So sánh một số dòng, giống sắn có tiềm năng cho năng suất và chất lượng cao tại trường đại học nông lâm - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây sắn (Manihot esculenta crantz) là một trong những cây lương thực dễ
trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất nghèo, không
yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Nó được trồng rộng rãi ở 30
0
Bắc đến 30
0
Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là
châu Phi, châu Mỹ và châu Á ( Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) [1].
Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt: Sắn là
nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử
dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất là các
nước của châu Phi. Tinh bộ sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của
hơn một tỷ người trên thế giới. Sắn cũng là thức ăn cho gia súc. gia cầm quan trọng
tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm
nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép,
bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc
nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia
trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là
nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Chương
trình sản xuất ethanol của chính phủ Braxin đã tạo ra gần 1 triệu việc làm cho người
lao động.
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô. Năm 2010 diện
tích sắn toàn quốc là 496,10 nghìn ha, năng suất bình quân 17,18 tấn/ha, sản lượng là
8,522 nghìn tấn. Cả nước hiện có hơn 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, trong đó có
41 nhà máy đã đi vào hoạt động với tổng công suất 2,2 - 3,8 triệu tấn sắn củ
tươi/năm. Tổng sản lượng tinh bột sắn của Việt Nam hiện đạt 600 - 800 nghìn tấn,
trong đó có khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nước ( Trần Ngọc

nghiệm trong sản xuất.
- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho
sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và tổ chức tiến hành
nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
1.4.2. Ý nghĩa trong sản xuất
Góp phần tìm ra giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào sản xuất
đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc.
2
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY SẮN
2.1.1. Nguồn gốc
Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta crantz có hoa hạt kín, có 2 lá
mầm và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm, có
bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 ( Roger và Appan, 1973) [13]. Nhiều tài liệu cho biết cây
sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh (Crantz, 1976) và được
trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT,1993).
Trung tâm phát sinh của cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Brazil thuộc lưu
vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (Đecanola, 1986;
Roger, 1965).
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mêhicô, Trung Mỹ và ven biển
các nước Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Vênêzuela niên đại 2700
năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía bắc
Colombia niên đại khoảng 1200 năm trước công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở
trong phần hóa thạch được phát hiện tại Mêhicô có tuổi khoảng 900 năm đến 200
năm trước công nguyên (Roger và Appan, 1973) [13].
Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây sắn có
nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brazil có hai trung tâm, còn

cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc
Tên thức ăn Chất
khô
Protein
thô
Xơ thô Canxi Photpho
Năng lượng
trao đổi
(Kcal/đvtă)
Cỏ Pangola 253 17,9 85,9 0,9 0,5 547
Cây ngô non 131 14,0 33,8 0,8 0,3 295
Lá cây keo dậu 257 70,0 36,0 3,8 0,7 780
Thân lá cỏ Stylo 223 35,0 61,0 3,1 0,5 533
Rau muống 106 21,0 16,0 1,2 0,5 270
Củ sắn cả vỏ 277 90,0 100,0 0,5 0,4 968
Lá sắn 257 65,9 38,2 3,0 0,9 726
Bột lá sắn 897 57,0 139,8 11,0 6,3 2349
Bã sắn ướt 204 5,0 17,1 0,4 0,3 468
(Nguồn: Giáo trình chăn nuôi - NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2000)
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ SẮN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT
NAM
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới trong giai đoạn 2006 - 2010 cụ thể là: Năm
2010 diện tích sắn trên toàn thế giới đạt 18,41 triệu ha, năng suất bình quân 12,40
tấn/ha, sản lượng 228,55 triệu tấn ( FAOSTAT, 2011) [14]. Diện tích, năng suất và
sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia tăng và được thể hiện ở bảng 2.2 như
sau:
4
5
Bàng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên

sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và
thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm
sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%.
Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm
2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực
5
6
thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%. Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 -
2020, ước tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3%, so với Châu Phi
là 2,44% và Châu Á là 0,84 - 0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong
nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện
tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía. Chiều
hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng. Giải pháp chính là
tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến
( MARD, 2004) [15].
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trong chiến
lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô (Phạm Văn Biên, 1998) [2].
Từ lâu, cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng
so với cây có củ ở nước ta và trở thành cây công nghiệp hàng hóa xuất khẩu và làm
thức ăn cho gia súc có giá trị kinh tế cao trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới.
Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 - 2010 được thể hiện
ở bảng 2.3.
6
7
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam
giai đoạn từ năm 2000 đến 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)

hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lượng sinh học
() [3]. Khi chương trình NLSH của Nhà nước vận hành, các
nhà máy sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ một khối lượng sắn rất lớn. Dự kiến năm 2012,
sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ 16% sản lượng sắn, năm 2015 chiếm 35%, năm 2020
7
8
chiếm 41% và đến năm 2025 chiếm 48%. Các tính toán này dựa vào dự báo nhu cầu
xăng tăng 8,5%/năm, năm 2012 áp dụng E5, năm 2015 áp dụng E10, sản lượng sắn
tăng 5%/năm. Sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp NLSH làm thay đổi
kết cấu thị trường sắn Việt Nam theo hướng có lợi cho nông nghiệp và nông thôn
(Phạm Anh Tuấn) [5].
Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ hai về các sản phẩm sắn sau
Thái Lan với 2,00 - 4,00 triệu tấn sắn lát khô tương ứng khoảng 0,4 - 0,8 tấn tinh bột
sắn xuất khẩu. Đại lục Trung Quốc vẫn là nhà nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam
và chiếm 90% thu nhập xuất khẩu của ngành công nghiệp. Hàn Quốc và Đài Loan là
hai nước đứng thứ hai và thứ ba trong tốp các nhà nhập khẩu lớn nhất. Nhu cầu đã
tăng vọt, chủ yếu do nhu cầu từ Trung Quốc, trong đó sử dụng để sản xuất ethanol.
Tổng xuất khẩu trong năm 2009 khoảng 4.000.000 tấn sắn lát khô và hơn 350.000 tấn
tinh bột sắn và bột mì. Giá xuất khẩu sắn lát khô giảm xuống mức thấp 135$/tấn vào
đầu năm 2008, nhưng kể từ đó đã tăng lên từ 180$ và 195$/tấn trong cuối tháng 12
năm 2009 () [3].
2.2.3. Tình hình một số vùng trồng sắn chính ở nước ta
Năm 2010 diện tích trồng sắn nhiều nhất tập trung ở 7 tỉnh: Gia Lai (52,9
nghìn ha), Tây Ninh (40,1 nghìn ha), Kon Tum (37,7 nghìn ha), Đắk Lắc (25,3 nghìn
ha), Bình Thuận (25,7 nghìn ha), Bình Phước (20,4 nghìn ha), Đắc Nông và Đồng
Nai (14,8 nghìn ha). Về sản lượng sắn, dẫn đầu cả nước là Tây Ninh (14.150,7 nghìn
tấn), tiếp theo là Gia Lai (827,5 nghìn tấn), Kon Tum (563 nghìn tấn), Bình Phước
(462 nghìn tấn), Đồng Nai (357,4 nghìn tấn) () [3]. Cụ thể
tập trung ở 4 vùng trồng sắn chính sau:
- Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: Có diện tích sắn lớn nhất

tích toàn vùng đạt 90,1 nghìn ha (chiếm 18,2% diện tích toàn quốc), năng suất 252,9
tạ/ha, sản lượng đạt gần 2,3 triệu tấn củ tươi (chiếm 26,8% tổng sản lượng toàn quốc)
() [3]. Diện tích tại một số tỉnh như: Tây Ninh (vùng sắn ở
huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và Châu Thành), Đồng Nai (vùng sắn ở
huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng và Bình
Long), Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyện Xuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn huyện
Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và Đức Linh), Ninh
Thuận (vùng sắn ở huyện Bắc Ái).
- Vùng Trung du miền núi phía Bắc: có lịch sử phát triển cây sắn từ lâu đời, đây
là vùng có đầy đủ lợi thế về phát triển sắn, đã có thời điểm diện tích gieo trồng toàn
vùng chiếm tới gần 50% diện tích sản lượng cả nước, tuy nhiên vùng Trung du miền
núi phía Bắc phát triển chậm hơn so với vùng Đông Nam Bộ là do năng lực chế biến
phát triển chậm, đồng thời sản xuất sắn gặp nhiều điều kiện hạn chế do điều kiện khí
hậu, đất dốc, giao thông khó khăn. Năm 2010, diện tích toàn vùng đạt 104,6 nghìn ha
(chiếm 21% tổng diện tích sắn toàn quốc), năng suất đạt trên 120,5 tạ/ha, sản lượng
1,26 triệu tấn củ tươi (chiếm 14,8% tổng sản lượng sắn toàn quốc)
9
10
() [3]. Sắn được trồng trên các chân đất đồi có độ dốc trên 10
0
là chủ yếu và trồng theo vùng nguyên liệu, diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh
Yên Bái (vùng sắn Văn Yên, Yên Bình), Phú Thọ (vùng sắn Phù Ninh, Thanh Ba,
Thanh Sơn, Yên Lập), Hòa Bình (vùng sắn Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc).
2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO GIỐNG SẮN TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
2.3.1. Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới
Trước đây, sắn được coi là một cây màu lương thực vì vậy thường được phát
triển trên diện rộng. Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuất bởi người
nông dân nghèo nên có thời gian sắn bị lãng quên ở cộng đồng các nước phát triển.
Đến năm 1970, với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT ở tại

