nghiên cứu cơ sở khoa học, xác định một số biện pháp lâm sinh phục hồi tài nguyên rừng khu di tích lịch sử đền hùng tỉnh phú thọ - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH PHỤC HỒI TÀI NGUYÊN RỪNG
KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGÔ VĂN HIỆP NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH PHỤC HỒI TÀI NGUYÊN RỪNG
KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ


thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn.
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ của Khoa Sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường
Đại học Nông lâm Thái nguyên. Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự
giúp đỡ đó.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của
Ban quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng tỉnh Phú Thọ đối với tác giả trong quá
trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu cần thiết khác.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người
thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và
hoàn thành luận văn này./.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2010
Tác giả Ngô Văn Hiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, có tác dụng nhiều mặt đối
với đời sống, kinh tế - xã hội và sự sinh tồn của con ngƣơì.ngƣời. Rừng cung cấp không
những sản phẩm có giá trị trực tiếp nhƣ gỗ, củi, tre nứa, nấm ăn, cây làm thuốc, chim,
thú rừng v.v , mà rừng còn có giá trị gián tiếp rất to lớn và vô cùng quý giá nhƣ khả
năng tự duy trì, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, điều hòa nhiệt độ làm cho mùa hè mát mẻ,


2
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Khu di tích lịch sử Đền Hùng - Phú Thọ đƣợc thành lập theo Quyết định số:
89/QĐ-TTg ngày 12/7/2002 của Thủ tƣớng Chính Phủ nhằm mục đích bảo vệ cảnh
quan, môi trƣờng sinh thái, giữ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, bảo tồn đa dạng sinh học, diện
tích rừng tự nhiên và rừng phục hồi, biện pháp tác động khoanh nuôi bảo vệ là chủ yếu
chƣa có những giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý để nâng cao chất lƣợng của
rừng. Xuất phát từ những hạn chế nói trên, tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ sở
khoa học, xác định một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi tài nguyên rừng khu di
tích lịch sử Đền Hùng tỉnh Phú Thọ”.

thái học.
Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:
Rừng mƣa nhiệt đới đã đƣợc nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu, nhƣ: Catinot
R. (1965), Plaudy J Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu
diện đồ ngang và đứng. Các nhân tố cấu trúc đƣợc mô tả theo các khái niệm: dạng sống,
tầng phiến Rollet (1971) đã đƣa ra hàng loạt phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng
Formatted: Level 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
mƣa, nhƣ tƣơng quan giữa chiều cao với đƣờng kính D1.3, tƣơng quan giữa đƣờng kính
tán với đƣờng kính D1.3 và biểu diễn chúng bằng các hàm hồi quy [32], [33].
Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng:
Với xu thế chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lƣợng, thống kê
toán học đã trở thành công cụ cho các nhà khoa học lƣợng hóa các quy luật của tự nhiên
và xã hội.
Trong các nghiên cứu về rừng tự nhiên, nghiên cứu định lƣợng quy luật phân bố
số cây theo đƣờng kính (N-D1.3), phân bố số cây theo chiều cao (N-H) phân chia tầng
thứ đƣợc nhiều tác giả thực hiện có hiệu quả, ngoài việc phản ánh cấu trúc nội tại của
lâm phần làm căn cứ đề xuất các biện pháp kinh doanh còn làm cơ sở để điều tra, thống
kê tài nguyên rừng.
Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ rừng tự nhiên có rất nhiều quan điểm:
Rừng tự nhiên có tầng tán không phân biệt rõ ràng, nên việc phân chia tầng tán
còn hạn chế: Đối với rừng mƣa nhiệt đới nhiều tác giả chia 3 tầng: Tầng cây cao (tầng
vƣợt tán), tầng tán chính, tầng dƣới tán. Một số tác giả khác chia tầng tán rừng thành 5
tầng: Tầng trội, tầng chính, tầng dƣới tán, tầng cây bụi và trảng cỏ (Walton, Myutt
Smith 1955) [33], [34].

