giao trinh lich su hoc thuyet kinh te - Pdf 85

Chương 1
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
Lịch sử phát triển của nhân loại là sự kế tiếp và thay thế nhau của các
hình thái kinh tế - xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất
(LLSX) con người có cách giải thích khác nhau đối với các hiện tượng và
quá trình kinh tế tương ứng với trình độ hiểu biết và nhận thức của họ. Ban
đầu chỉ là các tư tưởng kinh tế riêng lẻ được trình bày lẫn trong các ca dao
tục ngữ truyền miệng lại cho các thế hệ sau. Khi sức sản xuất của xã hội phát
triển, trí tuệ và sự hiểu biết của con người tăng lên và thực tiễn đòi hỏi
không chỉ nhận thức, giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế đang diễn
ra, mà còn phải vận dụng tri thức đó vào chỉ đạo thực tiễn. Trong điều kiện
đó những hiểu biết về các quá trình kinh tế phải được được trình bày theo
một hệ thống những phạm trù, quy luật kinh tế, từ đó hình thành ra các học
thuyết kinh tế. Từ các học thuyết kinh tế phát triển thành chuyên ngành lịch
sử các học thuyết kinh tế cũng trải qua một quá trình phát triển từ giản đơn
đến phức tạp, từ ít hoàn thiện đến ngày một hoàn thiện hơn. Đó là tư tưởng
của nhân loại về kinh tế thuộc kiến trúc thượng tầng, trong một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT
KINH TẾ
1.1. Quá trình hình thành, phát triển lịch sử các học thuyết kinh tế
Các tư tưởng kinh tế của loài người được hình thành từ thời Cổ đại,
trong tác phẩm của cac nhà lý luận nổi tiếng như: Xenophone, Aristots,
Platon, Mạnh tử, Copecnic… họ đã đề cập đến các vấn đề như: ruộng đất,
thuế khóa, phân công lao động xã hội, phân phối thu nhập, tiền tệ, phân chia
- 1 -
xã hội thành giai cấp nhằm hướng vào giải quyết vấn đề luân lý về đạo đức,
chính trị, đẳng cấp… đặc biệt là vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, những tư tưởng
của họ chưa mang tính khái quát, hệ thống được trình bày lẫn trong các tác
phẩm triết học, văn học, luật pháp… nên chưa xây dựng được lý luận kinh tế

Tiểu tư sản do S. Sismondi và P.J Proudhon sáng lập.
Trước sự áp bức bóc lột nặng nề do phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa tạo ra, những tư tưởng kinh tế hướng đến xây dựng một nền kinh tế
hoạt động có hiệu quả và xây dựng một xã hội công bằng bình đẳng, bác ái
xuất hiện trong phương thức sản xuất nô lệ được các nhà XHCN không
tưởng ở Pháp và Anh như S. Simon, F.C. Fourier, R. Owen phát triển thành
trào lưu tư tưởng tiến bộ.
Trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp
tư sản ở các quốc gia Âu – Mỹ phát triển, từ đòi hỏi thực tiễn đó học thuyết
kinh tế của C. Mác và Ph. Ăngghen ra đời đưa phong trào đấu tranh tự giác
đi tới giành chính quyền về tay vô sản. Học thuyết kinh tế của C. Mác và Ph.
Ăngghen được V.I Lênin phát triển thành nền tảng tư tưởng lý luận kinh tế
của chủ nghĩa Mác – Lênin và được vận dụng thành công vào nước Nga.
Đây là nền tảng lý luận cho sự hình thành đường lối cách mạng của các
Đảng cộng sản trên toàn thế giới và là kim chỉ nam cho sự thành công của
cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 chuyển CNXH từ lý luận thành
hiện thực.
Cuối thế kỳ XIX, đầu thế kỷ XX, sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền và sự phát triển mạnh mẽ của
cách mạng khoa học – kỹ thuật làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có trong chủ
nghĩa tư bản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng
- 3 -
sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên nổ ra đòi hỏi phải
có lý do thuyết kinh tế mới làm cơ sở lý luận cho việc chỉ đạo hoạt động
thực tiễn của sản xuất kinh doanh cũng như điều tiết nền kinh tế ở các nước
tư bản nhằm cứu CNTB khỏi sụp đổ. Do đó, các học thuyết kinh tế mới ra
đời như: học thuyết kinh tế cổ điển mới, học thuyết kinh tế thị trường phái J.
Keynes, học thuyết của chủ nghĩa tự do mới, học thuyết kinh tế của P.A.
Samuelson…
1.2. Đối tượng nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế

1.1. Phương pháp nghiên cứu Lịch sử các học thuyết kinh tế
Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn khoa học xã hội mang tính hiện
thực khách quan, do đó phương pháp nghiên cứu đặc thù là phương pháp
biện chứng duy vật kết hợp với lịch sử và cụ thể.
Phương pháp duy vật biện chứng là hệ thống các quan điểm và phương
pháp luận phân tích sự phản ánh thực tiễn sự phát triển của các quan hệ sản
xuất vào ý thức con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Nghiên
cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi phải xem xét các hiện tượng kinh tế
trong mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau trong lịch sử phát triển,
chuyển hóa giữa các quá trình kinh tế, hình thành và phát triển theo các xu
hướng tất yếu mang tính quy luật dưới sự hoạt động của con người.
Phương pháp lịch sử: nguyên tắc chung cho phương pháp luận của
lịch sử các học thuyết kinh tế là nghiên cứu một cách có hệ thống các quan
điểm kinh tế, đồng thời đánh giá đúng công lao động, hạn chế của các nhà
kình tế trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Điều đó đòi hỏi việc nghiên cứu
lịch sử các học thuyết kinh tế phải tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc lịch
sử. Không nên xem xét lại các di sản lý luận kinh tế của giai đoạn quá khứ
- 5 -
bằng tiêu chuẩn hiện tại mà phải đánh giá ý nghĩa của chúng căn cứ vào
trình độ phát triển khoa học kinh tế của thời đại ấy.
Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế đòi hỏi phải sử dụng
phương pháp phê phán, phương pháp tiếp cận hệ thống, tính kế thừa và
phát triển của các trường phái kinh tế trong lịch sử. Sự tồn tại, phát triển
của hoạt động thực tiễn và các lý luận kinh tế đều mang tính lịch sử cụ thể
sự tồn tại, phát triển của hoạt động thực tiễn và các lý luận kinh tế đều có
tính lịch sử, trong đó con người luôn phê phán kinh nghiệm cũng như lý
luận của các thế hệ trước đó mà kế thừa, phát triển lý luận đó vào hoạt
động kinh tế - xã hội của thời đại mình. Chính vì vậy, các học thuyết kinh
tế bản thân nó có tính độc lập tương đối và có ảnh hưởng nhất định đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội.

các học thuyết kinh tế mới có đầy đủ hơn những kiến thức cơ bản về các
phạm trù, quy luật, lý luận kinh tế để hoạch định, chỉ đạo, thực thi các chính
sách kinh tế vĩ mô, vi mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
thị trường.
Câu hỏi ôn tập
1. Quá trình hình thành, phát triển lịch sử các học thuyết kinh tế?
2. Đối tượng nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế?
- 7 -
3. Phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế?
Tài liệu tham khảo
- LÞch sö c¸c häc thuyÕt kinh tÕ, Nxb Thèng kª, Hµ Néi 1997
- Gi¸o tr×nh lÞch sö c¸c häc thuyÕt kinh tÕ, Nxb CTQG, Hµ Néi 2000,
Chương 2
HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA
CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG VÀ CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG
- 8 -
I. HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
1. 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm lý luận
1.1.1.. Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa Trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương hay trường phái coi trọng thương mại là học
thuyết kinh tế đầu tiên về phương thức sản xuất TBCN, tồn tại từ cuối thế
kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII ở nhiều nước châu Âu mà điển hình ở Anh,
Pháp, Hà Lan.
Về mặt lịch sử: đây là giai đoạn tiền TBCN hay tích luỹ nguyên thủy
TBCN từ giữa thế kỷ XV – XVII, thực chất của tích luỹ nguyên thuỷ TBCN
là tách những người sản xuất ra khỏi tư liệu sản xuất bằng bạo lực và cướp
bóc nhằm tạo ra người vô sản đi làm thuê cho tư bản và tạo ra các nhà tư bản
có nhiều tư liệu sản xuất và tiền để bóc lột lao động làm thuê. Giai đoạn này
bóc lột siêu kinh tế bằng bạo lực, biểu hiện bằng xâm chiếm thuộc địa, buôn
bán nô lệ, cướp biển... hay còn gọi là giai đoạn "cừu ăn thịt người" đuổi

