Làng dệt Mã Châu - xưa và nay - Pdf 85

1
LỜI MỞ ĐẦU
Là một sinh viên năm thứ tư, đã được trang bị tương đối đầy đủ kiến
thức của chuyên ngành Lịch sử Văn hoá, tôi phải hoàn thành luận văn tốt nghiệp
và cũng là bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu.
Tôi có may mắn là được người hướng dẫn Luận văn tốt nghiệp của tôi -
TS Lâm Mỹ Dung gợi ý và tạo mọi điều kiện cho tôi vào Duy Xuyên - Quảng
Nam để tìm hiểu về đời sống văn hoá của một làng nghề truyền thống ở đây.
Lần đầu tiên đặt chân đến miền Trung và với mục đích tìm hiểu về đời
sống văn hoá của một làng nghề, do kiến thức cá nhân còn ít ỏi và điều kiện thời
gian thực tế hạn hẹp, nên dù đã có được sự chỉ bảo, hướng dẫn, góp ý tận tình
của thầy cô và bạn bè trong quá trình tìm kiếm tư liệu và cũng như khi hoàn
thành luận văn nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong có
sự chỉ dẫn, góp ý thêm.
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin cảm ơn các thầy cô của Bộ
môn Lịch sử Văn hoá và Khoa Lịch Sử, trường ĐH KHXH&NV HN - nơi tôi đã
và đang học tập; cảm ơn Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên, đặc biệt là chú
Dương Đức Quí và chị Nguyễn Thị Tuyết; cảm ơn thầy Nguyễn Chiều đã góp ý
và cung cấp tư liệu cho tôi; cảm ơn Ban dân chính, các cụ phụ lão và bà con
thôn Châu Hiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực tập ở đây.
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với TS Lâm Mỹ Dung -
giáo viên hướng dẫn của tôi - người đã dẫn dắt và chỉ bảo cho tôi không chỉ
trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp này.
1
2
1. Mục đích nghiên cứu
Người Việt từ xưa (và cho đến nay) đa phần là nông dân. Môi trường
sống của họ là Nông thôn - Nông nghiệp - Xóm làng. Phổ xã hội Việt Nam
truyền thống là Gia đình - Họ hàng - Làng nước. Trong tiến trình lịch sử dân tộc,
làng xã có một vai trò hết sức to lớn. Nó là tế bào sống của xã hội Việt Nam, là
môi trường sinh tụ và hoạt động của nông dân Việt Nam. Mỗi bước thăng trầm

CNH-HĐH một cách có hiệu quả. Đây cũng chính là mục đích của luận văn tốt
nghiệp "Làng dệt Mã Châu - xưa và nay".
Khi đặt Xưa (truyền thống - theo cách hiểu thông thường là những giá
trị văn hoá từ xưa để lại) và Nay (hiện đại), tôi không có ý định so sánh, mà dựa
trên tinh thần "ôn cố tri tân" (tìm cũ để biết mới). Bởi chỉ có hiểu biết sâu sắc về
làng nghề và những yếu tố văn hoá truyền thống của làng nghề thì khi gia nhập
vào công cuộc CNH-HĐH chúng ta mới có thể phát huy tốt vai trò của làng
nghề mà không làm mất đi những giá trị văn hoá riêng đặc sắc của nó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng xã là đối tượng nghiên cứu của Khoa học Lịch sử và nhiều ngành
khoa học khác với diện nghiên cứu đa dạng và phong phú. Đến nay việc nghiên
cứu đã đạt được nhiều kết quả. Các công trình nghiên cứu chung hoặc mang tính
chất chuyên khảo về làng nghề cũng đã được nhiều người công bố.
Làng dệt Mã Châu và làng xã vùng Duy Xuyên- Quảng Nam nói
chung, vì nhiều lý do, việc nghiên cứu mới có những kết quả chung có tính chất
3
4
khái quát, ít có những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Và về làng nghề Mã
Châu chỉ có một số bài viết chung, gián tiếp đề cập đến.
- Bài viết: Câu ca làng nghề của Văn Thành Lê đăng trên tạp chí Văn
hoá Quảng Nam số 18 tháng 12.1999. Trên cơ sở tìm hiểu nghề dệt ở Duy
Xuyên, ông nói đến ảnh hưởng của nghề dệt với đời sống cư dân ở đây.
- Bài báo: Duy Xuyên ngày mai xanh lại những biền dâu? của
Hoàng Thơ trên báo Quảng Nam chủ nhật ngày 9.3.2003. Từ những số liệu của
nghề dâu tằm ở Duy Xuyên trong những năm gần đây, tác giả khẳng định khả
năng phát triển của nghề dệt ở vùng này.
- Bài viết: Ông Cửu Diễn - người du nhập kỹ thuật dệt mới vào Duy
Xuyên (tư liệu của chị Nguyễn Thị Tuyết - Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên)
nói về sự cải tiến kỹ thuật dệt ở Duy Xuyên hồi đầu thế kỷ XX.
3. Các nguồn tư liệu

