chọn lọc các dòng vô tính keo lá tràm (acacia auriculiform is) có năng suất và chất lượng cao cho trồng rừng một số tỉnh miền bắc - Pdf 22

ĐẠI HỌC THÁI
NGUY
Ê
N
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
L
Â
M

PHẠM THU HÀ
CHỌN LỌC CÁC DÕNG VÔ TÍNH KEO LÁ TRÀM
(ACACIA AURICULIFORMIS) CÓ NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CAO CHO TRỒNG RỪNG MỘT SỐ
TỈNH PHÍA BẮC
L
L
UẬ
UẬ
N
N
V
V
Ă
Ă
N
N
T
T
H
H


G
H
H
I
I
ỆP
ỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM
2008
ĐẠI HỌC THÁI
NGUY
Ê
N
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
L
Â
M

PHẠM THU HÀ
CHỌN LỌC CÁC DÕNG VÔ TÍNH KEO LÁ TRÀM
(ACACIA AURICULIFORMIS) CÓ NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CAO CHO TRỒNG RỪNG MỘT SỐ
TỈNH PHÍA BẮC
CHUYÊN NGÀNH: LÂM
N
GH
I
ỆP
MÃ SỐ:
60.62.60

H
H


C
C
N
N
Ô
Ô
N
N
G
G
N
N
G
G
H
H
I
I
ỆP
ỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. HÀ HUY
TH
ỊN
H
THÁI NGUYÊN, NĂM
2008

LỜI CẢM
ƠN
Được sự đồng ý của Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm -
T
h
ái
Nguyên, Ban Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng - Viện
Khoa
họ
c
Lâm nghiệp Việt Nam đề tài đã được triển khai nghiên cứu tại
trạm giống

y
rừng Ba Vì - Hà Tây - Hà Nội thuộc trung tâm nghiên cứu
giống cây rừng.
S
a
u
hơn một năm thu thập, xử lí số liệu, viết và chỉnh sửa
đến nay luận văn đã
ho
à
n
thành. Luận văn được hoàn thành theo chương
trình đào tạo thạc sỹ Lâm
ngh
iệ
p
cao học trong nước hệ không tập chung,

c
ó
thể hoàn thành nhiệm vụ. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã
t
r
ực
tiếp giảng dạy tôi trong hơn 3 năm học vừa
qu
a
.
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn về sự giúp đỡ nhiệt tình, tận tuỵ của Ban
g
iám
đốc và toàn thể cán bộ, công nhân viên của Trung tâm nghiên cứu Giống cây
r

ng,
đặc biệt là Ths. Phí Hồng Hải, Ths. Nguyễn Đức Kiên và Ths. Mai
Trung Kiên
đ
ã
đóng góp những ý kiến
quý
báu cho bản luận văn của tôi được
hoàn thiện
nh
ất
.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng hết sức mình, học
hỏ


://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
ĐẶT VẤN
ĐỀ
Hiện nay, sản lượng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn ít trong khi nhu
cầ
u
sử dụng các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người vẫn không
ng

ng
tăng, gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong cuộc
sống
h
à
ng
ngày. Từ gỗ người ta có thể tạo ra nhiều vật dụng và các loại sản
phẩm
kh
ác

này có chu kỳ kinh doanh ngắn, gỗ có
thể phục vụ cho nhiều mục đích
kh
ác
nhau như làm giấy, ván dăm, ván sợi
Keo lá tràm là loài cây lá rộng,
m

c
nhanh, mọc được trên nhiều loại đất,
có biên độ sinh thái rộng, phù hợp
c
ho
trồng rừng trên quy mô lớn. Ngoài
việc cung cấp nguyên liệu cho công
ngh
iệp
sản xuất giấy, ván nhân tạo, gỗ
của loài cây này còn được sử dụng cho
các
mục đích khác như xây dựng,
đồ gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi Đây cũng

loài cây có nốt sần chứa cả
Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng
t
ổng
hợp nitơ tự do trong
không khí rất cao (Dart và các cộng sự, 1991), có
kh

t nu . e

d

u . v

n
trong
n
ước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
3
mà còn có thể xuất khẩu sang nước ngoài. Những năm gần đây một loạt
các
công trình nghiên cứu dòng vô tính keo lá tràm đã được thực hiện nhằm
cải

xu
ất
thì năng suất rừng là vấn đề quan trọng hàng đầu, trong
đó công tác giống

vấn đề rất quan trọng vì có giống tốt sẽ làm tăng
năng suất và chất
lượ
ng
rừng. Các nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá
tràm được thực hiện ở
T
rung
tâm nghiên cứu giống cây rừng từ năm 1991
đến nay qua các đề tài
ngh