lưu thông trao đổi. C.Mác đã chỉ ra rằng: Chủ nghĩa trọng thương thế kỷ
XVI - XVII đã đi theo "cái hình thái chói lọi của giá trị để xem xét nền sản
xuất TBCN"
Những tư tưởng chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương ở các nước có
những sắc thái riêng phản ánh đặc điểm riêng của từng nước ở Pháp là trọng
thương công nghiệp, ở Anh gọi là trọng thương vàng. Tuy nhiên chủ nghĩa
trọng thương đều có những tư tưởng kinh tế chung, đó là:
Thứ nhất, tiền là của cải thực sự của xã hội: những người trọng thương
coi tiền là của cải quốc gia, càng nhiều tiền quốc gia càng giàu có. Theo họ,
- 10 -
tiền là một vị thần có thể thay hình đổi dạng để biến thành bất cứ thứ gì ta
muốn. Một tác giả trọng thương đã viết: "Tiền là một vị thần có thể thay
hình đổi dạng để biến thành bất cứ thứ gì mà ta muốn: rượu vang, bánh mì,
vải vóc, con ngựa, cái nhà, một di sản, một thị trấn hay cả một kinh thành".
Vì vậy, mục đích của mỗi quốc gia chung quy là tích luỹ nhiều tiền (vàng,
bạc). Từ đó, họ cho rằng: mục đích của mọi hoạt động kinh tế đều phải
hướng vào thu hút nhiều vàng, bạc, phải dùng mọi biện pháp hữu hiệu để thu
hút vàng, bạc trong nước.
Thứ hai, cách thức tích lũy tiền: việc thu hút vàng, bạc vào trong nước
chỉ được thực hiện bằng con đường phát triển thương mại, đặc biệt là ngoại
thương. Nhiệm vụ chủ yếu của thương mại là xuất siêu, cấm xuất khẩu kim
loại quý, thương nhân sau khi bán hàng phải mua vàng bạc về nước; khuyến
khích sản xuất cho xuất khẩu. Theo họ, trong thương mại phải có những thủ
đoạn để buôn bán làm giàu như lừa gạt, chiến tranh; bởi vì trong thương mại
phải có người được, kẻ mất; dân tộc này làm giàu phải biết hy sinh lợi ích
của dân tộc khác...
Những người theo chủ nghĩa trọng thương coi thương nghiệp mới là
hoạt động nghề nghiệp tạo ra tiền và của cải vì còn có những hoạt động sản
xuất ra nhiều hàng hóa vô hình mà thương nghiệp không sản xuất.
Thứ ba, nguồn gốc của lợi nhuận: lợi nhuận là do trao đổi, lưu thông

là “Bảng cân đối tiền tệ” được sử dụng làm cơ sở cho chính sách làm tăng
của cải tiền tệ, gìn giữ cho khối tiền không ra nước ngoài; tập trung buôn
bán vào những vùng có kho hàng để nhà nước dễ kiểm soát; bắt thương nhân
nước ngoài đến buôn bán phải dùng số tiền có được mua hết hàng hóa mang
- 12 -
về nước họ; quy định tỷ giá hối đoái, cấm đổi cho người nước ngoài khối
lượng tiền tệ lớn hơn mức quy định của nhà nước. Nhận xét học thuyết kinh
tế trong thương giai đoạn đầu, Ăngghen viết: “Các dân tộc chống đối nhau
như những kẻ bủn xỉn, hai tay ôm giữ túi tiền quý báu, nhìn sang người láng
giềng với con mắt ghen tị, đa nghi”.
Ở giai đoạn sau, các nhà kinh tế học như Thomas Mun (1571-1641)
người Anh, Antoine de Montchretien (1575-1622), Jean Baptiste Colbert
(1619-1683) người Pháp… đã hiểu của cải một cách rộng lớn hơn. Theo họ,
ngoài tiền, của cải còn là số sản phẩm dư thừa được sản xuất ra trong nước
sau khi đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, song phải được chuyển thành tiền
thông qua thị trường nước ngoài. Tư tưởng trung tâm của các tác phẩm kinh
tế là “Bảng cân đối thương mại”. Trong thương mại, phải đảm bảo xuất siêu
để có chênh lệch, tăng tiền tích lũy cho ngân khố quốc gia. Họ gọi “Bảng
cân đối xuất siêu” là bảng cân đối tích cực. T.Mun viết: “Chúng ta phải
thường xuyên giữ vững nguyên tắc là hàng năm bán cho người nước ngoài
với số lượng hàng hóa lơn hơn số lượng chúng ta phải mua của họ”.
Để có xuất siêu, họ khuyến khích việc nhập khẩu nguyên liệu thô và
xuất khẩu thành phẩm; thực hiện thương mại trung gian, mang tiền ra nước
ngoài để mua rẻ ở nước này, bán đắt ở nước khác; thực hiện chính sách thuế
quan bảo hộ nhằm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, khuyến khích phát triển
sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Nhìn chung, học thuyết trọng thương có hai giai đoạn đều cho rằng
nhiệm vụ kinh tế của mỗi nước là phải làm giàu, phải tích lũy tiền tệ. Tuy
nhiên, các phương pháp tích lũy tiền tệ là khác nhau.
Vào cuối thế kỷ XVII, chủ nghĩa trọng thương bắt đầu suy đồi. Theo

