LỜI MỞ ĐẦU
Như ông cha thường nói: “sông có nguồn, cây có cội, con người có tổ có
tông”. Từ bao đời nay, trong tâm niệm của người Việt giỗ tổ Hùng Vương là
thiêng liêng, cao cả không thể lãng quên:
“Dù ai đi gần về xa
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.
Câu ca dao đậm đà tình nghĩa ấy đã đi sâu vào lòng người dân Việt Nam
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người dân đất
Việt từ miền ngược đến miền xuôi, từ miền Nam ra miền Bắc, đều có ý thức tìm
về cội nguồn của dân tộc. Hàng ngàn năm nay, truyền thống Giỗ Tổ Hùng
Vương tưởng nhớ cha Rồng, mẹ Tiên và 18 đời vua Hùng đã trở thành biểu
tượng văn hoá tâm linh, tín ngưỡng, điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết của cộng
đồng dân tộc Việt Nam, là nơi để đồng bào cả nước và Kiều bào ta ở nước ngoài
có điều kiện thắp những nén nhang bày tỏ lòng thành kính của mình trước anh
linh của các vị Vua Hùng.
Trong chuyến đi thực tập xuyên Việt, hành trình từ thành phố Hồ Chí
Minh về Hà Nội và điểm cuối cùng dừng chân là đền Hùng. Chúng tôi thực sự
cảm thấy xúc động về bề dầy lịch sử của dân tộc ta, tự hào khi mang trong mình
dòng máu con cháu Lạc Hồng và dâng lên một niềm xao xuyến bâng khuâng với
những cảm xúc khó tả khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên
nơi đây. Những lớp sương bồng bềnh như dải lụa trắng mềm mại, thanh khiết
1
trải ngang dãy núi, rừng cây làm cho khung cảnh Đền Hùng trở nên kỳ ảo như
giữa cõi Bồng lai.
Chính tại vùng đất Tổ thiêng liêng này Bác đã để lại cho chúng ta và
muôn đời con cháu mai sau một lời dặn dò cô đúc: "Các Vua Hùng đã có công
dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", lời căn dặn của Bác chứa
đền thờ vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Cả theo địa phương
hay các tên khác: núi Hùng, núi Hy Cương), có độ cao 175 mét so với mặt nước
biển. Trước kia khu vực này là cánh rừng già nhiệt đới. Ngày nay núi Hùng vẫn
giữ dáng vẻ của rừng tự nhiên với nhiều thế hệ cây tầng khác nhau, gồm 150
loài thảo mộc, thuộc 35 họ, trong đó còn lại một số cây đại thụ lớn như: đa,
thông, thiên tuế, trò vv...
Người xưa nói: Núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình
uốn khúc thành dãy núi Trọc, núi Vặn, núi Pheo ở phía sau.Từ núi Hùng nhìn ra
phía trước ngã ba Việt Trì có hàng chục quả đồi thấp là đàn rùa bò từ ao nước
3
lớn lên. Phía sau mảnh đất làng Hy Sơn (Tiên Kiên) là hình một con phượng cắp
thư. Phía bên phải - quả đồi Khang Phụ (Chu Hóa) là hình một con hổ phục.
Phía bên trái - quả đồi An Thái (Phượng Lâu) hình vị tướng quân bắn nỏ. Làng
Cổ Tích bên chân núi nằm trên lưng một con ngựa ghi cương. Dãy đồi từ Phú
Lộc đến Thậm Thình là 99 con voi chầu về đất Tổ. Đứng trên đỉnh cao Nghĩa
Lĩnh ta có thể bao quát toàn bộ một vùng rộng lớn với cảnh đẹp của sơn thuỷ
hữu tình.
Khu di tích Đền Hùng có tổng diện tích tự nhiên trên 1.000 ha, được xác
định trong tọa độ địa lý: từ 21
0
24ph08 giây đến 21
0
28 ph 76 giây vĩ độ bắc, từ
104
0
77ph 15 giây đến 104
0
81 ph 68 giây kinh độ đông, thuộc phần đất trong
địa giới hành chính của 7 xã: Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Kiên, Thanh Đình –
Lang
599 200
6 Hùng Huy Vương
Pháp Hải
Lang
500 87
7 Hùng Chiêu Vương
Lang
Liêu Lang
692 200
8 Hùng Vi Vương
Thừa
Vân Lang
642 100
9 Hùng Định Vương
Quân
Lang
602 80
10 Hùng Uúy Vương
Hùng
Hải Lang
512 90
11 Hùng Chinh Vương
Hưng
Đức Lang
514 107
12 Hùng Vũ Vương
Đức
Hiền Lang
456 96
núi Ngũ Nhạc thuộc Côn Luân, lấy Ngũ Hồ, Đại Hải, Nam Sơn làm nội Minh
đường triều phục.