Những phương pháp nghiên cứu đã được tôi sử dụng để hoàn thành
luận văn gồm:
Phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp phỏng vấn được sử
dụng trong thời gian khảo sát và sưu tầm tư liệu tại địa phương. Đây là những
phương pháp chủ yếu được tôi sử dụng để thu thập tư liệu phục vụ cho luận văn.
Dựa trên những nguồn tư liệu thu thập được tôi đã sử dụng phương
pháp so sánh, phân tích và tổng hợp tư liệu. Từ đó hệ thống hoá những tư liệu đã
thu thập được để đưa vào hoàn thành luận văn.
5
6
Phương pháp tiếp cận liên ngành là phương pháp quan trọng được tôi
sử dụng từ khi khảo sát điền dã lấy tư liệu cho tới khi hoàn thành luận văn. Bởi
văn hoá làng là "một phức thể thống nhất trong đa dạng"[36.25] cần được tiếp
cận và nghiên cứu từ nhiều hướng.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có ba phần: Phần mở đầu (6 trang); Phần nội dung (52
trang) và phần kết luận (3 trang).
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên-lịch sử, xã hội và con
người.
- Chương 2: Làng nghề truyền thống.
- Chương 3: Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của
cư dân Mã Châu.
Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, sách dẫn và phụ lục
gồm 20 trang.
6
7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-LỊCH SỬ,
XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI


[26.34]. Do vy, sụng Thu Bn v Vu Gia l hai dũng sụng ln ó hp lu vi
nhau bi p nờn vựng t ai trự phỳ in Bn, i Lc, Duy Xuyờn... nhng
cng v phớa ụng cng pha nhiu cỏt bin v phi chu nh hng ca thu
triu. Nhng vựng khỏc nh ng bng sụng Ly Ly, Tam K, t pha nhiu cỏt
v nghốo hn t vựng sụng Thu Bn, do sụng nh, nc l khụng ln, phự sa
khụng nhiu, khụng nc ti cho rung ng v mựa hn [37.418-431]. Nú
ó c tng kt trong cõu th dõn gian:
t Qung Nam cha ma ó thm
1
Do tớnh cht sụng ngũi nh vy m t ai õy xa kia phn ln l
t khụ cn, nc ti tiờu cho ng rung hon ton ph thuc vo "nc tri".
Duy ch cú vựng h lu cỏc sụng, c bit l h lu sụng Thu Bn (vựng Duy
Xuyờn, in Bn) nh phự sa hng nm bi p nờn hai bờn b sụng to thnh
1 GS Trần Quốc Vợng đã mô hình hoá miền Trung thành một hình hộp chữ nhật và mỗi xứ,
vùng là những hình hộp chữ nhật ngang với những thành tố: Núi đồi - Đèo - Sông - Đầm phá -
Cảng ven sông, ven biển - Hải đảo và các thành tố Núi - Biển - Sông - Đèo tuy có yếu tố chia
cắt các vùng miền song lại mang yếu tố gạch nối nhiều hơn [37.309-340].
8
9
những đồng ruộng phì nhiêu thuận lợi cho việc canh tác, trồng trọt, nhất là trồng
lúa, trồng dâu [22.202].
Huyện Duy Xuyên nằm dọc về phía bờ Nam sông Thu Bồn, địa hình
trải dài từ núi ra biển, có bốn nhánh sông lớn là Vu Gia, Thu Bồn, Bà Rén và
Trường Giang. Đất đai ở đây được thừa hưởng nguồn phù sa dồi dào từ thượng
nguồn các nhánh sông Thu Bồn đổ về làm cho màu mỡ, dần dần đẩy lùi nước
biển từ bãi cát Tây An, xã Duy Trung tạo thành những giải đất phì nhiêu kéo dài
từ miếu Thành Hoàng Mã Châu cho đến Phụng Châu, Long Châu, Triều Châu...
của xã Duy Phước, Duy Vinh ngày nay. Làng Mã Châu với địa thế ở đỉnh tam
giác châu lại được bao quanh bởi sông Bà Rén nên hàng năm, sau mỗi mùa lũ đã
nhận được một lượng phù sa đáng kể, rất thuận lợi cho sự phát triển nghề nông

