verdcourt (1979) 44 thì Keo lá tràm là loài cây gỗ nhỏ đến trung
bình cao khoảng 8 đến 20m nhưng ở những nơi có lập địa thích hợp Keo lá
tràm có thể cao đến 30m, đường kính đạt từ 80cm đến 90cm. Tán Keo lá tràm
khá dày, rộng và xanh quanh năm, màu lá xanh lục đậm. Vỏ Keo lá tràm màu
nâu, dày từ 3-10mm có nứt dọc nhỏ. Cây non có vỏ mền màu xám, nhẵn sau
trở nên xù xì chuyển màu đậm dần theo tuổi.
Khi ở giai đoạn cây mầm, lá Keo lá tràm là lá kép lông chim. Sau
khoảng 20 ngày nảy mầm, cây cho ra các lá có phiến rộng, mỏng do cuống lá
biến đổi thành tuy vậy trên đầu lá vẫn mang đôi lá kép như lá ban đầu (lá thật).
Hoa của Keo lá tràm là hoa tự chùm dài 8 - 10cm mọc thành từng đôi
từ nách lá, mỗi hoa nhỏ dài 0,5 -1,5cm ở vùng nguyên sản Keo lá tràm ra hoa
vào tháng 6, tháng 7.
Quả của Keo lá tràm là quả đậu, dẹt và mỏng dài 6 - 10cm. Khi còn non
quả thẳng, khi già quả cuộn lại xoắn ốc, vỏ quả hoá gỗ cứng. Mỗi quả mang
5-7 hạt nằm ngang trong vỏ, có dây rốn dài màu vàng cuốn lại dính vào vách
vỏ quả. Quả Keo lá tràm chín vào tháng 9, tháng 10.
Hạt Keo lá tràm dẹt hình bầu dục dài 4- 6mm, rộng 3- 4mm, dày
khoảng 1mm. Khi chín hạt màu nâu đen, vỏ hạt rất cứng 1kg có từ 30.000-
60.000 hạt.
Nghiên cứu của Pinyopusarerk (1984) 38 về Keo lá tràm cho thấy ở

Theo Brewbaker (1986) 26 khi tổng kết tình hình sinh trưởng của Keo
lá tràm ở Indonesia cho thấy trong những điều kiện thuận lợi về khí hậu
(lượng mưa bình quân >2000mm) đất đai tốt thì Keo lá tràm sinh trưởng
mạnh ở tuổi 10 đến 12 cao từ 15m- 18m, đường kính 15cm - 20cm và năng
suất có thể đạt được 20m
3
- 25m
3
/ha/năm. Tuy vậy trên những vùng đất bạc
màu bị xói mòn mạnh thì năng suất chỉ đạt 8m
3
- 10m
3
/ha/năm và ở những nơi
có lượng mưa thấp, mùa khô kéo dài trồng không bón phân thì năng suất chỉ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
còn 2m
3
đến 4m
3
/ha/năm. Điều này giống với năng suất rừng Keo lá tràm
trồng quảng canh ở nước ta hiện nay.
Nghiên cứu tuổi khai thác của Keo lá tràm trồng trên đất hoang hoá ở
Indonesia của Djuwadi, Fanani và Durbari (1981) 29 cho thấy lượng tăng
trưởng hàng năm và lượng tăng trưởng bình quân hàng năm bằng nhau ở tuổi
14, sau đó giảm dần và đến tuổi 18 thì lượng tăng trưởng hàng năm bằng
không. Vì vậy, tác giả đề nghị tuổi khai thác của Keo lá tràm nên ở tuổi 14.