Đời
vua thứ
Hịêu vua Số con
trai
Số
con gái
Số
chi
Số
cháu chắt
1
Kinh Dương
vương
24 20 36 596
2 Lạc Long Quân 186 29 141 3599
3 Hùng Quốc Vương 33 10 51 900
4 Hùng Diệp Vương 49 20 59 1591
5 Hùng Hy Vương 52 9 61 1600
6 Hùng Huy Vương 33 19 52 599
7
Hùng Chiêu
Vương
23 36 59 750
8 Hùng Vi Vương 31 16 47 579
9 Hùng Định Vương 29 30 50 559
10 Hùng Uúy Vương 29 30 50 434
11
Hùng Chinh
Thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng 2000 năm trước công nguyên tính
tới nay gọi là 4000 năm văn hiến. Chia làm hai thời kỳ:
7
* Thời kỳ bộ lạc khoảng từ thế kỷ 10 trước công nguyên trở về trước, ứng
với văn hóa Đồng Đậu - Phùng Nguyên.
* Thời kỳ dựng nước Văn Lang khoảng từ thế kỷ 10 trước công nguyên
đến giữa thế kỷ 3 trước công nguyên ứng với văn hóa Gò Mun - Đông Sơn.
Nước Văn Lang do 15 bộ lạc hợp thành là: Văn Lang, Giao Chỉ, Việt
Thường, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Ninh Hải, Lục Hải, Thanh Tuyền, Cửu
Đức, Chu Diên, Tân Xương, Bình Văn, Kê Từ, Bắc Đái (theo VSL).
Về Mô hình xã hội:
- Đứng đầu đất nước là vua Hùng thế lập cha truyền con nối.
- Giúp việc bên cạnh vua có các quan Lạc hầu (gọi là Hồn)
- Lạc tướng là chức quan cai quản một bộ (tức bộ lạc cũ).
- Dưới Lạc tướng là chức Bồ chính đứng đầu các làng, bản.
- Dân gọi là Lạc dân - Lạc dân làm kinh tế gia đình nộp tỷ lệ nhỏ sản
phẩm cho Nhà nước. Nghề chính là cấy lúa nước kết hợp với chăn nuôi trâu bò,
lợn gà, đánh cá, săn bắn. Ngoài ra còn có các nghề thủ công như làm gốm, chế
tác đồ đá, đan lát tre nứa, đan lưới, dệt vải, nấu đúc đồng, rèn sắt, đóng thuyền,
sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ v.v... Đã xuất hiện một bộ phận làm nghề buôn bán
đổi chác.
- Có một tỷ lệ nhỏ nô tỳ (gọi là xảo xứng thần bộc nữ lệ) phục vụ gia đình
quí tộc. Ở nước ta không thiết lập chế độ chiếm hữu nô lệ, đại đa số dân trong
nước là dân tự do tức Lạc dân. Quan hệ giữa Vua Hùng và Lạc dân rất gần gũi
"cùng cày ruộng, cùng tắm sông, cùng săn bắn, cùng xem hội" sử cũ gọi là "đời
hồn nhiên" (Lĩnh Nam chích quái thế kỷ 15).
Như vậy, Đền Hùng nằm ở miền trung tâm dân cư đứng đầu vương quốc
Văn Lang vào thời đại Hùng Vương. Và chính những cư dân ở thiên niên kỉ cuối
cùng trước công nguyên, đã từng chọn núi Cả cao nhất vùng để tiến hành những
nghi lễ cổ xưa của mình: thờ trời, thờ đất, thờ lúa… Những dấu ấn văn hóa ban
tòa 3 gian, cách một khoảng lộ thiên 1,5 m.
Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài
hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc hậu cung, hai bên đắp phù điêu 1 bên
voi, 1 bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mĩ thuật, mái lợp ngói mũi (địa
phương gọi là ngói mũi lợn. Tiền bái: gồm 3 gian, nhỏ thấp, lòng nhà rộng
4,70m dài 8,20m ; mái trước cao 1,70m, mái sau cao 2,40 m. Trên mái kiểu quá
giang đóng trụ, đầu gối vào cột xây, kèo cầu suốt.