thống lịch sử lâu đời. Nó đã được GS Trần Quốc Vượng khái quát: "Ở xứ Quảng
- Quảng Nam - Việt Nam lại có sự xếp tầng (stratigraphi) xếp lớp văn hoá, quá
trình lắng đọng - trầm tích (sédimentation) văn hoá qua diễn trình lịch sử kể từ
dưới lên trên:
7 - Văn hoá Quảng Nam hiện đại.
6 - Văn hoá Kinh - Việt.
5 - Văn hoá Chămpa - Ấn.
4 - Văn hoá Sa Huỳnh - Đại Lộc.
3 - Văn hoá tiền Sa Huỳnh (Bàu Trám, Phúc Hoà).
2 - Văn hoá Bãi Ông (Cù Lao Chàm).
1 - Văn hoá Bàu Dũ hậu Hoà Bình (hay truyền thống Hoà Bình)...
[22.35].
10
11
Năm 1981 di chỉ Khảo cổ học Bàu Dũ thuộc thời đại đá mới ở thôn Bút
Đông, xã Tam Xuân, huyện (nay là thị xã) Tam Kỳ được phát hiện và khai quật.
Bàu Dũ là một di chỉ cồn sò điệp, căn cứ vào cấu tạo tầng văn hoá,
được xếp vào loại hình di tích đống rác bếp. Bàu Dũ có nhiều nét tương tự với
văn hoá Hoà Bình ở miền Bắc (có niên đại 15000 đến 8-6000 năm cách ngày
nay) bởi kỹ thuật chế tác và công cụ đá; và di tích văn hoá Quỳnh văn ở ven
biển Nghệ An (đầu thời đại đá mới) ở hình thức mộ táng (huyệt tròn, trôn người
bó gối trong đống vỏ sò điệp).
Những hiện vật khai quật được ở Bàu Dũ cho biết nền kinh tế của cư
dân Bàu Dũ là kinh tế săn bắt (bắn), hái lượm theo phổ rộng của hệ sinh thái bờ
biển. Địa bàn cư trú của họ là những vùng cửa sông ven biển. Tại đây đã thu
lượm được một số lượng lớn xương cốt động vật và vỏ nhuyễn thể (nhưng chưa
thấy di cốt của loài vật đã được thuần dưỡng) cho thấy trước đây vùng này là
vùng rừng xen lẫn với những trảng cỏ rộng lớn và những bàu nước ngọt như
Bàu Dũ, Bàu Mê, Bàu Trám... [33].
Quảng Nam hiện nay vẫn là nơi phân bố dày đặc nhất những di tích

