Làng dệt Mã Châu – xưa và nay - Pdf 87

LỜIMỞĐẦU
Là một sinh viên năm thứ tư, đãđược trang bị tương đối đầy đủ kiến
thức của chuyên ngành Lịch sử Văn hoá, tôi phải hoàn thành luận văn tốt nghiệp
và cũng là bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu.
Tôi có may mắn làđược người hướng dẫn Luận văn tốt nghiệp của tôi -
TS Lâm Mỹ Dung gợi ý và tạo mọi điều kiện cho tôi vào Duy Xuyên - Quảng
Nam để tìm hiểu vềđời sống văn hoá của một làng nghề truyền thống ởđây.
Lần đầu tiên đặt chân đến miền Trung và với mục đích tìm hiểu vềđời
sống văn hoá của một làng nghề, do kiến thức cá nhân còn ít ỏi vàđiều kiện thời
gian thực tế hạn hẹp, nên dùđã cóđược sự chỉ bảo, hướng dẫn, góp ý tận tình của
thầy cô và bạn bè trong quá trình tìm kiếm tư liệu và cũng như khi hoàn thành
luận văn nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong có sự
chỉ dẫn, góp ý thêm.
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin cảm ơn các thầy cô của Bộ
môn Lịch sử Văn hoá và Khoa Lịch Sử, trường ĐH KHXH&NV HN - nơi tôi đã
vàđang học tập; cảm ơn Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên, đặc biệt là chú
Dương Đức Quí và chị Nguyễn Thị Tuyết; cảm ơn thầy Nguyễn Chiều đã góp ý
và cung cấp tư liệu cho tôi; cảm ơn Ban dân chính, các cụ phụ lão và bà con
thôn Châu Hiệp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực tập ởđây.
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi với TS Lâm Mỹ Dung -
giáo viên hướng dẫn của tôi - người đã dẫn dắt và chỉ bảo cho tôi không chỉ
trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp này.
1
1. Mục đích nghiên cứu
Người Việt từ xưa (và cho đến nay) đa phần là nông dân. Môi trường
sống của họ là Nông thôn - Nông nghiệp - Xóm làng. Phổ xã hội Việt Nam
truyền thống là Gia đình - Họ hàng - Làng nước. Trong tiến trình lịch sử dân tộc,
làng xã có một vai trò hết sức to lớn. Nó là tế bào sống của xã hội Việt Nam, là
môi trường sinh tụ và hoạt động của nông dân Việt Nam. Mỗi bước thăng trầm
của dân tộc thường để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống làng xã.
Làng nghề truyền thống là nguồn tài sản quý giá của đất nước cần được

trị văn hoá từ xưa để lại) và Nay (hiện đại), tôi không cóýđịnh so sánh, mà dựa
trên tinh thần "ôn cố tri tân" (tìm cũđể biết mới). Bởi chỉ có hiểu biết sâu sắc về
làng nghề và những yếu tố văn hoá truyền thống của làng nghề thì khi gia nhập
vào công cuộc CNH-HĐH chúng ta mới có thể phát huy tốt vai trò của làng
nghề mà không làm mất đi những giá trị văn hoá riêng đặc sắc của nó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng xã làđối tượng nghiên cứu của Khoa học Lịch sử và nhiều ngành
khoa học khác với diện nghiên cứu đa dạng và phong phú. Đến nay việc nghiên
cứu đãđạt được nhiều kết quả. Các công trình nghiên cứu chung hoặc mang tính
chất chuyên khảo về làng nghề cũng đãđược nhiều người công bố.
Làng dệt Mã Châu và làng xã vùng Duy Xuyên- Quảng Nam nói
chung, vì nhiều lý do, việc nghiên cứu mới có những kết quả chung có tính chất
3
khái quát, ít có những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Và về làng nghề Mã
Châu chỉ có một số bài viết chung, gián tiếp đề cập đến.