Keo lá tràm đã được nghiên cứu và ghi nhận ở rất nhiều nước trên thế giới
như Australia (Harwood và cộng sự, 1991) [30]; Thái Lan (Luangviriyasaeng
và cộng sự, 1991); Zaire (Khasa và cộng sự, 1995); Indonesia (Otsamo và
cộng sự, 1996) và Malaysia (Nor Aini và cộng sự, 1997). Các xuất xứ có
nguồn gốc từ Papua New Guinea (PNG) có sinh trưởng sinh khối lớn hơn các
xuất xứ có nguồn gốc từ Queensland (Qld) và Northern Territory (NT) nhưng
các xuất xứ có nguồn gốc từ (Qld) lại có tỷ lệ cây một thân cao hơn, có hình
dạng thân đẹp hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Pinyopusarerk và cộng sự,
1997 tại Thái Lan [39] lại cho thấy rằng các xuất xứ từ Queensland (Qld) sinh
trưởng tốt hơn và có hình dạng thân đẹp hơn các xuất xứ từ Papua New
Guinea (PNG) và Northern Territory (NT).
Nghiên cứu của Nor Aini và các cộng sự, 1997 [33] tại Malaysia trên
khảo nghiệm xuất xứ 4 năm tuổi cho thấy không những các xuất xứ khác nhau
thì sinh trưởng khác nhau mà tỷ trọng của gỗ cũng sai khác rất lớn. Các xuất
xứ có sinh trưởng tốt nhất đồng thời cũng là những xuất xứ cho tỷ trọng gỗ
cao nhất, trong khi các xuất xứ sinh trưởng kém có tỷ trọng gỗ thấp nhất.
Tính chất chống chịu của Keo lá tràm cũng đã được các nhà khoa học quan
tâm trong quá trình chọn giống. Nghiên cứu của Marcar và các cộng sự 1991
cho thấy các xuất xứ Keo lá tràm có sự khác biệt rất lớn về khả năng chịu mặn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
và chịu úng ngập, điều đáng chú ý là sinh trưởng của các xuất xứ không có sự
tương quan với các chỉ tiêu này.
Song song với các khảo nghiệm loài và xuất xứ, trong khoảng 10 năm
gần đây các kỹ thuật di truyền phân tử cũng đã được áp dụng rộng rãi trong
nghiên cứu chọn giống cây rừng. Các nghiên cứu di truyền phân tử được dùng
trong đánh giá mức độ đa dạng di truyền trong quần thể và giữa các quần thể,
tỷ lệ giao phấn chéo trong quần thể. Các nghiên cứu của Wickneswari. R và

rừng, 1982 [6] của Thái Văn Trừng, 1982 [21] và của Lê Đình Khả, 1993 [12]
giới thiệu Keo lá tràm là một trong những loài cây có khả năng cải tạo đất,
phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Năm 1986, Cao Thọ Ứng và Nguyễn Xuân Quát đã có công trình
nghiên cứu khá toàn diện về các biện pháp kỹ thuật gây trồng Keo lá tràm
[23], tiếp đó Bộ lâm nghiệp sau khi tổng kết nhiều kết quả nghiên cứu đã phổ
biến Quy phạm kỹ thuật tạm thời trồng Keo lá tràm, hướng dẫn trồng Keo lá
tràm bằng cây con có bầu [2]. Trần Hậu Huệ, 1995 [10], đã đánh giá tiềm
năng tái sinh của Keo lá tràm như sau “những cây mạ tái sinh dày đặc, kín cả
mặt đất ở những nơi vừa khai thác trắng nhất là những nơi vừa qua mới bị
cháy”. Từ đó tác giả cho rằng khả năng xúc tiến tái sinh hạt của Keo lá tràm
là rất triển vọng khi kết hợp với các phương pháp làm đất và xử lý thực bì.
Nói chung ở Việt Nam hiện nay, phương pháp trồng rừng Keo lá tràm bằng
cây con có bầu vẫn là chủ yếu. Thời gian gần đây, một số nơi đã xúc tiến thử
nghiệm phương pháp gieo hạt thẳng bằng máy bay song kết quả vẫn chưa
được tổng kết.
Nhu cầu của xã hội về sản phẩm gỗ ngày càng nhiều, rừng trồng Keo lá
tràm không chỉ mang tính phòng hộ như trước đây mà còn phải đáp ứng về
mặt gỗ, củi. Chính vì vậy, nghiên cứu về sinh trưởng cho Keo lá tràm được
các nhà khoa học trong nước quan tâm. Có thể điểm qua một số công trình
gần đây.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Nghiên cứu sinh trưởng cây Keo lá tràm ở lâm trường Trị An, tỉnh
Đồng Nai của Trần Hậu Huệ, 1995 [10] đã tổng kết được năng suất của rừng
trồng Keo lá tràm bằng phương thức hỗn giao với Bạch Đàn và trồng thuần
loại. Tuy vậy, số liệu đưa ra chỉ tổng kết kinh nghiệm từ sản xuất, chưa đưa ra
được phương pháp nghiên cứu cũng như phương pháp tính toán có tính khoa