Ở Châu Phi, CIAT phối hợp cùng IITA và các nước Nigieria, Tanzania,
Mozabique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc tế như: FAO, IFAO, DDPSC,
OSU, Bill Gates Foundation để nghiên cứu nhằm phát triển các giống sắn mới ngắn
ngày, chất lượng cao (giàu Carotene, Vitamin, Protein) thích hợp ăn tươi và khả năng
kháng bệnh virut (một loại bệnh hại nghiêm trọng đối với cây sắn ở châu Phi) (Trần
Ngọc Ngoạn, 2007) [4].
Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chức tại Thái
Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chương trình cải tiến
giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh
bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp. Mục tiêu cải tiến giống sắn của
những quốc gia (Ấn Độ, Inđônêxia, Srilanca) có nhu cầu cao về sử dụng sắn làm
lương thực là chọn tạo những giống sắn ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt,
hàm lượng axit Cyanhydric (HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây
đẹp, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh.
Tại Hội thảo sắn Quốc tế lần thứ tám tổ chức tại thủ đô Viên Chăn - Lào ngày
20-24 tháng 10 năm 2008, các nhà khoa học đã xác định tương lai mới cho sắn ở Châu
Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có lợi cho người nghèo,
mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn
làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh
học, tinh bột, tinh bột biến tinh, màng phủ sinh học, công nghệ thực phẩm
( [16].
2.3.2. Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam
Chọn giống sắn tốt, năng suất cao phù hợp với đất đai và yêu cầu của sản xuất
lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống. Nhưng trong điều
kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạch chọn lọc bồi dưỡng giống
sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắn tốt cũng dễ thoái hóa làm năng suất
giảm xuống. Thấy được tầm quan trọng của công tác chọn tạo giống sắn, các nhà
khoa học Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu chọn lọc các giống sắn mới để phục
vụ cho sản xuất.
11

có thể sử dụng ăn tươi.
Trong giai đoạn 1991 - 2005, chương trình sắn Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ với
CIAT, VEDAN và mạng lưới Nghiên cứu sắn Châu Á để đẩy mạnh hoạt động nghiên
cứu và phát triển sắn với mục tiêu là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất củ tươi
và tỷ lệ tinh bột cao, phục vụ cho chế biến công nghiệp, đồng thời cũng tuyển chọn
được những giống sắn ngắn ngày, đa dạng, thích hợp cho cả chế biến công nghiệp
12
13
cũng như nhu cầu về lương thực ở vùng sâu, vùng xa. Do đó đã tạo được bước đột phá
quan trọng trong nghề trồng sắn của Việt Nam (Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự, 2004)
[10].
Hiện nay mục tiêu của chương trình cải thiện di truyền sắn tại Việt Nam là:
- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột.
- Rút ngắn thời gian thu hoạch.
- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực và vùng sinh
thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canh tác nông hộ nhỏ.
- Lựa chọn giống sắn tốt nhất cho sản xuất ethanol sinh học
() [11].
Mà mục tiêu cụ thể của chương trình nhân giống sắn là: để chọn và phát hành
giống mới có năng suất cao từ 35-40 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 27-30%, thời gian
sinh trưởng và phát triển từ 8-10 tháng, cây mọc thẳng đứng, đốt ngắn, ít phân nhánh,
tán nhỏ gọn, kích thước gốc, củ thống nhất và phù hợp cho chế biến công nghiệp
() [17].
Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về chọn
tạo giống đạt kết quả tốt, nhờ đó mà nhiều giống sắn mới được đưa vào sản xuất như
KM60, KM94, KM95, KM95-3, SM937-26, KM98-1, KM98-5, KM98-7, KM140 đã
thực sự mang lại lợi nhuận cao cho nông dân trên diện rộng, cho nên tạo được công
ăn việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa và miền núi, đồng
thời tăng sức cạnh tranh của tinh bột sắn xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ
sắn trên thị trường trong và ngoài nước () [11].

