Đánh giá chất lượng văn hóa của một số mặt hàng lưu niệm trong dịch vụ du lịch tại khu di tích lịch sử đền hùng phú thọ - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Nói đến Đền Hùng và nói đến Phú Thọ là nói đến vùng đất Tổ, cội nguồn
dân tộc nơi có một nền văn hóa phát triển lâu đời. Được đánh giá là di tích lịch sử
văn hóa quan trọng bậc nhất trong số 10 di tích quốc gia đặc biệt, đền Hùng chính
là nơi hội tụ những giá trị tinh hoa trong truyền thống văn hóa Việt, là điểm thu hút
khách du lịch bậc nhất của nước ta trong nhiều năm trở lại đây.
Đánh giá được tiềm năng và tầm quan trọng của điểm du lịch này, Đảng và
Nhà nước đã có sự đầu tư lớn về trí tuệ, tiền của nhằm tôn tạo, tu bổ và nâng cấp hệ
thống cơ sở hạ tầng tại đây. Tuy nhiên, qua điều tra thực tế chúng tôi nhận thấy
những điểm tồn tại, bất cập trong việc khai thác du lịch nếu không có biện pháp
khắc phục thì nó sẽ cản trở sự phát triển du lịch tại đây. Cụ thể:
Thứ nhất, hiệu quả trong khai thác du lịch ở khu di tích lịch sử đền Hùng
chưa cao. Nhìn vào con số hàng triệu lượt khách hành hương về khu di tích mỗi
năm chúng ta có thể đánh giá được sức hút của điểm du lịch này, tuy nhiên với
những tiềm năng giá trị và ý nghĩa riêng biệt của mình, đền Hùng có thể thu hút
một lượng khách lớn hơn gấp nhiều lần.
Thứ hai, tại đây còn chịu sự tác động tiêu cực của tính mùa vụ khi du khách
chỉ tập chung vào 3 tháng đầu xuân, tình trạng này đã gây ra sự mất cân đối giữa
các tháng trước và sau lễ hội.
Thứ ba là, sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch ở đền Hùng còn quá nhiều
vấn đề cần giải quyết như: về chất lượng chưa đảm bảo, mặt hàng lưu niệm còn
nghèo nàn, chưa mang tính đặc trưng của vùng miền.
Thực tế ở nước ta hiện nay không ít các địa điểm du lịch không có được sản
phẩm dịch vụ để quảng bá cho mình hoặc nếu có thì cũng rất ít mà chủ yếu là các
sản phẩm kết hợp của nhiều nơi và các sản phẩm có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Xuất phát từ thực trạng trên nhằm góp phần tìm ra một biện pháp hữu hiệu
cho việc giới thiệu sản phẩm du lịch văn hóa vùng đất Tổ chúng tôi lựa chọn đề tài
nhằm phân loại và lựa chọn ra những sản phẩm điển hình góp phần quảng bá cho
du lịch Phú Thọ nói chung và du lịch đền Hùng nói riêng.
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề : "Đánh giá chất