- 14 -
trong nước. Vì vậy, nền thương mại nước này thiếu đi cốt vật chất tạo điều
kiện cho hoạt động của mình, nên đến thế kỷ XVIII, nó phải nhường vị trí
hàng đầu thế giới về kinh tế cho nước Anh.
1.2.2. Chủ nghĩa trọng thương Pháp
Đại biểu tiêu biểu, nổi tiếng Antoine de Montchretien (1575-1622)
người đầu tiên nêu ra danh từ "chính trị kinh tế học", những quan điểm của
ông phản ánh thời kỳ quá độ từ học thuyết "bảng cân đối tiền tệ" sang học
thuyết về "bảng cân đối thương mại", theo ông:
+ Thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều ngành, nghề khác nhau.
+ Lợi nhuận thương nghiệp là chính đáng
+ Không chỉ tiền là tài sản quốc gia mà quan niệm cả dân số của một
nước và cả những người dân cũng là tài sản quốc gia, nông dân là chỗ dựa
cho một nước.
Đại biểu Jean Baptiste Colbert (1619-1683) đã đề ra hệ thống tài
chính của Pháp trong vòng 100 năm nên còn gọi là chủ nghĩa Colber. Ông
cho rằng ngoại thương có khả năng làm cho thần dân sung túc, sự hùng
cường của quốc gia là do số lượng tiền tệ quyết định, ông chú trọng phát
triển công nghiệp nhưng những biện pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp của
ông lại làm cho nông nghiệp sa sút. Ví dụ: Chính sách hạ giá hàng nông
phẩm, bắt bán lúa mì với bất cứ giá nào khi đã mang ra thị trường không
được chở về nhà.
Tóm lại những người trọng thương chủ nghĩa đều nhằm mục đích tích
luỹ thật nhiều tiền tệ, chú trọng phát triển thương nghiệp, nhưng ở mỗi nước
có khác nhau về phương pháp thực hiện và chịu sự tác động của hoàn cảnh
kinh tế - xã hội. So với ở Anh thì ở Pháp chủ nghĩa trong thương ít tính lý
luận, thiên về hoạt động thực tiễn, tính chất trọng thương có phần không triệt
để và bắt đầu của sự tan rã.
- 15 -
1.2.3. Chủ nghĩa trọng thương Anh