[23], [26].
Do sự phát triển công nghiệp thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của thế giới đã
hình thành xu hƣớng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng suất cao nhằm đáp
ứng yêu cầu của nền kinh tế. Nhƣng sau thất bại về tái sinh nhân tạo ở Đức và một số
nƣớc nhiệt đới mà Beard (1947) đã gọi là "bệnh sởi trồng rừng" do thiếu sinh tố sinh
thái học, nhiều nhà khoa học đã nghĩ tới việc quay trở lại với tái sinh tự nhiên [15].
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và
phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đã kết lúận cây tái sinh có dạng phân bố cụm,
một số có dạng phân bố Poisson. Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên,
Barnard (1955) đã đề nghị một phƣơng pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích
thƣớc ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh [34].
Baur G.N (1962) [32] Đối với rừng nhiệt đới, các nhân tố nhƣ ánh sáng, độ ẩm
của đất, kết cấu quần thụ cây bụi, thảm tƣơi là những nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp đến
tái sinh, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hƣởng đến sự phát triển của cây con, nhƣng đối với
sự nầy mầm thì ảnh hƣởng đó không rõ [32].
Formatted: Level 1
Formatted: English (U.S.)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
1.1.3. Nghiên cứu về phục hồi
1.1.3.1. Quan điểm nhận thức về phục hồi rừng
Trƣớc khi tìm hiểu thế nào là phục hồi rừng chúng ta cần hiểu rõ về quá trình suy
thoái rừng. Sự suy thoái rừng đƣợc hiểu một cách khái quát: là quá trình dẫn đến phá vỡ
cấu trúc rừng, mất sự đa dạng của loài cây bản địa, các quá trình sinh thái đặc trƣng nên
hiện trạng rừng tự nhiên và năng suất của chúng.
Sự suy thoái rừng có thể xẩy ra ở nhiều hình thức và đƣợc biểu hiện ở nhiều qui

nó có xu hƣớng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái
ban đầu), quá trình này đƣợc gọi là diễn thế phục hồi. Nhƣng với những tác động quá
mạnh vƣợt ra ngoài ngƣỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại
sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra. Lúc này cần những hoạt động của con
ngƣời nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất. Nhƣ
vậy, hoạt động phục hồi rừng đƣợc hiểu là các hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm
làm đảo ngƣợc quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị
thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tuỳ thuộc vào từng đối tƣợng và mục đích cụ
thể. Lamb và Gilmour (2003) đã đƣa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngƣợc quá
trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng. Các khái niệm này đƣợc
hiểu nhƣ sau:
- Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): khái niệm này đƣợc hiểu là
sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực
vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh. Ở vùng nhiệt
đới, các xã hợp thực vật đƣợc thay thế này thƣờng đơn giản nhƣng lại có năng suất cao
hơn thảm thực vật gốc. Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tƣợng của
hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng
các loài cây nhập nội sinh trƣởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm
thực vật gốc.
- Khôi phục (restoration): hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi phục
lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo) là đƣa khu rừng đó trở về nguyên trạng ban
đầu của nó. Đƣa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn
bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh
thái.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin


9
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
năm nay trên nhiều lĩnh vực quản lý núi đồi, đồng cỏ, rừng và sinh vật hoang dã. Philip
năm 1883 đã xuất bản cuốn phục hồi rừng. Leopold (1935) đã nghiên cứu phục hồi 24
ha đồng cỏ. Ông cho rằng hệ sinh thái phải đƣợc bảo vệ một cách hoàn chỉnh, quần thể
sinh vật phải ổn định và đẹp.
Đến thập kỷ 50 thế kỷ 20 nhiều nhà khoa học châu âu, bắc Mỹ và Trung Quốc
đều chú ý đến vấn đề môi trƣờng, xây dựng một loạt các công trình phục hồi và phòng
chống sự thoái hoá khoáng sản, đất và nƣớc bằng cách áp dụng các biện pháp sinh vật.
Farnworth (1973) đã nêu ra phƣơng hƣớng nghiên cứu phục hồi rừng mƣa nhiệt đới.
Nhiều hội nghị ở Mỹ năm 1975 đã đƣa ra các biện pháp kỹ thuật, kế hoạch nghiên cứu
liên quốc gia về vấn đề này.
Nhƣng phục hồi hệ sinh thái rừng đã trở thành vấn đề nóng bỏng từ thập kỷ 80
của thế kỷ 20. Năm 1980 Cairn chủ biên cuốn “ Quá trình phục hồi hệ sinh thái bị tổn
thất” 8 nhà khoa học đã tham gia biên soạn nhiều vấn đề về sự tổn thất hệ sinh thái và
các biện pháp khắc phục. Năm 1985 thành lập một hiệp hội khoa học phục hồi hệ sinh
thái quốc tế. Lĩnh vực khoa học này đã bắt đầu từ đó. Từ năm 1990 nhiều tác phẩm về
phục hồi hệ sinh thái của Peng Weilin đã đƣợc xuất bản.
Do sự suy thoái rừng có rất nhiều mức độ nên các hoạt động phục hồi rừng cũng
rất đa dạng, điều này phụ thuộc vào hiện trạng của rừng khi tiến hành phục hồi. Trong
lâm sinh nhiệt đới các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng rất đa dạng nhƣng cơ sở xuyên
suốt của các biện pháp đó là việc vận dụng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo hay sự vận
dụng cả hai hình thức tái sinh này phụ thuộc vào từng quốc gia, từng lập địa cụ thể.
Có rất nhiều cách đƣa ra lí do cần phải trồng rừng. Năm 1944 Tansley đƣa ra “giả
thuyết về diễn thế gia tốc”: ở các khu rừng mƣa không phải là đâu đâu cũng có thể áp
dụng đƣợc những kĩ thuật tái sinh tự nhiên. Tại một số nơi, có những diện tích rừng
rộng lớn đã bị phá huỷ do các cách khai thác cạn kiệt hoặc do canh tác tạm thời, trên
những lập địa nhƣ thế còn phải trải qua những thời gian dài thì diễn thế tự nhiên mới