dọi xe sợi đã nói lên sự phát triển của nghề thủ công này trong văn hoá Sa
Huỳnh. Việc buôn bán trao đổi của họ cũng rất phát triển. Nghề đi biển đã được
người Sa Huỳnh biết đến và yếu tố biển đã ăn sâu vào đời sống của họ. Do vậy
cốt lõi của nghệ thuật Sa Huỳnh là miêu tả thiên nhiên mà chủ yếu là biển cả
[35.445]. Trong đó Hội An với vai trò của một cảng thị sơ khai là minh chứng
12
13
cho s giao thng v giao lu vn hoỏ gia Sa Hunh v nhng nn vn hoỏ
khỏc qua ng bin.
Trờn nn tng vn hoỏ bn a, k tha nhng di sn t vn hoỏ Sa
Hunh, tip thu nhng nh hng ca vn hoỏ n , cựng nhiu yu t khỏc
ca cỏc nn vn hoỏ lỏng ging, dõn tc Chm trờn chng ng di 14 th k
ó sỏng to nờn nn vn hoỏ riờng, c ỏo ca mỡnh.
Chmpa cú niờn i khi u vo cui th k II theo th tch c Trung
Quc. Gn lin vi s kin nm 192 Khu Liờn ni dy chng nh Hỏn, lp nc
Lõm p ( vựng t Qung Nam ngy nay)
2
. ú l vng quc Chmpa ca
ngi Chm vi ụ thnh S T (Simhapura), nay l Tr Kiu - Duy Xuyờn. Ti
õy, trờn ngn nỳi Bu Chõu - gia kinh ụ Tr Kiu, trong mt ln i in dó
t u thp k 80, GS Trn Quc Vng ó "n ng" ra mụ hỡnh quy hoch cỏc
tiu quc Chmpa nh sau:
Nỳi Sụng Thu Bn
Tõy Thỏnh a Thnh S T Cng th Hi An Bin ụng Tin cng
M Sn (Simhapura) (Chmpapura) (Cự Lao Chm)
Trong ú sụng bin, sụng nc l yu t kt ni gia cỏc thnh t trờn
[37.322].
2 Thời Sơ Bình nhà hậu Hán (190 - 192) Khu Liên, một công tào huyện Tợng Lâm đã lợi dụng
lúc nhà Hán suy yếu, nổi dậy chiếm quận Nhật Nam và xng Vua ở Tợng Lâm-một huyện cực
Nam của quận Nhật Nam, lập ra nớc Lâm ấp. Tên Lâm ấp có thể do bắt nguồn từ chữ Tợng

3 Theo ý kiến của thầy Nguyễn Chiều và cô Lâm Mỹ Dung trong cuộc khai quật thành Trà
Kiệu vào tháng 3 năm 2003 do Khoa Sử - ĐH KHXH&NV Hà Nội và Phòng Văn hoá huyện
Duy Xuyên - Quảng Nam tiến hành.
14
15
vuông với bốn cây trụ đá ở bốn góc cao khoảng 1m, kết hợp với tám thanh đá
ngang dài khoảng 80cm tạo thành một bộ khung và bốn phía được ghép bốn
phiến đá. Nước giếng trong và ngọt, người dân trong làng cho đến gần đây vẫn
còn sử dụng nước ở giếng này. Ở xung quanh giếng còn rải rác những mảnh vỡ
của một số viên gạch Chăm.
Vùng đồng bằng Duy Xuyên - Quảng Nam là nơi đã có dấu tích cư dân
sinh sống từ lâu đời. Tuy nhiên chỉ khi có người Việt di cư đến "vùng đất mới"
(ùng với người Chăm), "khai hoang" lập nghiệp, thì mới hình thành nên làng
Việt với những tên làng, tên xã như hiện nay.
Xứ Quảng - Quảng Nam trước kia vốn là vùng đất của Vương quốc
Chămpa nhưng trong quá trình "Nam tiến" của mình, người Việt đã để lại đây
những dấu ấn từ rất sớm trong lịch sử. Đại cương Lịch sử Việt Nam (tập 1) đã
ghi lại: "Năm 982 sau khi đánh bại quân Tống. Lê Hoàn quyết định đem quân
đánh Chămpa, tiến thẳng đến kinh đô, phá huỷ thành trì rồi rút quân về"[40.26].
Lịch sử Chămpa cũng đã lưu lại trường hợp người Việt là Lưu Kế Tông - quân
Quản Giáp trong quân đội đi đánh Chiêm Thành của Lê Hoàn đã trốn ở lại,
chiếm ngôi vua Chămpa từ năm 986 đến năm 988, khi vua Chămpa Inđravarman
chết vào năm 986 [12.26].
Năm 1069 Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành,vua Chiêm
Ruđravarman II phải cắt ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là Quảng
Bình và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lý. Đến thời Trần, năm 1305 vua Trần (Nhân
Tông) gả Huyền Chân Công Chúa cho vua Chămpa là Chế Mân và thu nhận lễ
vật là hai châu Ô, Rí (nay là đất Thừa Thiên). Năm 1402 nhà Hồ đánh Chiêm,
Chiêm dâng đất Chiêm Động, Hồ Quý Ly bắt phải dâng cả đất Cổ Luỹ (từ
Quảng Nam đến Phú Yên) và đặt bốn châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa. "Lại bắt