n
cứu khoa học. Giai đoạn 1991- 1995 đề tài
cấp nhà nước “Xây dựng cơ
s

khoa học cho việc cung cấp nguồn giống
cây rừng được cải thiện - mã số
KN
03 - 03” và kế tiếp giai đoạn 1996 - 2000 là đề tài cấp nhà nước “Chọn
g
i
ống
và nhân giống cho một số loài cây rừng chủ yếu - mã số KH 08- 04”

c
ho
thấy Keo lá tràm có tỷ lệ diện tích trồng
là 4,5% (khoảng 43000 ha).
H
à
ng
năm,
d
iện tích rừng trồng Keo lá tràm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
4
tăng khoảng 10.000 tới 15.000
h
a
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái

năng suất và chất lượng cao. Với nhiều công dụng như vậy Keo lá
tràm
h
iệ
n
đang là loài cây trồng rừng phổ biến trong các chương trình trồng
rừng ở
n
ước
ta. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyển
chọn các dòng
v
à
các xuất xứ Keo lá tràm có năng suất và chất lượng cao
cho trồng rừng,
đ
ặc
biệt đối với trồng rừng miền Bắc. Trên cơ sở nối tiếp
các đề tài nghiên cứu
v

cải thiện giống Keo lá tràm đã được thực hiện tại
trung tâm
G
iống cây
r

ng
thuộc Viện Lâm nghiệp Việt Nam từ trước đến
nay chúng tôi tiếp tục

d

u . v

n
6
Ch
ƣ
ơ
ng

1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm
ca
nh.
Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa
n
ă
ng
suất rừng lên cao. Trong dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng, có 2 triệu
h
ecta
rừng sản xuất và 1 triệu hecta rừng phòng hộ. Giống có vai trò cực
kỳ
qu
a

ược
đặt ra, có thị trường tiêu thụ mau đạt hiệu quả và phù hợp
điều kiện lập
đ
ịa

nơi gây trồng. Cây ngoại lai hay cây bản địa đáp ứng
yêu cầu này đều có
v
ai
trò quan trọng trong trồng
r

ng.
Công tác giống gồm nhiều bước đi khác nhau trong đó có 4 khâu
qu
a
n
trọng nhất là chọn lọc giống, lai giống, khảo nghiệm giống và nhân
g
i
ống.
Mặt khác muốn tăng năng suất rừng trồng không những
ph

i sử
dụng
g
i
ống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
7
hợp với tình hình thực
tế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d


nghiên
cứ
u
giống cây rừng thuộc Viện khoa học lâm
ngh
iệp Việt Nam
hợp tác
v
ới
CSIRO (Tổ chức khoa học và công nghệ Australia) đã trồng 8
ha vườn
g
i
ống
Keo lá tràm tại Ba Vì (Hà Nội) và Chơn Thành (Bình
Phước). Điều đáng
tiếc
là vườn giống Chơn Thành hiện nay không còn do
địa phương trưng dụng
l
ô
đất đó để xây dựng khu công nghiệp. Vật liệu để
xây dựng vườn giống là
h
ạt
giống được thu từ các cây trội đã được chọn lọc
tại Papua New Guinea
(PNG)
và các bang Queensland (Qld), Northern
Territory (NT) của Australia

lại
những gia đình tốt nhất của các xuất xứ có triển vọng, tỉa bỏ những
cá thể
v
à
những gia đình xấu để thành vườn giống lấy hạt (Seed orchard)
cung
cấ
p
giống trồng rừng ở Việt Nam (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001)
15 . Qua
đó
chọn ra được những xuất xứ, gia đình và cá thể xuất sắc nhất
của vườn
g
i
ống
để tiếp tục nhân giống và khảo nghiệm dòng vô tính. Mục
đích của việc
kh

o
nghiệm các dòng vô tính Keo lá tràm nhằm chọn ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

phát triển tốt, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh và
kh

năng nhân giống cao, thích ứng tốt với các vùng sinh thái khác nhau,
phục
vụ
cho công tác trồng
r

ng.
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÂY KEO LÁ
TRÀM
Keo Acacia là một chi thực vật họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae)
t
huộ
c
họ Đậu (Leguminosae) bao gồm khoảng 1200 loài có phân bố rộng ở
châu
Á,
và châu Đại Dương. Riêng Austrailia có khoảng 850 loài Keo
Acacia
v
ới
hàng trăm loài có lá giả (Pedley, 1987) 35 . Ở Việt Nam, vào
đầu những
n
ăm
1960 gần 20 loài Keo Acacia được đưa vào thử nghiệm gây trồng, Keo