tổn phí còn đắt hơn là rừng có thể bù đắp đƣợc; 3) nơi nào mà không thấy có mặt loài
cây có giá trị.
- Trồng dậm dƣới tán kiểu thâm canh ( Intensive Enrichment Planting).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Khác hẳn với trồng rừng dƣới tán kiểu quảng canh, kiểu trồng dậm dƣới tán kiểu
thâm canh yêu cầu phải chăm sóc cho toàn bộ quần thể sau khi trồng. Trồng rừng dƣới
tán kiểu thâm canh nhằm thiết lập một quần thể có trữ lƣợng đầy đủ, nhƣng đồng thời
cũng lợi dụng bất kì lớp cây tái sinh hợp yêu cầu nào có thể có mặt trong khoảnh trồng
cây, nói chung là trồng dậm dƣới tán đƣợc áp dụng ở nơi nào mà lớp cây tái sinh này
thiếu hụt. Kiểu trồng này đã đƣợc áp dụng ở nhiều nơi và vào nhiều thời điểm khác
nhau và thƣờng đem lại kết quả rất thoả đáng. Ở New South Wales, phƣơng pháp này
đã đƣợc dùng để tạo ra một số các rừng trồng cao tuổi nhất và thành công nhất với loài
Araucaria cunninghamii, phƣơng pháp này đã đƣợc dùng ở Xây lan (Holmes. 1956 – -
1957 ), Ấn Độ (Krishnaswamy, 1952), Puectô Ricô và Malaysia.
- Trồng rừng không tàn che bằng lao động trả công (Open Plantation by Direct
labour)
Kiểu tái sinh nhân tạo chủ yếu sau cùng đƣợc áp dụng ở các khu vực rừng mƣa là
xây dựng những rừng trồng không tàn che bằng lao động trả công, ngƣợc lại với cách
xây dựng các rừng này theo kiểu taungya. Cách làm này là sử dụng một loạt loài cây
khác nhau, dƣới những điều kiện biến đổi khác nhau. Ngƣời ta đã lựa chọn rất nhiều
loài cây - Pinus radiata ở Tân Tây Lan, Araucaria spp. ở Queensland và Tân Ghinê,
Tectona và Pinus spp. Ở một số nơi tại Indonesya, Pinus caribaea ở Xurinam, …Kĩ
thuật này đại diện cho hình thức lâm sinh mang tính chất thâm canh nhất đã đƣợc tiến
hành và cũng là hình thức tốn nhất nhìn về số vốn phải bỏ ra, nhƣng nó đã chứng tỏ là
đem lại lợi nhuận ở mức cao.