Keo lá tràm là một trong những loài cây có nhiều tác dụng, vì vậy có một
số công trình trong nước nghiên cứu về công dụng của Keo lá tràm như: Khả
năng cố định đạm của Keo lá tràm (FAO - Vũ Công Hậu dịch năm 1992) [4],
Keo lá tràm có tác dụng làm thay đổi hoàn cảnh dưới tán rừng của Trần Hậu
Huệ, 1995 [10], v.v... Đáng chú ý là công trình nghiên cứu về nguyên liệu sản
xuất bột giấy của Lê Đình Khả và Lê Quang Phúc, 1993 [12], đã so sánh tiềm
năng bột giấy giữa Keo lai, Keo lá tràm và Keo tai tượng cho thấy hiệu suất
bột giấy của Keo lá tràm đứng hàng thứ hai sau Keo lai cũng như Logan. A.F,
1981 [32] đã nhận xét “Keo lá tràm vẫn được coi là loài để sản xuất ra loại
bột giấy tuyệt hảo và rất phù hợp với việc trồng rừng làm nguyên liệu giấy ở
các nước đang phát triển…”.
Nghiên cứu về tính chất gỗ Keo lá tràm của Hoàng Thúc Đệ, 1994 cho
thấy: Keo lá tràm ở tuổi 5 đến tuổi 6 thì tỷ lệ gỗ lõi chiếm 30 - 35%. Khối
lượng gỗ lõi là 0,427 g/cm
3
nhẹ hơn gỗ giác (0,504 g/cm
3
) vì phần giữa gỗ lõi
có một bộ phận chuyển sang thời kỳ xốp, mềm và nhẹ. Đây là vấn đề đáng
quan tâm vì tỷ lệ gỗ lõi tăng theo tuổi mà trong sản xuất giấy gỗ lõi có tỷ lệ
bột giấy thấp và tốn hoá chất tẩy rửa, nhưng tỷ lệ gỗ lõi càng cao lại phù hợp
với công nghệ đồ gia dụng, mỹ nghệ và trong xây dựng.
1.3.2.2. Các nghiên cứu về lĩnh vực cải thiện giống Keo lá tràm
Nhờ có nhiều ưu điểm nên Keo lá tràm nhanh chóng trở thành một
trong những loài cây chủ yếu để trồng rừng sản xuất ở nước ta. Như đã trình
bày ở phần trên, quá trình cải thiện giống Keo lá tràm đã được tập thể cán bộ,
công nhân viên của phòng Nghiên cứu giống thuộc Viện Lâm nghiệp tiền
thân của Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng hiện nay thực hiện từ những
năm 1991 trở lại đây thông qua một loạt các đề tài và dự án. Từ năm 1991 -
1995 đề tài cấp nhà nước “Xây dựng cơ sở khoa học cho việc cung cấp nguồn