Thăng Long; Ẩm thực du lịch và du lịch cội nguồn của tác giả Nguyễn Khắc
Xương; Phát huy vị thế văn hóa vùng Đất Tổ đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể
thao và du lịch của tác giả Nguyễn Ngọc Ân, Đặc sản Văn hóa Thể thao và Du lịch
số số 02- 12/2008.
Trên báo Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ số 02 năm 2009 có bài Du
lịch văn hóa- lịch sử Đất Tổ Hùng Vương tiềm năng, triển vọng của Nguyễn Phi
Nga; Tác giả Thăng Long với Tìm thương hiệu cho du lịch Đất Tổ.
Trên báo Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ số 01 năm 2010 có bài Du
lịch Phú Thọ theo góc nhìn tổng quan văn hóa của tác giả Nguyễn Ngọc Ân; Bài
Để du lịch Phú Thọ trở thành trở thành nghành kinh tế mũi nhọn của tác giả Trần
Văn Khải; Bài viết Lễ hội- sức hút của du lịch Phú Thọ của tác giả Quách Sinh.
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Diệu Thu lớp K6 Việt Nam học,
khoa Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học Hùng Vương năm 2011 về
Nghiên cứu loại hình du lịch văn hóa ở tỉnh Phú Thọ.
Đây là những bài viết, những công trình nghiên cứu chung về du lịch văn
hóa của tỉnh Phú Thọ nhằm đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển về loại hình
du lịch văn hóa, từ đó đề xuất giải pháp nhằm để đưa ngành du lịch trong tỉnh phát
triển.
Việc khai thác du lịch tại đền Hùng, chúng ta có thể có rất ít nghiên cứu
chuyên sâu về vấn đề này mà chủ yếu mới dừng lại ở các bài báo, các tham luận tại
các hội thảo về Văn hoá – Du lịch diễn ra trong thời gian vừa qua. Điểm chung có
thể nhận thấy là các tài liệu này chủ yếu đi vào phân tích và chỉ rõ những tiềm năng
có thể khai thác của loại hình du lịch văn hoá mà cụ thể ở đây là những chuyến
hành hương của nhân dân trên khắp mọi miền đất nước về với vùng đất Tổ cùng
với đó việc phát triển những tour tham quan khu di tích kết hợp khám phá rừng
Quốc Gia đền Hùng. Nội dung này có thể được tìm thấy rất nhiều trong các bài báo
và trang web của Tổng cục Du lịch, báo Phú Thọ….
Tuy nhiên việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng văn hóa của một số mặt
hàng lưu niệm trong dịch vụ du lịch tại khu di tích lịch sử đền Hùng vẫn chưa có
tác giả nào thực hiện. Trên cơ sở khảo cứu, thống kê và phân loại các mặt hàng lưu

- Phương pháp văn hoá học.
- Phương pháp chuyên gia, phỏng vấn.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chúng tôi cấu trúc đề tài thành ba chương:
Chương 1: Khái quát về khu di tích lịch sử Đền Hùng và sản phẩm lưu
niệm
Chương 2: Khảo sát chất lượng văn hóa và khả năng tiêu thụ của một số
mặt hàng lưu niệm tại khu di tích lịch sử đền Hùng năm 2013
Chương 3. Đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống các mặt hàng lưu niệm có
chất lượng văn hóa
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG
VÀ CÁC SẢN PHẨM LƯU NIỆM
1.1. Khu di tích lịch sử Đền Hùng
1.1.1. Khái quát chung về khu di tích
Quần thể khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm từ chân đến đỉnh ngọn núi Nghĩa
Lĩnh, cao 175m ( núi còn có tên gọi khác như: Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương,
Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn) thuộc địa phận thôn Cổ Tiết,
Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Cách trung tâm Việt Trì khoảng
10km. Khu vực Đền Hùng ngày nay vẫn nằm trong địa phận của kinh đô Phong
Châu, của quốc gia Văn Lang cổ xưa.
Người xưa nói “ Núi Nghĩa Lĩnh là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam,
mình uấn khúc thành dãy núi Trọc, núi Vặn, núi Pheo ở phía sau”. Từ núi Nghĩa
Lĩnh nhìn ra:
- Phía trước, ngã ba Việt Trì có hàng chục quả đồi thấp là đàn rùa bò lên từ
ao nước lớn lên.
- Phía sau, mảnh đất làng Hy Sơn (Tiên Kiên) là một con phượng cặp thư.
- Phía bên phải, quả đồi Khang Phụ (Chu Hóa) là hình một con hổ phục
- Phía bên trái, quả đồi An Thái (Phượng Lâu) hình một vị tướng bắn nỏ.
- Làng Cổ Tích bên chân núi, nằm trên lưng một con ngựa ghì cương.