tràm là một trong những loài có khả năng thích nghi cao và sinh trưởng

Bộ lâm nghiệp (1994) cho thấy
d
iện tích trồng Keo lá
tràm khoảng 43.000
h
a
chiếm 4,5% (Nguyễn Hoàng Nghĩa,
2003).
Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) có nguồn gốc từ Australia,
P
a
pu
a
New Guinea (PNG) và Indonesia được nhập vào nước ta từ những năm
1960,
phân bố chủ yếu ở 8 - 16
0
vĩ Nam, ở độ cao 100m, có thể đến 400m
trên
mặt
biển, lượng mưa 1400 - 3400mm/năm, song có thể chịu được
lượng mưa
500
- 1000mm (Doran, Turnbull và các cộng sự, 1997). Keo lá tràm là một
t
rong
những loài cây đang được ưa chuộng trên thị trường đồ mộc ở nước ta và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p


-

t nu . e

d

u . v

n
12
80 cm và thân thẳng đơn trục (Pinyopusarerk, 1990). Đây là loài cây
s
i
nh
trưởng nhanh, gỗ có tỷ trọng 0,5 - 0,6, thậm chí 0,7, nhiệt lượng cao (4800
-
4900 Kcal/kg) (Viện hàn lâm khoa học Mỹ, 1984) có thể dùng làm giấy,
làm
gỗ xây dựng và gỗ đồ
m

c
.
Keo lá tràm có phân bố tự nhiên ở
Ô
xtrâylia,
P
a
p

nh
độ 130
0
đến 135
0
đông), Cape York Peninsula, Queesland và trên đảo
T
orr
e
s
Strait ở độ cao 150m (10
0
đến 16
0
vĩ nam và 142
0
đến 145
0
kinh
đông).
Ở Papua New Guinea Keo lá tràm chủ yếu ở phía Tây từ vùng
g

p
ranh Irian Jaya đến vùng sông oriomo. Tại Indonesia chúng có phân
bố
g

n
Papua New Guinea và trên đảo Kai Island chủ yếu ở độ cao từ 5 đến

n
hoá học gỗ chứa 48-50,5% cellulose, 23,5-25,5% lignin và
19,6-
22,7%
pentosan (Lê Đình Khả ,1999) [16], vì vậy thường được sử dụng làm
chất
đố
t
,
làm giấy sợi, gỗ xây dựng và đồ mộc. Ngoài ra, Keo lá tràm cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
13
là loài

y
có nốt sần ở rễ chứa cả Rhizobium và Bradyrhizobium có khả

u . v

n
14
Chu kỳ kinh doanh của cây Keo lá tràm thường từ 8 đến 12 năm
v
ới
mục tiêu làm gỗ nguyên liệu. Vỏ và giác cây thường chiếm khoảng
30%
t
h

tích cây (Chomcharn và cộng sự, 1986) [27],
l
õ
i có mầu nâu nhẹ
đến đỏ
t
h
ẫm
,
thớ gỗ mịn, có thể dùng đóng đồ mộc rất tốt. Ở nước ta hiện
nay gỗ Keo

tràm được dùng làm nguyên liệu giấy sợi, gỗ xây dựng, gỗ
chống lò và
đóng
đồ gia dụng, đồ mỹ nghệ. Do gỗ có vân đẹp và có mầu phù
hợp nên có nơi
gọ

inh trưởng kém
hơn nhiều xuất xứ khác, lại có nhiều

nh
nhánh (Nguyễn Hoàng Nghĩa,
1997) [18]. Vì vậy, việc chọn những cá thể
ư
u
trội có sinh trưởng nhanh,
chất lượng thân cây đẹp và khảo nghiệm dòng

tính để xác định tính ổn
định
d
i truyền của chúng là một trong những
b

iệ
n
pháp góp phần nâng
cao năng suất và chất lượng của rừng trồng loài cây
n
à
y.
Với những ưu
điểm vừa nêu Keo lá tràm nhanh chóng được các nước ở
vùng
nhiệt đới sử
dụng như là một loài chủ yếu để trồng rừng kinh tế, phủ xanh
đ