Hậu cung: gồm 3 gian, được xây bít đốc, tường hậu, quá giang gối tường,
trên là kèo cầu, cài nóc. Hai bên đầu đốc có đắp hổ phù gắn chữ thọ.
Trong đền đặt 4 cỗ long ngai, 3 cỗ long ngai chính diện có bài vị thờ: ất
Sơn Thánh Vương Vị; Đột Ngột Cao sơn Cổ Việt Hùng Thị Thập Bát Thế
Thánh Vương Vị; Viễn Sơn Thánh Vương Vị.Cỗ long ngài thứ 4 không có bài
vị, trong văn tế thời phong kiến ghi thờ hai bà chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa là con
gái vua hùng thứ 18.
• Nhà bia
Được xây dựng năm 1917, kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có
đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi
măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước
đây đặt tâm bia đá, nội dung chi lời căn dặn của chủ tịch Hồ Chí Minh khi người
về thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954:
“Các vua hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
• Chùa Thiên Quang
Chùa: được xây dựng vào thời Trần (thế kỉ XVII – XIV) có tên là
“viễn sơn cổ tự”. Đến thế kỉ XV, chùa được xây dựng lại đổi tên là
Thiên Quang Thiền Tự”. Đến thời Tự Đức thứ 3 (1850) chùa được xây
10
dựng lại, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, gồm các nhà : tiền
đường, thiêu hương, tam bảo ở phía trước; dãy hàng lang, nhà tổ ở
phía sau. Năm 1917, một nhà phương đình (có 2 tầng mái) được xây
dày tượng trưng cho trời đất. Căn cứ vào các phế tích các tài liệu kiến trúc xây
dựng đã tìm được qua các cuộc khai quật khảo cổ học, cho thấy: vào thời Trần
và có thể trước đó, tại Đền Trung cũng như các khu đền Hạ và đền Thượng, đã
xuất hiện các kiến trúc tín ngưỡng và tôn giáo. Đến thế kỉ XV, Nho giáo phát
triển, các công trình kiến trúc tôn giáo của cư dân địa phương thờ Phật trên núi
Cả (Núi Hùng), được quy tụ xây dựng tại khu vực tương đương với khu đền Hạ,
chính là ngôi chùa Thiên Quang hiện nay. Đền Trung là công kiến trình còn tồn
tại đến ngày nay. Năm 1998 được trùng tu lại.
Đền Trung được xây dựng kiêu chữ nhất. Đền có 3 gian quay về hướng
Nam. Dài 7,20m, rộng 3,70m. Mái hiên cao 1,80m, không có cột, kèo cầu quá
giâng gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở ba cửa. Hai bên hẹp, cửa
rộng có chắn song (13 chiếc) và 4 cánh Ngói lợp giống như ngói ở Đền Hạ và
Chùa trong đợt trùng tu năm 1999. Hai đầu đốc trang trí hai vỉ ruồi.
Đền Trung thờ tự giống như đền Hạ. Ba Gian và đầu đốc, đặt 4 bệ thờ,
trên đặt 4 long ngai, 3 bài vị. Ban chính giữa đồ thờ để thất sự, hai gian hia bên
để ngũ sự, gian đầu đốc để tam sự. Các đồ thờ tự đều được sơn son thiếp bạc
phủ hoàng kim, có niên đại hầu hết vào thời Nguyễn.
Trong đền có 4 bức hoành phi có nội dung:
Hùng Vương Tổ Miếu : miếu thờ tổ Hùng Vương, (Gian giữa)
Hùng Vương linh tích: 9 vết tích linh thiêng của Vua Hùng (bên phải)
Triệu Tổ Nam Bang: Tổ muôn đời của nước nam, (bên trái)
12
Trong đền có 4 cỗ long ngai, 3 Cỗ Long Ngai chính diện có bài vị thờ ghi:
Ất sơn thánh vương vị
Đột ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế Thánh Vương vị.
Viễn sơn Thánh Vương vị.
Cỗ Long Ngai thứ 4 không có bài vị, trong văn tế ghi thờ hai bà chúa Tiên
Dung, Ngọc Hoa là con gái Vua Hùng thứ 18.
• Đền Thượng và Lăng Hùng Vương
Nơi đây các vua Hùng lập miếu thờ Trời "Kính thiên lĩnh điện", thờ 3