Gác Chuông. Đền Thượng, Lăng, Đền Giếng, Cổng chính và Cổng Đền Giếng là
của thời Nguyễn. Hệ thống kiến trúc đền đài lăng tẩm trên 4 tầng núi này rất hòa
hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo tâm lí hoài cổ nhớ về thời Vua Hùng xa xăm
hoang vắng. Đó chính là truyền thống kiến trúc tín ngưỡng thể hiện tầm văn hóa
huyền ảo của dân tộc ta.
Năm 1973 UBND tỉnh Vĩnh Phú quyết định khoanh 1562 ha làm khu bảo vệ
Đền Hùng, trong đó khu trung tâm bất khả xâm phạm gồm có: núi Nghĩa Lĩnh, núi
Trọc Lớn, núi Trọc Con, núi Vặn, núi Yên Ngựa, núi Nỏn, đồi Cò Kè, đồi Cao Lồ,
đồi Cao Phầy, đồi Phân Đậu và đồi Công Quán.
1.1.3. Giá trị văn hóa - lịch sử- tâm linh và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
1.1.3.1. Giá trị văn hóa - lịch sử - tâm linh
Dù ở phương trời nào thì người Việt Nam cũng có một lòng hướng về Đền
Hùng- vùng đất được coi là cội nguồn của dân tộc. Nơi đây chính là điểm hội tụ
của văn hóa tâm linh, nơi tưởng nhớ tôn vinh công lao của các vua Hùng đã có
công dựng nước, biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tâm
thức của người dân Việt Nam dù dân tộc nào, tôn giáo nào hay quan điểm chính trị
nào. Đây là nơi ra đời đầu tiên của hình thức nhà nước trong lịch sử của nước ta và
là hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đến với Đền Hùng không phải đến
với một thắng cảnh, cũng không phải di tích về nghệ thuật- văn hóa thuần túy mà
khi đến với Đền Hùng trong sâu thẳm tâm trí của mỗi người là con dân đất Việt về
với Đền Hùng là về với cội nguồn của dân tộc, cội nguồn sâu xa nhất của mỗi
người dân như tìm về nhà thờ tổ của mình vậy.
Từ cốt lõi xa xưa cho đến nay trong kiến trúc của Đền Hùng đã được thiết kế
xây dựng rất riêng thể hiện trong hai nếp nhà tại Đền Hạ và Đền Trung hình thức
xây dựng đơn giản như những ngôi nhà Việt ở Trung Bộ hay Bắc Bộ mà không to,
đồ sộ như những đình, miếu ở Băc Bộ theo lối mái dài, đao cong.
Đến với Đền Hùng ta sẽ thấy ngôi đền chung của cả nước rất đỗi đơn sơ nhỏ
bé nhưng lại có cảm giác thiêng liêng, quen thuộc, gần gũi như chính ngôi nhà của
mình. Trong đền dù là đền Hạ hay đền Trung đều là cách bài trí thờ cúng rất đơn

kiệu, lễ dâng hương, thi kéo co, đấu vật, chọi gà…Với những giá trị lịch sử to lớn
của Đền Hùng đã tạo nên tiềm năng to lớn về du lịch đóng góp to lớn về kinh tế của
tỉnh nhà cũng như nền kinh tế của đất nước với số lượng hàng trăm nghìn lượt
khách hành hương về với đất tổ.
Quan trọng hơn đền Hùng đã khắc sâu vào trong tâm trí của mỗi người con
dân đất Việt về niềm tự hào dân tộc bởi nơi đây là “Cội nguồn của tâm linh” đây là
niềm tự hào đặc biệt vì trên thế giới này không có một dân tộc nào lại có cùng một
mộ tổ, một giỗ tổ chung cho cả dân tộc như dân tộc Việt Nam. Tôi nghĩ rằng chúng
ta cần có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa để phát huy được những giá trị tiềm năng
của đền Hùng.
1.1.3.2. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Từ xa xưa, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành bản sắc văn hóa
của dân tộc Việt Nam. Dù đi đâu, ở đâu, mỗi người con đất Việt đều hướng về cội
nguồn, hướng về tổ tiên với lòng thành kính, tri ân. Vì lẽ đó, thờ cúng Hùng Vương
đã và đang có sức lan tỏa mãnh liệt. Hàng năm, cứ đến tháng 3 âm lịch, người
người, nhà nhà lại đua nhau về với đất Tổ. Họ đến đây không chỉ để cầu mưa thuận
gió hòa cho một năm yên vui mà còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc cũng như ý thức
tôn vinh công lao dựng nước của các vua Hùng. Thờ cúng Hùng Vương không chỉ
là một hoạt động tâm linh đơn thuần mà đó còn là hoạt động văn hóa mang tính
chất cộng đồng, thể hiện tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hiện nay có khoảng 1.417 địa danh thờ cúng
các vua Hùng và các nhân vật có liên quan đến thời đại Hùng Vương. Từ hàng
nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước trên địa bàn Phú Thọ nói riêng và cả
nước nói chung, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã là một đặc trưng trong tín
ngưỡng dân gian của dân tộc Việt Nam và ăn sâu vào trong máu thịt của từng
người mang trong mình dòng máu Tiên- Rồng nặng sâu tình nghĩa đồng bào.
Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người dân Việt Nam từ xưa đến nay vua
Hùng là vị tổ đã có công dựng nên quốc gia Văn Lang- nhà nước đầu tiên sơ khai
của dân tộc Việt Nam, vua Hùng chính là nguồn gốc tổ tiên chung của cả dân tộc.
Vì vậy tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có một vị trí rất quan trọng trong đời