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
15
rất
qu
a
n
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v


tràm

u
nâu, dày từ 3-10mm có nứt dọc nhỏ. Cây non có vỏ mền màu
xám, nhẵn
s
a
u
trở nên xù xì chuyển màu đậm dần theo
t
uổ
i
.
Khi ở giai đoạn cây mầm, lá Keo lá tràm là lá kép lông chim.
S
a
u
khoảng 20 ngày nảy mầm, cây cho ra các lá có phiến rộng, mỏng do
cuống

biến đổi thành tuy vậy trên đầu lá vẫn mang đôi lá kép như lá ban
đầu (lá
t
h
ật
).
Hoa của Keo lá tràm là hoa tự chùm dài 8 - 10cm mọc thành từng
đô
i
từ nách lá, mỗi hoa nhỏ dài 0,5 -1,5cm ở vùng nguyên sản Keo lá tràm ra

nh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
17
28- 30
o
C không có sương mù. Lượng mưa hàng năm thay đổi từ 760mm
đ
ế
n
2000mm, số ngày mưa thông thường từ 80 - 100 ngày trong một năm và
ph
â
n
bố theo
m
ù

nh
kiềm cao pH từ 8- 9 ở Northern Territory Keo lá tràm còn có khả
năng
s
i
nh
trưởng và phát triển ở những nơi có hoàn cảnh khác hẳn so với
vùng
nguy
ê
n
sản, như có mùa khô kéo dài, lượng mưa trung bình hàng
năm nhỏ
h
ơ
n
650mm, hoặc ở những vùng đất hoang hoá bị xói mòn mạnh kể cả chịu

nh
hưởng của khí độc công nghiệp như ở một số nơi của Trung Quốc và Ấn
Độ
nó vẫn sống và phát triển
t

t
.
Keo lá tràm cũng như một số loài trong chi Acacia là những loài
m

c

sinh
t
r
ưở
ng
của Keo lá tràm cũng được các nhà khoa học trên thế giới quan
tâm
.
Theo Brewbaker (1986) 26 khi tổng kết tình hình
s
inh trưởng của
Keo

tràm ở Indonesia cho thấy trong những
đ
iều kiện thuận lợi về
khí
h

u
(lượng mưa bình quân >2000mm) đất đai tốt thì Keo lá tràm
sinh
t
r
ưở
ng
mạnh ở
t
uổ
i 10 đến 12 cao từ 15m- 18m, đường kính 15cm -

3
/ha/năm và ở những
n
ơi
có lượng mưa thấp, mùa khô kéo dài trồng không bón phân thì năng
suất
c
h

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
20
còn 2m
3
đến 4m
3
/ha/năm. Điều này giống với năng suất rừng Keo lá

14.
Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến mục đích kinh doanh rừng Keo
lá tràm
v
ì
mục đích kinh doanh là một chỉ tiêu rất quan trọng để quyết
định tuổi
kh
ai
thác rừng
t
rồng.
Nghiên cứu về sinh khối Keo lá tràm ở tỉnh Pangnga, nam Thái Lan
c

a
Tampibal và cộng sự (1981) 40 cho thấy tăng trưởng của Keo lá tràm
phụ
thuộc rất nhiều vào xuất xứ. Tuy tác giả không nêu mật độ trồng

t
h
í
nghiệm không nhiều xuất xứ, nhưng với các cấp tuổi khác nhau thì
giống
xu
ất
xứ từ Balamuk của Papua New Guinea đều có lượng tăng trưởng
gấp 2 đến
3

những cây có
t

trọng cao, sợi ngắn và thành phần lignin thấp có tính chất
dễ hoà tan khi
đun
nóng với axit sunfuric 15% sẽ cho sản phẩm bột giấy có
tính chất vật lý
phù
hợp với sản phẩm giấy có chất lượng
ca
o.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên
h tt p

://ww w .l r c

-

t nu . e

d

u . v

n
21
1.3.1.2. Các nghiên cứu về lĩnh vực cải thiện giống Keo lá
t

x

Keo lá tràm đã được nghiên cứu và ghi nhận ở rất nhiều nước trên thế
g
iới
như Australia (Harwood và cộng sự, 1991) [30]; Thái Lan
(
L
u
a
ngv
i
r
i
y
a
s
ae
ng
và cộng sự, 1991); Zaire (Khasa và cộng sự, 1995);
Indonesia (Otsamo
v
à
cộng sự, 1996) và Malaysia (Nor Aini và cộng sự,
1997). Các xuất xứ
c
ó
nguồn gốc từ Papua New Guinea (PNG) có sinh
trưởng sinh
khố

w
Guinea (PNG) và Northern Territory
(N
T
).
Nghiên cứu của Nor Aini và các cộng sự, 1997 [33] tại
M
ala
ys
ia
t
r
ê
n
khảo nghiệm xuất xứ 4 năm
t
uổ
i cho thấy không những các xuất xứ khác
nh
a
u
thì sinh trưởng khác nhau mà tỷ trọng của gỗ cũng sai khác rất lớn.
Các
xu
ất
xứ có sinh trưởng tốt nhất đồng thời cũng là những xuất xứ cho
tỷ trọng
gỗ
cao nhất, trong khi các xuất xứ sinh trưởng kém có tỷ trọng gỗ
thấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status