kinh tế hàng hóa đồng thời tạo ra điều kiện ra đời và phát triển của CNTB.
1. 3.3. Quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương
Công nghiệp càng phát triển, công trường thủ công tư bản trở thành
phổ biến và bước tới đỉnh cao, dẫn đến kết cấu kinh tế và xã hội thay đổi.
Nếu trước đây thương nghiệp chi phối công nghiệp thì lúc này vai trò của
công nghiệp được tăng lên so với thương nghiệp, người ta hướng tới sản
xuất, đề cao sức mạnh của sản xuất tạo ra của cải. Thời kỳ tích lũy nguyên
thủy của chủ nghĩa tư bản kết thúc, thay vào đó là giai đoạn tích lũy bằng giá
trị thặng dư do nền sản xuất tư bản tạo ra.
Giai cấp tư sản đủ lớn mạnh hơn, cần ít đến sự bảo hộ của nhà nước,
thêm vào đó ngày càng xuất hiện nhiều quan điểm mới trong các học thuyết
kinh tế. Các quan điểm phê phán nghiêm khắc chủ nghĩa trọng thương. Họ
nhận định nguồn gốc tạo ra của cải là lao động trong khâu sản xuất… vào
lúc này có nhiều nhà kinh tế như: Dulley North (1641-1695), William Petty
(1623-1687)…đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa trong thương và đề ra những
vấn đề lý luận mới.
II. HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG
1.1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm lý luận
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời
Cuối thế kỷ XVIII Pháp vẫn là nước tiểu nông, tàn dư của phương
thức sản xuất phong kiến vẫn còn nặng nề, nhà thờ chi phối bóc lột nông
dân, địa tô cao, sưu cao thuế nặng, chịu sự thống trị hà khắc, dân đói khổ bị
- 17 -
đẩy đến bờ vực của sự phá sản. Chủ nghĩa trọng nông ở Pháp ra đời từ năm
1756, tồn tại 21 năm cho đến năm 1777. Sự ra đời của chủ nghĩa trọng nông
ở Pháp do nhiều nguyên nhân, cụ thể:
Giai cấp địa chủ thu tô nặng với giai cấp nông dân: Mức địa tô rất cao
(từ 1/4 đến 1/3 thu hoạch trên ruộng đất) nông dân mắc vào cảnh tũng quẫn
cha truyền con nối.
Chính sách hạ giá lúa mì của Colbert (Bộ trưởng Tài chính): áp dụng

cuốn “Biểu kinh tế”…
Anne Roberrt Jaucques Turgot (1727-1781) là nhà tư tưởng lỗi lạc và
là nhà hoạt động chính trị lớn của nước Pháp đã từng giữ chức Bộ trưởng Bộ
Tài chính. Ông xuất thân từ một gia đình thị trưởng ở Paris. Lúc đầu
A.Turgot nghiên cứu luật học, ông có 13 năm hoạt động trong ngành tài
chính. Ông rất quan tâm đến hoạt động nông nghiệp theo hình thức đồn điền
do các nhà ta bản đầu tư trực tiếp kinh doanh, năm 1770 ông xuất bản cuốn
“Buôn bán ngũ cốc” trong đó đề cập nhiều đến tư tưởng trọng nông, năm
1774 ông được bổ nhiệm là Bộ trưởng bộ tài chính. Tư tưởng chủ đạo của
ông là tự do buôn bán ngũ cốc.
1. 2. Một số lý thuyết cơ bản của chủ nghĩa trọng nông
1.2.1. Lý thuyết về “Trật tự tự nhiên”
Theo F.Quesnay có 2 loại quy luật tự nhiên tồn tại đó là quy luật vật
lý và quy luật luân lý tác động trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Quy luật luân lý
cũng tất yếu như quy luật vật lý.
Ông đưa ra nội dung của lý thuyết “Trật tự tự nhiên” là:
- 19 -
- Thừa nhận vai trò của tự do cá nhân, coi đó là luật tự nhiên của con
người không thể thiếu được, chống lại chế độ phong kiến và xem nó là chế
độ không bình thường.
- Chủ trương thực hiện tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất
hàng hóa.
- Thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ tư hữu.
- Nhà nước không nên can thiệp sâu vào kinh tế, nhà nước như người
làm vườn không nên đụng chạm đến rễ cây (doanh nghiệp) mà chỉ nên chăm
sóc vườn cây thôi.
Nội dung của lý thuyết “Trật tự tự nhiên” của F.Quesnay về căn bản là
luật tư sản, ông đã đề nghị đối xử với chủ nghĩa tư bản như đối xử với một
hiện tượng hợp quy luật, nên nền kinh tế có tính tất yếu bên trong thì nhà
nước không can thiệp vào nền kinh tế. Ông cho rằng chính sách tự do kinh