Trong cỏc t di dõn ú thỡ t di dõn thi k cỏc chỳa Nguyn l ln
nht, t v ỏng quan tõm nht. Bi vỡ nú gúp phn quan trng trong vic hỡnh
thnh nờn din mo ca c dõn vựng Thun Qung [22.102].
Duy Xuyờn thỡ mnh t ni ngi Vit t chõn n u tiờn (theo
ti liu a phng) l Tr Kiu, vo nm 1470. Tc l quõn binh theo Lờ Thỏnh
Tụng i ỏnh Chiờm li khai hoang lp lng. n nay Ng Xó Tr Kiu vn
cũn lu gi c bn o sc phong nm Khi nh th 9 cho Tin hin, Th
th tin hin v Hu hin ó cú cụng khai c lp xó [10].
Mó Chõu tri qua hai cuc chin tranh chng Phỏp - M, c dõn ly tỏn,
ri li "chng mờ tớn" nờn nhng t liu v lng ó b tht lc khụng cũn. Tuy
nhiờn theo hi c ca cỏc c gi thỡ lng Mó Chõu c lp ra sau lng Tr Kiu
gn mt th k v cú liờn quan n 13 v Hu hin Tr Kiu (ti Tr Kiu nm
1578)
4
, thi im ra i ca lng vo khong gia th k XVI. Thi im ny
cng phự hp vi ln di dõn "Bc a tựng vng" ca Nguyn Hong vo vựng
Thun Qung nm 1558
5
.
Mó Chõu c bao bc bi sụng B Rộn, li c dũng sụng Thu Bn
bi p phự sa hng nm nờn ngay sau khi ngi Vit n ó lp nờn nhng lng
xúm trự phỳ. Ngi Vit khi n vựng t ny, khi lp lng thng t tờn theo
th t, theo nhng gỡ mỡnh mong c hoc l ly tờn lng quờ c ca h. Tờn
lng Mó Chõu ( ) cú l c t theo th t, tc l mnh t hỡnh
con nga, cng nh mt s lng khỏc ly tờn Long Chõu - mnh t hỡnh con
4 13 vị Hậu hiền có công khai canh lập xã Trà Kiệu đợc Sắc phong năm Khải Địng thứ 9 gồm:
Lê Đức Khoan, Nguyễn Văn Xứ, Nguyễn Văn Đơng, Phạm Văn Hoa, Nguyễn Viết Tuế, Lê
Phớc Đệ, Đoàn Công Khúc, Nguyễn Viết Dũng, Lê Văn D, Đặng Ngọc Đài, Trơng Văn Tốt,
Lê Văn Hợp, Nguyễn Cảnh Vạn [10].
5 Năm 1558 để tránh sự ám hại của ngời anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã xin vào làm