nhắc lại.
- Diện tích mỗi ô: 5m x 9m = 45m
2
.
Tổng diện tích thí nghiệm: 45m x 16 = 720m
2
.
- Các công thức thí nghiệm gồm:
+ Công thức 1: Giống KM 94 (Đ/c) + Công thức 9: Dòng HL 32
+ Công thức 2: Giống KM 414 + Công thức 10: Dòng O35-8
+ Công thức 3: Giống KM 397 + Công thức 11: Dòng RAYONG-9
+ Công thức 4: Giống KM 440 + Công thức 12: Dòng HB-60
14
15
+ Công thức 5: Dòng KM 419 + Công thức 13: Dòng HM 911
+ Công thức 6: Dòng GM 444-2 + Công thức 14: Dòng HM 125
+ Công thức 7: Dòng DT 3 + Công thức 15: Dòng Y-1
+ Công thức 8: Dòng HL 28 + Công thức 16: Dòng CA-1
Sơ đồ thí nghiệm1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 1
5
16
3.4.2. Quy trình kỹ thuật thí nghiệm
- Theo hướng dẫn của CIAT (Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế)
+ Làm đất: sâu, tơi xốp, sạch cỏ dại… đúng yêu cầu kỹ thuật đề ra.
+ Mật độ trồng: 1m x 1m tương đương 10.000 cây/ha.
+ Thời vụ: trồng vào tháng 3/2011 thu hoạch tháng 1/2012.
- Phân bón:

mỗi giai đoạn sinh trưởng.
Dải bảo vệ
Dải
bảo
vệ
Dải bảo vệ
Dải
bảo
vệ
15
16
+ Tốc độ ra lá: Tiến hành trên 5 cây đã đo chiều cao, 10 ngày đếm số lá mới ra
1 lần, dùng phương pháp đánh dấu lá để biết số lá mới ra, lấy số liệu trung bình ở mỗi
giai đoạn sinh trưởng.
+ Tuổi thọ lá: Theo dõi 5 cây trên ô thí nghiệm theo phương pháp đánh dấu lá. Tuổi
thọ lá tính từ ngày lá non phát triển đầy đủ đến ngày lá già chuyển sang màu vàng, lấy số
liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng.
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng, giống sắn tham gia thí
nghiệm.
Theo dõi một lần trước khi thi hoạch vào tháng 1/2012, theo dõi 5 cây theo
đường chéo góc, đo đếm lấy số liệu trung bình.
- Chiều cao thân chính: Đo từ điểm gốc của cây đã được cố định bằng cọc đến điểm
phân cành đầu tiên.
- Chiều dài phân cành: Đo chiều dài các cấp cành.
- Chiều cao cuối cùng: Chiều dài thân chính + chiều dài phân cành.
- Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến ngọn lá chưa xòe.
- Đường kính gốc: Dùng thước kẹp pame đo cách gốc 15cm.
- Tổng số lá trên cây: Đếm tổng số lá (sẹo lá)/cây.
* Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất (đường kính củ,
chiều dài củ, số củ/gốc, khối lượng củ/gốc) và năng suất,

+ Năng suất củ khô (NSCK):
NSCK = NSCT x TLCK (tấn/ha)
+ Năng suất tinh bột (NSTB):
NSTB = NSCT x TLTB (tấn/ha)
* So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm.
3.4.4. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Tính các giá trị trung bình và một số thống kê cơ bản bằng chương trình phần mềm
trong bảng Excel.
17
18
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. ĐẶC ĐIỂM THỜI TIẾT KHÍ HẬU THÁI NGUYÊN NĂM 2011
So với nhiều loại cây trồng khác thì cây sắn là loại cây trồng tương đối dễ tính.
Nó có thể sinh trưởng, phát triển ở các điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau. Tuy
nhiên để đảm bảo được năng suất và phẩm chất thì cây sắn cũng yêu cầu điều kiện
khí hậu khá khắt khe. Bởi vì cây sắn là cây khá mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh
nhất là về sự phát triển của bộ phận kinh tế (củ). Đặc biệt trong giai đoạn hình thành
và phát triển củ cây sắn cần nhiệt độ cao và số giờ chiếu sáng nhiều từ 8h/ngày trở
lên.
- Yếu tố nhiệt độ:
Do có nguồn gốc nhiệt đới nên cây sắn yêu cầu nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp
cho cây sinh trưởng phát triển tốt từ 23 - 27
0
C. Ngưỡng nhiệt độ để cây sắn sinh
trưởng phát triển từ 10 - 40
0
C. Nếu nằm ngoài ngưỡng nhiệt độ này sẽ ảnh hưởng
không tốt tới quá trình quang hợp và hô hấp, năng suất và phẩm chất của cây sắn.
Đây cũng là lí do vì sao mà tại các vùng sinh thái khác nhau cây sắn có thời