dụng như một danh từ chính. E.B Taylor cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ phức thể
bao gồm: sự hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,
những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là thành viên
của xã hội.”
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “ Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực
vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên
mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con
người làm nên lịch sử…cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát
và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức
với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài,
ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến
đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”
Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trong sự tương tác giữa môi trường và con người tự nhiên và xã hội”.
Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức
(trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình
độ phát triển của một giai đoạn (Văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn…) theo
nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến
tín ngưỡng phong tục, lối sống lao động…
* Khái niệm chất lượng văn hóa
Chất lượng văn hóa theo theo nghĩa thông thường nhất là tỷ lệ văn hóa được
cấu thành trong một sản phẩm mang giá trị vật chất hay tinh thần nào đó. Với ý
nghĩa đó thì, chất lượng văn hóa của sản phẩm lưu niệm là tỷ lệ các yếu tố văn hóa
được cấu thành trong một sản phẩm lưu niệm.
1.2.3. Du lịch và dịch vụ du lịch
* Khái niệm du lịch
Du lịch tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của loài người, là
một trong những nhu cầu ngày càng trở thành tất yếu giúp con người điều hòa cuộc
sống của chính mình trong xã hội và tự nhiên. Sự xuất hiện nhu cầu du lịch chủ yếu

+ Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi cư trú thường xuyên
của các cá nhân hay tập thể nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của họ.
+ Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm
phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân
hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình.
+ Các cuộc hành trình lưu trú tạm thời của các cá nhân hay tập thể đó đồng
thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn “Từ điển Bách khoa toàn
thư Việt Nam” (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng
biệt:
+ Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích chuyến đi): Du lịch là một
dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực con người ngoài nơi cư trú với mục đích
nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa
nghệ thuật.
+ Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh
tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: Nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền
thống lịch sử, văn hóa dân tộc từ đó góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất
nước; đối với du khách nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh
tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn có thể coi là hình thức
xuất
Theo điểm 1, điều 4, chương 1 của “Luật du lịch Việt Nam” (14-6-2005) thì
“ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng không gian nhất định”. - Khái niệm dịch vụ
* Khái niệm dịch vụ du lịch
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005 “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các
dịch vụ về lữ hành vận chuyển, lưu trữ, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng
dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
1.2.4. Chất lượng văn hóa của sản phẩm du lịch
* Khái niệm sản phẩm du lịch