- Bài viết: Câu ca làng nghề của Văn Thành Lêđăng trên tạp chí Văn
hoá Quảng Nam số 18 tháng 12.1999. Trên cơ sở tìm hiểu nghề dệt ở Duy
Xuyên, ông nói đến ảnh hưởng của nghề dệt với đời sống cư dân ởđây.
- Bài báo: Duy Xuyên ngày mai xanh lại những biền dâu? của
Hoàng Thơ trên báo Quảng Nam chủ nhật ngày 9.3.2003. Từ những số liệu của
nghề dâu tằm ở Duy Xuyên trong những năm gần đây, tác giả khẳng định khả
năng phát triển của nghề dệt ở vùng này.
- Bài viết: Ông Cửu Diễn - người du nhập kỹ thuật dệt mới vào Duy
Xuyên (tư liệu của chị Nguyễn Thị Tuyết - Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên)
nói về sự cải tiến kỹ thuật dệt ở Duy Xuyên hồi đầu thế kỷ XX.
3. Các nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:
3.1. Tư liệu chữ viết
3.1.1. Thư tịch cổ gồm có:
- Thuỷ kinh chú [9]

Dựa trên những nguồn tư liệu thu thập được tôi đã sử dụng phương
pháp so sánh, phân tích và tổng hợp tư liệu. Từđó hệ thống hoá những tư liệu đã
thu thập được đểđưa vào hoàn thành luận văn.
5
Phương pháp tiếp cận liên ngành là phương pháp quan trọng được tôi
sử dụng từ khi khảo sát điền dã lấy tư liệu cho tới khi hoàn thành luận văn. Bởi
văn hoá làng là"một phức thể thống nhất trong đa dạng"[36.25] cần được tiếp
cận và nghiên cứu từ nhiều hướng.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có ba phần: Phần mởđầu (6 trang); Phần nội dung
(52trang) và phần kết luận (3 trang).
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát vềđiều kiện tự nhiên-lịch sử, xã hội và con
người.
- Chương 2: Làng nghề truyền thống.
- Chương 3: Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của
cư dân Mã Châu.
Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, sách dẫn và phụ lục
gồm 20 trang.
6
Chương 1: KHÁIQUÁTVỀĐIỀUKIỆNTỰNHIÊN-LỊCHSỬ,
XÃHỘIVÀCONNGƯỜI
1.1. Điều kiện tự nhiên
Làng Mã Châu (theo tên địa giới hành chính là thôn Châu Hiệp) thuộc
thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nằm cách thành
phốĐà Nẵng 30 km đi theo Quốc lộ 1A, đoạn từĐà Nẵng đi Tam kỳ - Quảng
Nam.
Vị tríđịa lý của làng Mã Châu, phía Tây tiếp giáp sông Cầu Chìm (một
đoạn của sông Bà Rén, vìởđoạn sông này có cây cầu Chìm bắc qua sông nên gọi
như vậy), bên kia sông là Ngũ xã Trà Kiệu. Phía Đông - Nam giáp làng Mậu

t Qung Nam cha ma ó thm
1
1
GS Trần Quốc Vợng đã mô hình hoá miền Trung thành một hình hộp chữ nhật và mỗi xứ,
vùng là những hình hộp chữ nhật ngang với những thành tố: Núi đồi - Đèo - Sông - Đầm phá -
Cảng ven sông, ven biển - Hải đảo và các thành tố Núi - Biển - Sông - Đèo tuy có yếu tố chia
cắt các vùng miền song lại mang yếu tố gạch nối nhiều hơn [37.309-340].
8
Do tính chất sông ngòi như vậy màđất đai ởđây xưa kia phần lớn làđất
khô cằn, nước tưới tiêu cho đồng ruộng hoàn toàn phụ thuộc vào "nước trời".
Duy chỉ có vùng hạ lưu các sông, đặc biệt là hạ lưu sông Thu Bồn (vùng Duy
Xuyên, Điện Bàn) nhờ phù sa hàng năm bồi đắp nên hai bên bờ sông tạo thành
những đồng ruộng phì nhiêu thuận lợi cho việc canh tác, trồng trọt, nhất là trồng
lúa, trồng dâu [22.202].