1 11,9 73 4,4 10,4
2 17,3 82 10,8 32
3 16,7 80 93,3 10
4 23,4 83 30,1 49,2
5 26,3 80 226,3 137
6 28,7 84 237,5 132,1
7 29,5 80 144 181,8
8 28,5 82 268 183,2
9 27,1 83 284,7 143,1
10 24 81 103,8 93
11 22,9 79 4,3 137
12 16,8 68 5,2 95
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Tỉnh Thái Nguyên 2011)
Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy tình hình khí hậu trong năm biến đổi thuận lợi cho
sự sinh trưởng phát triển của sắn:
- Thời gian trồng sắn vào ngày 31/3 mà tháng 3 và tháng 4 có nhiệt độ trung
bình 16,7
0
C - 23,4
0
C, ẩm độ trung bình 80% - 83% thuận lợi cho hom sắn mọc mầm.
- Từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình từ 26,3
0
C - 27,1
0
C cao nhất là
tháng 7 là 29,5
0
C, lượng mưa dao động từ 226,3mm - 284,7mm và cao nhất đạt đến
284,7mm ở tháng 9, số giờ nắng cũng đạt cực đại trong giai đoạn này thuận lợi cho

thí nghiệm
Tên dòng, giống
Tỷ lệ mọc mầm
(%)
Thời gian từ trồng đến
mọc mầm (ngày)
Bắt đầu Kết thúc
1 KM94 (đ/c) 99 14 19
2 KM 414 98 13 17
3 KM 397 100 17 20
4 KM 440 100 13 18
5 KM 419 97 16 19
6 GM 444-2 98 15 19
7 DT 3 98 14 18
8 HL 28 99 14 19
9 HL 32 98 16 20
10 OMR 35-8 100 16 20
11 RAYONG-9 100 13 18
12 HB-60 97 13 17
13 HM 911 99 12 17
14 HM 125 100 14 18
15 Y - 1 100 15 20
16 CA - 1 100 17 20
Số liệu ở bảng 4.2 cho ta thấy:
+ Thời gian từ trồng đến bắt đầu mọc mầm của các dòng, giống sắn dao động từ
12 - 17 ngày, trong đó dòng HM 125 có thời gian từ trồng đến mọc sớm nhất (12 ngày),
dài nhất (17 ngày) đối với giống KM 94 và KM 440.
+ Thời gian từ trồng đến kết thúc mọc mầm giữa các dòng, giống than gia thí
nghiệm khác nhau và dao động từ 17 - 20 ngày, sớm nhất là dòng HM 125, HM 911
và giống KM 397 (17 ngày), muộn nhất là giống KM 440, KM 94, dòng OMR 35-8,

nhau thì chiều cao của cây sắn được quyết định bởi giống. Chiều cao cây ảnh hưởng
gián tiếp đến năng suất và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống đổ của cây. Cây
cao số lá nhiều thuận lợi cho quá trình quang hợp tích lũy vật chất khô. Nếu quá cao
các lá che lấp nhau ảnh hưởng đến quang hợp, khả năng chống đổ kém, không có
nhiều chất hữu cơ chuyển về củ, củ sẽ bé, năng suất thấp. Do vậy trong chọn tạo
giống sắn cần chọn tạo giống sắn có chiều cao trung bình để vừa chọn tạo được khả
năng quang hợp vừa có khả năng chống đổ tốt. Kết quả theo dõi sinh trưởng chiều
cao cây của 16 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.3
Bảng 4.3. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của 16 dòng, giống sắn
tham gia thí nghiệm
(Đơn vị tính: cm/ngày)
Công thức Tên dòng, giống Tháng sau trồng
21
22
4 5 6 7
1 KM 94(đ/c) 0,85 0,81 0,86 0,82
2 KM 414 0,80 0,82 0,83 0,78
3 KM 397 0,68 0,86 0,94 0,89
4 KM 440 0,78 0,88 0,95 0,94
5 KM 419 0,91 0,96 0,98 0,92
6 GM 444-2 1,06 1,13 1,18 1,12
7 DT 3 1,02 1,04 1,03 0,95
8 HL 28 1,03 1,07 1,13 1,09
9 HL 32 0,86 0,93 0,97 0,94
10 OMR 35-8 0,88 0,98 1,02 1,00
11 RAYONG-9 0,86 1,00 1,08 1,08
12 HB-60 0,91 1,01 1,10 1,14
13 HM 911 0,99 1,14 1,22 1,20
14 HM 125 0,91 1,01 1,04 0,99
15 Y - 1 1,11 1,16 1,18 1,09