- Cây tá i sinh bị chè n é p bở i cá c loà i cây thƣ́ yế u họ Cau d ừa, tre nƣ́ a v .v
Sau thấ t bạ i nà y, ở Malaysia đã xuất hiện một vài biện pháp linh hoạt hơn nhƣng
hiệ n chƣa có cơ sở để đá nh giá . Ví dụ điển hình nhƣ phƣơng thức chặt chọn . Đây là
phƣơng thƣ́ c "chỉ thu hoạch những cây đã đƣợc lựa chọn". Xét về mặt lâm sinh, phƣơng
thƣ́ c nà y cố gắ ng giả m thiể u nhƣ̃ ng tổ n hạ i cho cây tá i sinh trong lú c thu hoạ ch và xá c
đị nh chu kỳ khai thá c hợ p lý . Hiệ n tạ i chu kỳ chặ t củ a phƣơng thƣ́ c nà y là 25 - 35 năm
và lƣợng chặ t tố i thiể u là 32 cây/ha cho nhƣ̃ ng cây có D
1.3
 50 cm ở nhƣ̃ ng cây họ Dầ u
và D
1.3
 45 cm cho cá c loà i khá c, (Thang & Tambong, 1990).
Formatted: Expanded by 0.4 pt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Tại một quốc gia Nam Mỹ là Surinam có một thử nghiệm đƣợc tiến hành trong
vòng 17 năm giƣ̃ a Trƣờ ng Đạ i họ c Nông nghiệ p Wagenigen (Hà Lan) và Trƣờng Đại
học Tổng hợp Surinam hợp tác nghiên cứu xây dựng một phƣơng thức điều chế có tên
gọi là "phƣơng thƣ́ c điề u chế Celos " (CMS
*
). Mục tiêu lâm sinh của CMS là tái sinh
nhƣ̃ ng loà i cây mụ c đí ch , thúc đẩy sinh trƣởng của những loài mong muốn và duy trì
cân bằ ng sinh thá i quầ n thể nhằ m giƣ̃ ổ n đị nh sả n lƣợ ng bằ ng cá ch duy trì rƣ̀ ng cà ng
giố ng giai đoạ n tƣ̣ nhiên cà ng tố t . Mộ t điể m đƣợ c nhấ n mạ n h là mụ c tiêu xƣ̉ lý lâm
sinh có thể là m mấ t cân đố i tỷ lệ cá c loà i phi mụ c đí ch nhƣng không tiêu diệ t hẳ n
chúng. Ƣu điể m nổ i bậ t củ a CMS là bả o toà n đ ƣợc cấu trúc rừng có hầu hế t cá c cấ p

nhƣ vậy, số lần thay thế tối đa cũng chỉ có thể là 3, vì rừng nhiều tầng tối đa cũng chỉ có
thể có 3 tầng cây gỗ [26] .
Thái Văn Trừng (1978) đã tiến hành phân chia thực vật rừng nhiệt đới thành 5
tầng: tầng vƣợt tán (A
1
), tầng ƣu thế sinh thái (A
2
), tầng dƣới tán (A
3
), tầng cây bụi (B)
và tầng cỏ quyết (C). Thái Văn Trƣờng đã cải tiến và bổ sung phƣơng pháp biểu đồ mặt
cắt đứng của Davit - Richards để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây
bụi và thảm tƣơi đƣợc vẽ phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và ghi ký hiệu thành phần loài cây
của quần thể đối với những đặc trƣng sinh thái và hậu vận cùng biểu đồ khí hậu, vị trí
địa lý và địa hình [30].
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu định lƣợng về cấu
trúc rừng, nổi bật là các công trình của các tác giả: Đồng Sĩ Hiền (1974), Nguyễn Hải
Tuất (1975) ….Theo Đồng Sỹ Hiền (1974): “Tổng thể những cây hình thành một
khoảng rừng thuần nhất nhiều hay ít. Vì thế trong thực tiễn, rừng tự nhiên nhiệt đới
nƣớc ta, những cây dù khác loài, khác tuổi mọc thành rừng nghĩa là cùng nhau sinh
trƣởng trên một diện tích nào đó với mật độ nhất định, hình thành một đơn vị sinh vật
học, một lâm phần có quy luật nhất định”
Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N-D
1.3
)
Với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi theo Đồng Sĩ Hiền (1974) cho thấy, dạng
tổng quát của phân bố N-D là phân bố giảm, nhƣng do quá trình khai thác chọn thô
không theo quy tắc, nên đƣờng thực nghiệm thƣờng có dạng hình răng cƣa và ông đã
chọn hàm Mayer để mô phỏng quy luât cấu trúc đƣờng kính cây rừng, Nguyễn Hải Tuất
(1986) sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay

chú ý đến các vấn đề sinh thái nên phần nào chƣa đáp ứng đƣợc mục tiêu quản lý rừng
ổn định, lâu dài.
1.2.2. Tái sinh rừng tự nhiên
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung
nhƣng do bị tác động của con ngƣời nên nhƣng quy luật tái sinh bị thay đổi.
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng, Phùng Ngọc Lan (1964)
đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dƣới tán rừng ở lâm trƣờng Hữu Lũng, Lạng Sơn.
Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hƣởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm
[23].
Formatted: Level 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
Trần Ngũ Phƣơng (1965) kết luận: “ Trong quá trình một tầng nào đó của rừng
bắt đầu già cỗi thì tầng ấy đã chuẩn bị cho bản thân nó một lớp cây con tái sinh để sau
này sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong”, tác giả cũng rút ra các quy luật tái sinh tự
nhiên này biểu hiện không điều, khi có khi không, chỗ thƣa chỗ dày, chỗ tốt, chỗ không
tốt nhƣ vậy mô phỏng theo thiên nhiên một cách thông minh và mô phỏng theo phƣơng
pháp nhân tạo, làm nhƣ vậy, cấu trúc phân tầng của rừng luôn luôn đảm bảo về lƣợng
cũng nhƣ về chất [26].
Theo Vũ Đình Huề (1969) từ các kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở rừng miền
Bắc Việt Nam dựa vào mật độ tái sinh, Ông đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5
cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Ông đã tổng kết: “Dƣới tán rừng nguyên
sinh, tổ thành tầng cây tái sinh tƣơng tự nhƣ tầng cây gỗ, dƣới tán rừng thứ sinh tồn tại
nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tƣợng tái sinh theo đám đƣợc thể hiện rõ nét tạo
nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng”. Tác giả cũng đã xây dựng
biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho những đối tƣợng rừng lá rộng miền Bắc.

Thảo luận, những kết luận từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nƣớc có thể sử dụng để tham khảo cho những đề xuất biện pháp kỹ thuật tác động
vào rừng khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành thành phần thực vật thân gỗ tại khu
vực nghiên cứu.
1.2.3. Nghiên cứu về phục hồi
1.2.3.1. Quan điểm nhận thức về phục hồi rừng
Quá trình hình thành nên rừng thứ sinh (Secondary forest) do diễn thế thứ sinh
(Secondary succession) ở nơi đã bị mất rừng là phục hồi rừng.
Theo tác giả Trần Đình Lý (1995) [27], phục hồi rừng là một quá trình sinh địa
phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ
(hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán. Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại
một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu,
nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo.
Chỉ tiêu định lƣợng xác định rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng gỗ sử dụng
quan điểm của Trần Đình Lý (1995) [28] là: độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 3m
Formatted: Level 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
trở lên đạt 0,3. Đối với rừng vầu, nứa theo tiêu chuẩn tại điểm c mục 2 điều 7 quy phạm
QPN 21-98 [4] độ che phủ đạt trên 80%, nhƣng điểm bổ sung là độ che phủ tính cho cả
vầu, nứa và cây gỗ hỗn giao.
Nhƣ vậy, phục hồi rừng là một quá trình bao gồm nhiều các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh áp dụng liên hoàn nhằm mục đích thiết lập lại hệ sinh thái rừng, những hiểu
biết này đƣợc biểu hiện qua quá trình lịch sử hình thành các biện pháp kỹ thuật phục hồi
rừng đƣợc trình bày ở phần sau.
1.2.3.2. Lược sử hình thành và phát triển của các biện pháp kỹ thuật phục hồi