ỏo vn hnh trờn c tng Chm v c ch Vit.
6 Cũng thời này, làng Trà Kiệu đợc chia thành 5 thôn: Đông, Nam, Tây, Thợng và Trung;
Làng Thi Lai cũng đợc chia thành: Thi Lai Tây, Thi Lai Đông và Thi Lai Thợng... Nó cũng
phù hợp với những ghi chép trong Đồng Khánh địa d chí, mục Duy Xuyên - Quảng Nam.
7 Tổng Đông An có 20 xã, thôn, giáp: Mã Châu Thợng, Mã Châu Thành, Mã Châu Đông, Mã
Châu Tây, Thi Lai Tây, Thi Lai Đông, Thi Lai Thợng, Trung Lơng, An Lân, Cầu Bá, Hoà Mỹ,
Cổ Tháp, Trung Mỹ, Trung Thái, Nam Yên, Cổ Yên, Lệ Trạch, Vĩnh Trinh, Thanh Châu, giáp
Tây Đông Yên [5].
18
19
1.3. Xã hội và con người.
Nguồn gốc cư dân tạo nên làng mạc xứ Quảng từ thế kỷ XV về sau,
ngoài một bộ phận cư dân Chăm lưu lại thì nguồn bổ xung chủ yếu là cư dân từ
nhiều làng quê khác nhau ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ di chuyển vào mà đông đảo
nhất là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Các đợt di dân khá quy mô, có tổ chức thời
Lê, thời Chúa Nguyễn bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Dù ở
giai tầng nào, họ vẫn mang theo trong mình những tập quán, nếp sống ở những
làng quê cũ. Họ cùng góp những vốn liếng riêng của mỗi làng quê đó để xây
dựng lên một cấu trúc làng xóm, một nối làm ăn, một nền văn hoá cộng đồng
mới. Sự kế thừa, giao lưu và tiếp nhận các di sản văn hoá từ cộng đồng Chăm,
sự tổng hợp của sắc thái các làng quê xứ Bắc, Bắc Trung Bộ tạo nên diện mạo
của làng mạc xứ Quảng [21.128-129].
Cách thức bố trí của làng Mã Châu đại thể, giống các làng Việt ở châu
thổ Bắc Bộ nhưng thoáng hơn. Trong quá trình sinh sống cư dân Mã Châu đã tổ
chức thành 9 xóm theo khu vực cư trú là: tứ Phú (Phú Khương, Phú Thuận, Phú
Bình, Phú Hoà), tứ Bình (Bình Khương, Bình Thuận, Bình Yên, Bình Hoà) và
Hợp Thành. Các xóm xếp cạnh nhau thành những ô bàn cờ và tách nhau bằng
những lối đi tương đối thẳng. Mỗi xóm có một cuộc sống riêng của nó với một
sự cộng cảm riêng, kết tinh lại quanh việc thờ phụng ở miếu của mỗi xóm. Tên
xóm thể hiện ước vọng bình dị của những người dân làng Mã Châu phú yên, phú

người hưởng ứng việc mộ dân vào vùng đất mới của nhà nước phong kiến,
những người phạm tội bị đi đày (tội lưu)... Họ ở những làng quê khác nhau,
20
21
cựng vo sinh sng ni thiờn nhiờn khc nghit vỡ vy h phi vt ln vi t
nhiờn trong mu sinh. Trong khi ú hnh trang ca h vo vựng t mi cú l
khụng cú gỡ khỏc hn l ngh lc cng ci, tớnh cỏch ngang tng v lũng tin vo
sc mỡnh, tin vo tng lai. H qu ca nú l ngi dõn õy dng cm v cn
cự, bn tớnh gin d, thng thn v tụn trng s tht. H l nhng ngi dõn i
lp nghip nờn sng ci m v phúng khoỏng hn. i Nam nht thng chớ ó
nhn xột v c dõn vựng Qung Nam: "Tc a xa x, ớt kim thỳc, hỏt xng
khụng tic ca, n mc tt lt l, thờu dt tinh khoộ, sa tru khụng kộm gỡ
Qung ụng"[19.399]. V c dõn Duy Xuyờn nhỡn chung "Phong tc kim
c m quờ mựa, n gin d ớt vn hỏo. Cũn nh cỏc l hụn, tang, t, hi hố,
yn m... thỡ tu ni theo tc nhng vn gi l ý" v "khi gp vic khỏnh h thỡ
nhng ngi giu cú, phn nhiu hay thớch hỏt xng th thn"[5].
L nhng con ngi nhng min quờ khỏc nhau, vỡ iu kin sinh tn
nờn h phi tp hp ti õy. Vỡ vy h luụn mang trong lũng tõm trng hoi c:
Chiu chiu ra ng ngừ sau
Trụng v quờ m rut au chớn chiu.
Bi "ngi Vit thớch sng trong mt mụi trng trong ú quan h mỏu
m, quan h xúm ging c duy trỡ cho dự iu ny cn th mt phn quan h
cụng vic"[17.63]. Trong mụi trng mi ngi dõn õy li cng on kt gn
bú vi nhau hn "nhõn dõn trong hy, h khi gp cú l th thn, cỳng pht hoc
hụn tang... bao gi cng theo sc mỡnh m lm, giỳp ln nhau"[5].
Mó Chõu trong bi cnh x Qung vi truyn thng "Ng phng t
phi"
8
vn t trc l t cú hc, l t cú l [22.38]. "Hc trũ chm hc hnh,
nụng phu chm ng rung, siờng sn xut m ớt em cho; vui lm vic ngha, st