thuyết sản phẩm thuần tuý có lý do lịch sử là lúc đó chưa xuất hiện phát
minh về định luật bảo toàn chuyển hoá năng lượng của Lômônôxốp.
1.2.3. Lý thuyết giá trị, lao động, giai cấp, tiền lương và lợi nhuận, tiền
tệ, tư bản.
* Lý thuyết về giá trị lao động: đây là lý thuyết của F.Quesnay xây
dựng nhằm chống lại chủ nghĩa trọng thương. Những người trọng thương
cho rằng nguồn gốc lợi nhuận là từ trong quá trình lao động và trao đổi
ngang giá không mang lại lợi nhuận. Trái lại F.Quesnay tìm “giá cả thực tế”
trong sản xuất, ông cho rằng “giá cả thực tế” phù hợp với mức cần thiết để
bù đắp chi phí sản xuất. Ông cho rằng “Sự mua bán phải được cân bằng hai
bên; đó là sự trao đổi giá trị với giá trị ngang giá mà những giá trị đó đã tồn
- 21 -
tại trước khi có trao đổi, còn trong trao đổi thì không sản xuất được gì, do đó
trao đổi không làm cho tài sản tăng lên vì tài sản đã được tạo ra trong sản
xuất”. Từ đó ông phát triển tư tưởng về trao đổi ngang giá và ông khẳng
định giá trị không được tạo ra trong lưu thông đồng thời trao đổi không làm
cho tài sản tăng lên vì tài sản được tạo ra trong sản xuất, trao đổi chỉ là sự
trao đổi giá trị sử dụng này bằng một giá trị sử dụng khác.
* Lý thuyết về lao động sản xuất và lao động không sinh lời.
Từ lý luận sản phẩm thuần túy F.Quesnay quan niệm lao động sản
xuất là lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý. Lao động không tạo ra sản phẩm
thuần tuý là lao động không sinh lời. Như vậy chỉ có lao động nông nghiệp
tạo ra sản phẩm thuần tuý nên nó là lao động sản xuất còn lao động công
nghiệp là lao động không sinh lời. Tuy nhiên ông không coi lao động công
nghiệp là ăn bám vào nông nghiệp.
* Lý thuyết về giai cấp
Từ lý luận lao động sản xuất F.Quesnay chia xã hội thành 3 giai cấp:
giai cấp sản xuất; giai cấp không sản xuất; giai cấp sở hữu. Không giống
F.Quesnay, A.R.J.Turgot chia xã hội thành 5 giai cấp: giai cấp các nhà tư
bản sản xuất; giai cấp công nhân sản xuất; giai cấp các nhà tư bản không sản

cho rằng “biểu kinh tế” không có nội dung và ý nghĩa gì, thì C.Mác là người
tìm ra ý nghĩ thực tiễn của nó, C.Mác đánh giá “Biểu kinh tế”của F.Quesnay
là sơ đồ đại cương về tái sản xuất xã hội và chính C.Mác là người đã kế
thừa, phát triển lý luận của F.Quesnay vào lý luận tái sản xuất của mình.
Nội dung của “Biểu kinh tế”
- Để phân tích “Biểu kinh tế” F.Quesnay đã đưa ra các giả định:
+ Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn.
- 23 -
+ Tru tng húa s bin ng ca giỏ c
+ Khụng xột n ngoi thng
+ Xó hi ch cú 3 giai cp c bn
- Trong tay giai cấp sở hữu đã có sẵn 2 tỷ tiền thu tô.
- Giá trị tổng sản phẩm có 7 tỷ đồng, trong đó giá trị sản phẩm nông
nghiệp là 5 tỷ, giá trị sản phẩm công nghiệp là 2 tỷ.
- Trong 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp đợc phân thành:
+ 1 tỷ để bù đắp khoản ứng ra ban đầu.
+ 2 tỷ để bù đắp khoản ứng ra hàng năm.
+ 2 tỷ sản phẩm ròng nộp cho địa chủ.
- Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp phân thành:
+ 1 tỷ bù đắp hao phí nguyên vật liệu.
+ 1 tỷ bù đắp t liệu hàng năm.
Ghi chú :
Một là, ở đây không tính đến phần tự tiêu dùng trong nội bộ ngành mà
không cần trao đổi với ngành khác.
Hai là, trong giai cấp sản xuất giả định phần tự tiêu dùng không có
hàng công nghệ phẩm.
Ba là, 2 tỷ sản phẩm ròng giả định đã biến thành tiền tô nộp cho địa chủ.
- S tỏi sn xut ca F.Quesnay:

- 24 -


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status