dài. Mặ t khá c, mục tiêu của tu bổ rừng là đúng nhƣng trong kỹ thuật có nội dung "chặ t
hế t cây bụ i thả m tƣơi " là không đúng vì trái với qui luật tƣ̣ nhiên. Có lẽ đây là một trong
nhƣ̃ ng lý do dẫ n đế n biệ n phá p kỹ thuậ t nà y bị bã i bỏ.
Cũng trong khoảng thời gian của những năm 1970 ý tƣởng "khoanh nú i nuôi
rƣ̀ ng" đã xuấ t hiệ n và về sau nà y tƣ̀ ng bƣớ c ý tƣở ng đó đƣợ c hoà n thiệ n và đƣợc áp
dụng phổ biến cho đến nay thông qua "kỹ thuật phụ c hồ i rƣ̀ ng bằ ng khoanh nuôi " giải
pháp này đƣợc hiểu là sự "tậ n dụ ng triệ t để khả năng tá i sinh và diễ n thế rƣ̀ ng tƣ̣ nhiên
để tạo lại rừng thông qua các biện pháp ngăn chặn có tính chất hành chính các tác động
tƣ̀ bên ngoà i nhƣ khai thá c , chặ t phá , chăn thả , lƣ̉ a rƣ̀ ng v .v " (Qui phạ m tạ m thờ i về
các giải pháp kỹ thuật lâm sinh á p dụ ng cho rƣ̀ ng sả n xuấ t. Bộ Lâm nghiệ p, năm 1988).
Theo cá ch đị nh nghĩ a nà y phụ c hồ i rƣ̀ ng bằ ng khoanh nuôi thƣ̣ c chấ t là một giải pháp
kinh tế - xã hội trong đó bao hàm ý nghĩa lâm sinh học ở chỗ phải xác định đƣợc
tiêu chuẩ n và điề u kiệ n cho khoanh nuôi . Khi phân tí ch tiêu chuẩ n khoanh nuôi
rƣ̀ ng, Nguyễ n Luyệ n (1993) có đƣa ra 3 nộ i dung:
- Tiêu chuẩ n về điề u kiệ n tƣ̣ nhiên.
- Tiêu chuẩ n về điề u kiệ n sinh vậ t họ c.
- Tiêu chuẩ n về điề u kiệ n kinh tế - xã hội.
Trong 3 tiêu chuẩ n nà y, tiêu chuẩ n về kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn khó xác định
nhấ t.
Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là một biện pháp ít chi phí nhƣng mang lại lợi
ích kinh tế và lợi ích sinh thái cao, đặc biệt là phục hồi tính đa dạng sinh học của rừng.
Đây còn là biện pháp áp dụng cho những nơi không có điều kiện áp dụng các giải pháp
kỹ thuật, cho những nơi có địa hình khó khăn, những nơi không có kinh phí đầu tƣ để
Formatted: Expanded by 0.3 pt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin


21
Formatted: Position: Horizontal: Center,
Relative to: Margin
nội dung trong giáo trình môn lâm học giảng dạy cho sinh viên Lâm nghiệp khoá đầu
tiên, nhƣng ngay cả khái niệm phạm vi đặt ra nhƣ thế nào? đối tƣợng là gì và ở đâu?
cũng chƣa đƣợc định rõ. Mãi đến giữa những năm 80 cái đƣợc gọi là “khoanh núi nuôi
rừng” mới đƣợc định hình và chuyển hƣớng theo cụm thuật ngữ mới là: “ phục hồi rừng
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” hay “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng”. Sự
chuyển hƣớng đó đƣợc chú ý bằng 2 đề tài nghiên cứu thuộc chƣơng trình cấp Nhà
nƣớc đó là:
+ Nghiên cứu phân loại đối tƣợng và đề xuất biện pháp phục hồi rừng bằng
khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lƣu vực Sông Đà, chƣơng trình lâm nghiệp tổng
hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986-1990.
+ Trần Đình Lý và các cộng sự (1996) [27] Nghiên cứu xác định diện tích và hệ
thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng. Nghiên cứu đƣa ra một
cách nhìn hệ thống và toàn diện về biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi phục hồi rừng. Với
việc phân biệt rõ ràng giữa rừng và thảm thực vật, nghiên cứu đƣa ra khái niệm khoanh
nuôi phục hồi rừng là “quá trình lợi dụng triệt để quy luật tái sinh và diễn thế tự nhiên
với sự can thiệp hợp lý của con ngƣời nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi lại rừng trong
một thời gian xác định theo mục đích đặt ra”. Qua cách nhìn nhận đó xác định đƣợc đối
tƣợng cụ thể cho khoanh nuôi phục hồi rừng. Xác định thời gian khoanh nuôi và tiêu
chuẩn cần đạt của rừng khoanh nuôi. Xác định đƣợc nội dung công việc cần tiến hành
trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ khác nhau. Nghiên cứu đã xây dựng đƣợc
bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi rừng và xây dựng đƣợc danh lục sơ bộ gồm
155 loài cây bản địa có thể sử dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng. Đây là công
trình đầu tiên ở việt nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm
khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt nam. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây
dựng quy phạm chƣa xây dựng đƣợc quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng
loại hình rừng cụ thể.

Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Formatted: Expanded by 0.3 pt

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên Về thổ nhƣỡng Ngoại nghiệp Một số chính sách liên quan tới tái tạo rừng Đa dạng về thành phần loài cây
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status