khảo nghiệm đã cho thấy trong 5 loài Keo khảo nghiệm thì chỉ có 3 loài sinh
trưởng nhanh là Keo lá tràm, Keo tai tượng và Keo lá liềm. Mặt khác, sinh
trưởng của các xuất xứ đã có sự khác biệt rõ rệt. Những xuất xứ tốt nhất có
thể tích cây bình quân gấp đôi những xuất xứ kém nhất. Kết quả cho thấy một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
số xuất xứ của Keo lá tràm có triển vọng sinh trưởng tốt ở nước ta như Mibini
(PNG), Coen River (QLD), Manton (NT) và Kings Plains (QLD) (Lê Đình
Khả và cộng sự, 2001) [17], (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả, 2000) [19].
Năm 1994 khảo nghiệm các xuất xứ Keo lá tràm được tiến hành theo
dự án ACIAR 9310 hợp tác với Autralia. Khảo nghiệm được tiến hành tại
Cẩm Quỳ (Ba Vì, ), Đông Hà (Quảng Trị) và Sông Mây (Đồng Nai). Kết quả
cho thấy không những giữa các xuất xứ sinh trưởng đã khác nhau mà có
những xuất xứ tốt ở từng vùng như: Halroyed (Qld) cho Ba Vì, Wondo
Village (Qld) cho Đông Hà, Morehead (PNG) cho Bàu Bàng và có những
xuất xứ sinh trưởng tốt cho tất cả các vùng khảo nghiệm đó là Coen River.
Riêng nòi địa phương Đồng Nai thuộc nhóm sinh trưởng trung bình và kém ở
cả ba nơi khảo nghiệm. Kết quả khảo nghiệm cũng cho thấy rằng trong các lô
hạt của xuất xứ Coen River thì lô hạt số 16142 là có sinh trưởng và hình dáng
thân cây khá nhất. Điều này chứng tỏ rằng các quần thể khác nhau và lô hạt
khác nhau của cùng một địa phương vẫn có sinh trưởng rất khác nhau. (Lê
Đình Khả và cộng sự, 2001) [15]
Đặc biệt trong các năm từ 1996 - 1999 dự án FOTIP (Regional Project
on Forest Tree Impovement) về cải thiện giống cây rừng do Trung tâm nghiên
cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt nam hợp tác với
CSIRO của Australia đã trồng 8ha vườn giống Keo lá tràm tại Ba vì () và
Chơn Thành (Bình Phước). Vật liệu để xây dựng vườn giống là hạt giống
được thu từ các cây trội đã được chọn lọc tại Papua New Guinea (PNG) và

hợp và tăng chiều dài rễ ở một số trường hợp.
- Nồng độ thuốc bột TTG thích hợp nhất cho Keo lá tràm là 0,75 %.
(TTG là một loại thuốc kích thích ra rễ do Trung tâm nghiên cứu giống cây
rừng pha chế từ IBA và một số chất phụ gia).
- Trong đoạn thân cây non, đoạn ngọn cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đoạn
gốc thấp nhất.
* Bằng phương pháp “dấu vân tay AND” (DNA fingerprinting) Butcher,
2001 cùng với một số cán bộ khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu giống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
cây rừng đã dùng 3 microsatellite markers Am030, Am136, và Am770 để xác
định quan hệ giữa các dòng Keo lá tràm được chọn lọc tại Ba Vì (Hà Nội). Kết
quả cho thấy có thể dùng phương pháp này để phân biệt những cá thể Keo lá
tràm khác nhau mặc dù về hình thái bên ngoài chúng có một vài đặc điểm
giống nhau.
Như vậy trong những năm gần đây qua những công trình nghiên cứu, các
báo cáo và các tài liệu khoa học đã công bố về Keo lá tràm có thể thấy rằng.
- Keo lá tràm là một loài cây mọc nhanh, sinh trưởng tốt và có vùng sinh
thái rất rộng, có thể trồng ở nhiều nơi khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau.
- Keo lá tràm là một loài cây vừa đáp ứng được nhu cầu phong phú, đa
dạng của xã hội , vừa có tác dụng cải tạo đất, bảo vệ cảnh quan môi trường.
- Keo lá tràm là một loại cây có nhiều ưu điểm, để khai thác hết tác
dụng của loài cây này cần phải có các công trình nghiên cứu sâu hơn, toàn diện
hơn nhất là các công trình về cải thiện giống. Tuy trong đề tài KHCN 08-04 đã
giới thiệu một số gia đình và một số cá thể tốt nhất trong các vườn giống
FOTIP được xây dựng trước đây, song việc đánh giá khả năng d i truyền của
chúng là hết sức cần thiết nhằm tìm ra các dòng vô tính có triển vọng nhất đưa
vào sản xuất đáp ứng kịp thời cho trương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng

gồm những đồi bát úp, không bị chia cắt mạnh, khá đồng nhất. Độ dốc trung
bình 7
0 -
10
0
.
2.3. Khí hậu - Thủy văn
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa khá
rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng năm 1600 - 1800
mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, có nhiệt độ bình quân là
27.48
0
c. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ bình
quân là 18.42
0
c. Nhiệt độ bình quân năm là 23.2
0
c
Số liệu khí hậu ở bảng 2 -2 được thu thập trực tiếp tại trạm khí tượng
như Ba Vì.
Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu vùng trồng khảo nghiệm
Địa
điểm
nghiên
cứu
Vĩ độ
(độ,
phút)
Kinh
độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status