trong giai đoạn 2010- 2012
1.3.1. Dịch vụ hàng hóa tại khu di tích Đền Hùng
Qua khảo sát cho thấy, nhìn chung hàng hóa tại khu di tích lịch sử Đền Hùng
trong những năm qua đã có sự đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã. Mỗi
của hàng có 40 đến 50 mặt hàng bày bán với các nhóm hàng khác nhau như: nhóm
hàng ăn uống; nhóm hàng quần áo, nhóm hàng đồ trang sức, nhóm hàng đồ tâm
linh và nhóm các mặt hàng khác. Các sản phẩm này được bày bán trong các của
hàng lớn như: cửa hàng Hoa Minh- Lý Hùng, cửa hàng Trường Hiền, cửa hàng
Chính Thanh, cửa hàng Thanh Hiên…
Các mặt hàng lưu niệm tại khu di tích lịch sử Đền Hùng có chất lượng khác
nhau và giá thành khác nhau. Trong hệ thống các sản phẩm hàng hóa, sản phẩm
hàng lưu niệm chiếm tỷ lệ khoảng 1/3 tổng lượng hàng hóa tại Đền Hùng. Các cửa
hàng đều có quy mô hàng với số vôn từ 100.000.000đ trở lên. Các mặt hàng được
bán trong các cửa hàng đều đa dạng về chủng loại, mẫu mã. Tại Đền Hùng không
có cửa hàng bán chuyên biệt của một loại đồ lưu niệm
1.3.2. Số lượng khách du lịch
Trong những năm gần đây số lượng khách du lịch đến với tỉnh Phú Thọ có
xu hướng tăng nhanh. Tuy nhiên số lượng khách quốc tế chỉ chiếm lượng nhỏ chủ
yếu là khách du lịch công vụ và một số ít đến với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng,
nghiên cứu. Cơ sở hạ tầng khu di tích còn thấp, yếu kém, chưa tạo được sản phẩm
du lịch độc đáo, chưa phù hợp với khách quốc tế. Các khách tham quan thường chỉ
lưu lại tại khu di tích trong 1 ngày.
Thị trường nội địa chiếm tỉ lệ lớn, chủ yếu là du khách đến với mục đích
tham quan lễ hội, tín ngưỡng, hành hương về cội nguồn, tham quan di tích lịch sử,
tham quan sinh thái…
Tuy nhiên, từ khi nhà nước ra quyết định tổ chức giỗ tổ Hùng Vương hàng
năm với nghi thức quốc giỗ thì du khách đến với Phú Thọ và đặc biệt là đền Hùng
thì tăng lên về số lượng, cụ thể:
Năm Khách trong nước (triệu người) Khách quốc tế (người)
2010 3,5 15.000

với sự khẳng định giá trị vật chất, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công
nhận là di sản văn hóa đại diện của nhân loại.
Khu di tích lịch sử Đền Hùng có những điều kiện thuận lợi cho việc phát
triển dịch vụ bán hàng lưu niệm. Trong những năm gần đây hoạt động này của khu
di tích cũng phát triển. Tuy nhiên so với tiềm năng, lợi thế của khu di tích thì hoạt
động kinh doanh này còn nhỏ bé và chưa có dấu ấn đặc trưng.
Chương 2
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG VĂN HÓA VÀ
KHẢ NĂNG TIÊU THỤ CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG
LƯU NIỆM TẠI KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG NĂM 2013
2.1. Hệ thống tổng hợp các mặt hàng lưu niệm tại khu di tích
Những năm gần đây nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng cao,
một mặt là do cuộc sống được cải thiện, nâng cao hơn mặt khác con người phải
chịu nhiều áp lực hơn trong công việc. Vì vậy, nhu cầu muốn giải tỏa sự đơn điệu
và nhàm chán trong cuộc sống thường ngày của con người ngày càng trở nên phổ
biến. Cùng với việc đi du lịch con người sẽ có thêm những nhu cầu về mua sắm và
những món quà của họ trong chuyến đi chủ yếu là các sản phẩm lưu niệm.
Sản phẩm lưu niệm tại khu di tích lịch sử đền Hùng trong năm 2013 so với
những năm trước nhìn chung không có gì mới về mẫu mã cũng như số lượng. Sau
đây là số liệu sản phẩm lưu niệm tại khu di tích lịch sử đền Hùng mà chúng tôi đã
đi khảo sát thực tế trong thời gian vừa qua.
2.1.1. Bảng thống kê sự phân bố quầy hàng và số lượng quầy
STT Khu vực Tên quầy Chủ quầy Ghi
chú
1
TTDV - DL
Đền Hùng quầy số 1 Nguyễn Thị Thu Nguyệt
2
TTDV - DL
Đền Hùng quầy số 2 Lê Thị Minh Phượng