Tri huyện Duy Xuyên, Huấn đạo Duy Xuyên, Tri huyện Hơng Trà, Giám sát ngự sử, Viên
ngoại lang bộ Lại.
22
23
Chương 2: LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
2.1. Sông Thu Bồn - Bà Rén với đời sống của cư dân Mã Châu.
23
24
Xuất phát từ đỉnh Ngọc Linh đổ ra cửa Đại, sông Thu Bồn là cái gạch nối,
nối liền Thánh địa Mỹ Sơn - Kinh đô Trà Kiệu và cảng thị Hội An của thiểu
quốc Amaravâti - Chămpa xưa kia; là con đường giao lưu Kinh tế - Văn
hoá - Xã hội giữa "miền xuôi" và "miền ngược"; và trong lòng đất trên đôi
bờ các con sông Thu Bồn - Bà Rén còn ẩn chứa nhiều di tích thuộc văn hoá
Sa Huỳnh như Quế Lâm, Bình Yên (Quế Phước), Quế Lộc, Phú Đa, Thu
Bồn, Mậu Hoà, Hậu Xá... đó là các khu cư trú cổ, các khu mộ chum có niên
đại cách ngày nay khoảng 2000 đến 2500 năm.
Quảng Nam có bốn dòng sông lớn, ba bắt nguồn từ Hoà Vang, một từ
nguồn Thu Bồn, Quế Sơn; đều chảy đến thôn Giao Thuỷ huyện Diên Phúc thì
hợp dòng. Đến huyện Duy Xuyên thì chia dòng: sông Bà Rén ở phía Nam và
sông Thu Bồn ở phía Bắc cùng chảy cửa Đại - Hội An. Đại Nam nhất thống chí
chép: "Sông Dưỡng Mông ở cách huyện Quế Sơn hai dặm về phía Bắc ra từ
nguồn Chiên Đàn (nguồn sông Thu Bồn- TG) qua địa giới huyện Lê Dương, đến
bãi Thi Lai huyện Duy Xuyên thì thành một nhánh riêng đến xã Dưỡng Mông.
Tục gọi là sông Bà Rén, chạy về phía Đông Nam qua chợ Thi Lai rồi chuyển sang
Đông đổ vào sông Bàn Thạch"[19.362-363]. Sông Bàn Thạch (Trường Giang) lại
chảy về phía Đông đổ ra cửa Đại Chiêm.
Làng Mã Châu nằm ở đoạn thượng lưu sông Bà Rén và đây là con sông
có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến đời sống của cư dân Mã Châu. Sông Thu
Bồn - Bà Rén bồi đắp phù sa tạo nên vùng đồng bằng phì nhiêu Duy Xuyên,
Điện Bàn... "ruộng đồng rộng rãi, các thứ lúa xanh tốt"[16.337]. Ở đây từ rất

thấp. Khi hệ thống thuỷ lợi được cải tiến, đồng ruộng ít phải phụ thuộc vào thời
tiết thì ở đây, những giống lúa cho năng suất cao bắt đầu được đem vào sử dụng,
25

Trích đoạn Nguồn gốc nghề dệt. Trồng dõu nuụi tằm Nghề dệt với đời sống văn hoỏ của cư dõn Mó Chõu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status