Huyện Duy Xuyên nằm dọc về phía bờ Nam sông Thu Bồn, địa hình
trải dài từ núi ra biển, có bốn nhánh sông lớn là Vu Gia, Thu Bồn, Bà Rén và
Trường Giang. Đất đai ởđây được thừa hưởng nguồn phù sa dồi dào từ thượng
nguồn các nhánh sông Thu Bồn đổ về làm cho màu mỡ, dần dần đẩy lùi nước
biển từ bãi cát Tây An, xã Duy Trung tạo thành những giải đất phì nhiêu kéo dài
từ miếu Thành Hoàng Mã Châu cho đến Phụng Châu, Long Châu, Triều Châu...
của xã Duy Phước, Duy Vinh ngày nay. Làng Mã Châu với địa thếởđỉnh tam
giác châu lại được bao quanh bởi sông Bà Rén nên hàng năm, sau mỗi mùa lũđã
nhận được một lượng phù sa đáng kể, rất thuận lợi cho sự phát triển nghề nông
tang ởđây.
Nói chung, địa hình ở Duy Xuyên đồi núi, sông hồ, đầm phá gắn kết
với nhau khá chặt chẽ. Vùng đồng bằng sông Thu Bồn sông hồ lầy lội, đi ghe
thuyền tiện hơn đi chân. Việc đặt tên các xứđất ở Mã Châu: Đồng Rẫy, Lục
Nhơn, Bàu Trước, Bàu Tự, Bàu Răm, Bàu Mạn, Bàu Tỉnh, Bàu Khế, Bàu Chùa,
đất bồi xóm bãi (Thượng tự phù sa đồng canh xứ)... cũng đã phần nào nói nên
điều này.

10
3 - Văn hoá tiền Sa Huỳnh (Bàu Trám, Phúc Hoà).
2 - Văn hoá Bãi Ông (Cù Lao Chàm).
1 - Văn hoá Bàu Dũ hậu Hoà Bình (hay truyền thống Hoà Bình)...
[22.35].
Năm 1981 di chỉ Khảo cổ học Bàu Dũ thuộc thời đại đá mới ở thôn Bút
Đông, xã Tam Xuân, huyện (nay là thị xã) Tam Kỳđược phát hiện và khai quật.
Bàu Dũ là một di chỉ cồn sòđiệp, căn cứ vào cấu tạo tầng văn hoá, được
xếp vào loại hình di tích đống rác bếp. Bàu Dũ có nhiều nét tương tự với văn
hoá Hoà Bình ở miền Bắc (có niên đại 15000 đến 8-6000 năm cách ngày nay)
bởi kỹ thuật chế tác và công cụđá; và di tích văn hoá Quỳnh văn ở ven biển
Nghệ An (đầu thời đại đá mới) ở hình thức mộ táng (huyệt tròn, trôn người bó
gối trong đống vỏ sòđiệp).
Những hiện vật khai quật được ở Bàu Dũ cho biết nền kinh tế của cư
dân Bàu Dũ là kinh tế săn bắt (bắn), hái lượm theo phổ rộng của hệ sinh thái bờ
biển. Địa bàn cư trú của họ là những vùng cửa sông ven biển. Tại đây đã thu
lượm được một số lượng lớn xương cốt động vật và vỏ nhuyễn thể (nhưng chưa
thấy di cốt của loài vật đãđược thuần dưỡng) cho thấy trước đây vùng này là
vùng rừng xen lẫn với những trảng cỏ rộng lớn và những bàu nước ngọt như
Bàu Dũ, Bàu Mê, Bàu Trám... [33].
Quảng Nam hiện nay vẫn là nơi phân bố dày đặc nhất những di tích
khảo cổ học của văn hoá Sa Huỳnh. Tính riêng ở huyện Duy Xuyên đã phát hiện
hàng chục di chỉ trong vòng vài năm gần đây. Những di tích này được phát hiện
ở những khu vực sinh thái đa dạng: núi, đồi, gò, ven sông... với mật độ chum mộ
vàđồ tuỳ táng dày đặc. Đa số các di tích phân bốở trên những cồn cát cổ, dọc
theo các con sông Thu Bồn và Bà Rén.