TTDV - DL Đền Hùng
cửa hàng Thanh Huế Lê Thị Huế
13
TTDV - DL Đền Hùng
cửa hàng Chỉnh Thanh Cao Đức Chỉnh
14
TTDV - DL Đền Hùng
cửa hàng Lê Vân Nguyễn Lê Vân
15
TTDV - DL Đền Hùng
cửa hàng Quang Thắng Lê Mạnh Thắng
16
TTDV - DL Đền Hùng
cửa hàng Trường Hiền Vũ Xuân Trường
17
TTDV - DL Đền Hùng
quầy số 8 Nguyễn Thị Thanh Bình
18 TTDV - DL Đền Hùng
quầy số 9 Đoàn Thu Hằng
19
TTDV - DL Đền Hùng
quầy số 10
Hoàng Thị Thu Phương
20 Đền Hạ
TTDV - DL Đền Hùng
quầy số 5 Nguyễn Thị Bình
21
Đền Thượng
TTDV - DL Đền Hùng
quầy số 4 Phan Thị Lý

Bánh Củ Mài
Bánh Cu Đơ
Chè Lam
Quạt Giấy
Băng đĩa hình giới thiệu
về đền Hùng
Sách viết về thời Hùng
Vương
Sách tử vi, phong thủy
Trống đồng
Đĩa sứ in hình đền Hùng
Móc chìa khóa
Vòng đeo tay
Tiêu, sáo
Khánh
Rượu Vương Tửu
Băng đĩa hình giới thiệu
về đền Hùng
Sách viết về thời Hùng
Vương
Sách tử vi, phong thủy
Trống Đồng
Đĩa sứ in hình đền Hùng
Móc chìa khóa
Vòng đeo tay
Tiêu sáo
Khánh
Rượu Vương Tửu
Bánh củ mài
Bánh Cu Đơ

Đồng hồ cát
Quả cầu pha lê
Điếu cày
Rượu Vương Tửu
Các loại bành như Cu
Cửa hàng Trường Hiền
đơ, Củ mài, bánh cốm
nếp nương.
Áo in hình chữ đất Tổ
Trang phục các vùng
miền
Nón lá Việt Nam
Tượng Lạc Long Quân
Tượng Lý Thái Tổ
Trống đồng
Biểu tượng Bông
lúa vàng
Nhà sàn
Rùa bằng đồng
Tiêu sáo
Quạt giấy
Chuông gió
Móc chìa khóa
Vòng đeo tay
Bùa bình an
Khánh
Cửa hàng Thành Kiên
Bánh các loại: Bánh củ
mài, Bánh cu đơ, Bánh
cốm nếp nương,…

Có Không
Quạt giấy X
Băng đĩa hình giới thiệu về đền
Hùng
X
Sách viết về thời kì Hùng
Vương
X
Sách tử vi, phong thủy X
Móc chìa khóa X
Vòng đeo tay X
Tiêu, Sáo X
Khánh X
Băng đĩa hình giới thiệu về đền
Hùng
X
Sách tử vi, phong thủy X
Sách viết về thời kì Hùng
Vương
X
Trống đồng X
Móc chìa khóa X
Vòng đeo tay X
Đĩa in hình đền Hùng X
Quạt giấy X
2 Đền Thượng Quầy hàng
số 5, 6
Khánh X
Câu đối X
3 Ngã 5

Móc chìa khóa X
Vòng đeo tay X
Bùa bình an X
Khánh X
Cửa hàng
Thành Kiên
Quần áo thổ cẩm X
Trang phục các vùng miền X
Đồ chơi trẻ em các loại X
Cây cảnh X
Chuông gió X
Thú nhồi bông X
Đồ chơi trẻ em các loại X
Quần áo thổ cẩm, quần áo thời
trang
X

Trích đoạn Giải pháp xây dựng hệ thống sản phẩm Giải pháp về khu trưng bày và bán sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status