- Sự tăng trưởng chiều cao cây và quá trình ra lá mới diễn ra đồng thời, chúng
tỷ lệ thuận với nhau.
- Lá có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp, tích lũy và vận chuyển
các chất đồng hóa đi nuôi các bộ phận khác của cây. Tốc độ ra lá có liên quan đến
tổng diện tích lá, khả năng quang hợp và quá trình tích lũy vật chất khô của cây, do
đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất củ. Tốc độ ra lá nhanh thì cây
sẽ nhanh chóng đạt được chỉ số diện tích lá cao, quang hợp diễn ra mạnh tạo điều
kiện cho việc hình thành năng suất củ. Nếu tốc độ ra lá chậm thì chỉ số diện tích lá
trên cây thấp, khả năng quang hợp của cây kém, cây sinh trưởng còi cọc dẫn đến
năng suất thấp và chất lượng kém. Tốc độ ra lá phản ánh tình hình sinh trưởng, đặc
tính của giống, sự thích ứng của giống với điều kiện sinh thái và kỹ thuật canh tác.
Quá trình ra lá của cây sắn diễn ra đồng thời với quá trình tích lũy vật chất khô vào
củ. Vì vậy tốc độ ra lá quá cao, dinh dưỡng tập trung cho quá trình hình thành thân
lá nhiều sẽ giảm lượng dinh dưỡng tập trung về củ cho củ bé và nhiều xơ. Kết quả
theo dõi tốc độ ra lá của 16 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm được thể hiện ở
bảng 4.4.
Bảng 4.4. Tốc độ ra lá của 16 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm
Đơn vị tính: Lá/ngày
Công thức Tên dòng, giống
Tháng sau trồng
4 5 6 7
1 KM 94(đ/c) 1,04 0,81 0,59 0,49
2 KM 414 1,10 1,05 0,70 0,50
3 KM 397 1,06 1,10 0,79 0,69
4 KM 440 1,08 1,25 0,93 0,77
5 KM 419 1,16 1,14 0,82 0,60
6 GM 444-2 1,16 1,11 0,81 0,65
7 DT 3 0,96 0,94 0,60 0,47
8 HL 28 1,24 1,06 0,83 0,70
9 HL 32 1,16 0,93 0,75 0,62

thu hoạch của cây, là cơ sở quyết định đến năng suất, chất lượng sắn. Tuổi thọ lá dài
hay ngắn phụ thuộc vào giống và chịu tác động của các yếu tố như ánh sáng, lượng
mưa và nhiệt độ. Kết quả theo dõi thu được thể hiện ở bảng 4.5.
Bảng 4.5. Tuổi thọ lá của 16 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm
Đơn vị tính: Ngày
Công thức Tên dòng, giống
Tháng sau trồng
4 5 6 7
1 KM 94(đ/c) 72,4 72,93 84,60 70,30
2 KM 414 86,4 69,27 86,60 73,00
3 KM 397 82,6 79,93 90,60 73,60
4 KM 440 84,6 84,33 84,47 67,00
24
25
5 KM 419 86,8 87,87 94,27 75,80
6 GM 444-2 81,60 86,93 99,33 66,40
7 DT 3 80,00 85,87 97,93 74,93
8 HL 28 77,60 80,73 102,20 77,67
9 HL 32 82,40 84,80 101,53 75,33
10 OMR 35-8 111,00 96,60 103,53 73,73
11 RAYONG-9 99,00 98,20 101,60 72,00
12 HB-60 94,00 99,60 102,53 72,13
13 HM 911 77,80 75,80 89,93 69,40
14 HM 125 87,60 66,80 90,47 63,93
15 Y - 1 91,60 80,07 89,53 69,20
16 CA - 1 87,00 80,47 94,13 73,33
Qua bảng số liệu 4.5 ta thấy:
- Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn là khác nhau và không đồng đều giữa các
tháng. Tất cả các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm đều có tuổi thọ lá đạt cực đại
vào tháng 6 sau trồng và sau đó giảm dần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status