11
Các di tích Sa Huỳnh ở Duy Xuyên tìm thấy, đặc biệt phân bố rất dày
đặc ở các cồn cát cổ ven theo bờ Nam sông Bà Rén, thuộc khu vực thôn Mậu
Hoà, xã Duy Trung (tức là cách làng Mã Châu hiện nay một bờ sông) như: gò

ca cỏc nn vn hoỏ lỏng ging, dõn tc Chm trờn chng ng di 14 th kó
sỏng to nờn nn vn hoỏ riờng, c ỏo ca mỡnh.
Chmpa cú niờn i khi u vo cui th k II theo th tch c Trung
Quc. Gn lin vi s kin nm 192 Khu Liờn ni dy chng nh Hỏn, lp nc
Lõm p ( vựng t Qung Nam ngy nay)
2
. ú l vng quc Chmpa ca
ngi Chm vi ụ thnh S T (Simhapura), nay l Tr Kiu - Duy Xuyờn. Ti
õy, trờn ngn nỳi Bu Chõu - gia kinh ụ Tr Kiu, trong mt ln i in dó
tu thp k 80, GS Trn Quc Vng ó "n ng" ra mụ hỡnh quy hoch cỏc
tiu quc Chmpa nh sau:
Nỳi Sụng Thu Bn
Tõy Thỏnh a Thnh S T Cng th Hi An Bin ụng Tin
cng
M Sn (Simhapura) (Chmpapura) (Cự Lao Chm)
2
Thời Sơ Bình nhà hậu Hán (190 - 192) Khu Liên, một công tào huyện Tợng Lâm đã lợi dụng
lúc nhà Hán suy yếu, nổi dậy chiếm quận Nhật Nam và xng Vua ở Tợng Lâm-một huyện cực
Nam của quận Nhật Nam, lập ra nớc Lâm ấp. Tên Lâm ấp có thể do bắt nguồn từ chữ Tợng
Lâm (rừng voi). Còn tên Chămpa thì không biết ra đời từ khi nào, bia ký sớm nhất nhắc đến
tên này là bia đợc lập vào thế kỷ VI [33.9-10].
13
Trong ú sụng bin, sụng nc l yu t kt ni gia cỏc thnh t trờn
[37.322].
Duy Xuyờn vi din tớch 27.533 ha vi a hỡnh tri di t Tõy sang
ụng theo hỡnh hp ch nht vi phc tha hỡnh Nỳi - i - ng bng -
Duyờn hi - Bin vi yu t kt ni l dũng sụng Thu Bn, ó mang trong mỡnh
Thỏnh a M Sn - trung tõm tụn giỏo ca tiu vựng Amaravõti (Qung nam),
m theo GS Trn Quc Vng thỡ ngoi chc nng tụn giỏo, thỏnh a M Sn
cũn cú chc nng giao lu kinh t, vn hoỏ gia Chmpa v cỏc dõn tc thiu

Vùng đồng bằng Duy Xuyên - Quảng Nam là nơi đã có dấu tích cư dân
sinh sống từ lâu đời. Tuy nhiên chỉ khi có người Việt di cưđến "vùng đất mới"
(ùng với người Chăm), "khai hoang" lập nghiệp, thì mới hình thành nên làng
Việt với những tên làng, tên xã như hiện nay.
Xứ Quảng - Quảng Nam trước kia vốn là vùng đất của Vương quốc
Chămpa nhưng trong quá trình "Nam tiến" của mình, người Việt đãđể lại đây
những dấu ấn từ rất sớm trong lịch sử. Đại cương Lịch sử Việt Nam (tập 1) đã
ghi lại: "Năm 982 sau khi đánh bại quân Tống. Lê Hoàn quyết định đem quân
đánh Chămpa, tiến thẳng đến kinh đô, phá huỷ thành trì rồi rút quân về"[40.26].
Lịch sử Chămpa cũng đã lưu lại trường hợp người Việt là Lưu Kế Tông - quân
Quản Giáp trong quân đội đi đánh Chiêm Thành của Lê Hoàn đã trốn ở lại,
chiếm ngôi vua Chămpa từ năm 986 đến năm 988, khi vua Chămpa Inđravarman
chết vào năm 986 [12.26].
Năm 1069 Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành,vua Chiêm
Ruđravarman II phải cắt ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là Quảng
Bình và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lý. Đến thời Trần, năm 1305 vua Trần (Nhân
Tông) gả Huyền Chân Công Chúa cho vua Chămpa là Chế Mân và thu nhận lễ
vật là hai châu Ô, Rí (nay làđất Thừa Thiên). Năm 1402 nhà Hồđánh Chiêm,
15
Chiêm dâng đất Chiêm Động, Hồ Quý Ly bắt phải dâng cảđất Cổ Luỹ (từ Quảng
Nam đến Phú Yên) vàđặt bốn châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa. "Lại bắt người
dân có của mà không có ruộng ở các lộ khác đem vợ con vào ở, để khai khẩn đất
ở những châu ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động và Cổ Luỹ,
người CHiêm đều bỏđất ấy màđi cả"[34.184].
GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét quá trình "Nam tiến" của người Việt
có chiến tranh, có chết chóc nhưng không hề có sự khu trục người Chàm ra khỏi
vùng Thuận Hoá - Quảng Nam. Lịch sửđã ghi lại nhiều cuộc hôn nhân Việt -
Chăm (đặc biệt là thời kỳđầu, người Việt vào đây chủ yếu làđàn ông - những
người lính thú, những phạm nhân bịđi đày viễn xứ (tội lưu viễn châu) họđã kết
hôn với những phụ nữ người Chăm), có nhiều dòng họ Việt gốc Chàm (Ông,

1578)
4
, thi im ra i ca lng vo khong gia th k XVI. Thi im ny
cng phự hp vi ln di dõn "Bc a tựng vng" ca Nguyn Hong vo vựng
Thun Qung nm 1558
5
.
Mó Chõu c bao bc bi sụng B Rộn, li c dũng sụng Thu Bn
bi p phự sa hng nm nờn ngay sau khi ngi Vit n ó lp nờn nhng lng
xúm trự phỳ. Ngi Vit khi n vựng t ny, khi lp lng thng t tờn theo
tht, theo nhng gỡ mỡnh mong c hoc l ly tờn lng quờ c ca h. Tờn
4
13 vị Hậu hiền có công khai canh lập xã Trà Kiệu đợc Sắc phong năm Khải Địng thứ 9 gồm:
Lê Đức Khoan, Nguyễn Văn Xứ, Nguyễn Văn Đơng, Phạm Văn Hoa, Nguyễn Viết Tuế, Lê
Phớc Đệ, Đoàn Công Khúc, Nguyễn Viết Dũng, Lê Văn D, Đặng Ngọc Đài, Trơng Văn Tốt,
Lê Văn Hợp, Nguyễn Cảnh Vạn [10].
5
Năm 1558 để tránh sự ám hại của ngời anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã xin vào làm
Trấn thủ Thuận Hoá, một vùng đất đầy khó khăn hiểm trở với hi vọng "Hoành sơn nhất đái,
vạn đại dung thân". Trịnh Kiểm lúc đó đang có ý định loại bỏ ảnh hởng của họ Nguyễn, thấy
đây là vùng đất ngèo, đầy rẫy khó khăn nên đã đồng ý.
17
lng Mó Chõu ( ) cú lc t theo tht, tc l mnh t hỡnh con
nga, cng nh mt s lng khỏc ly tờn Long Chõu - mnh t hỡnh con rng,
Phng Chõu - mnh t hỡnh chim Phng, Bu Chõu - hũn ngc bỏu, Hon
Chõu - viờn ngc trũn...
Vỡ c dõn vựng ny trự mt nờn thi Minh Mng ci cỏch hnh chớnh
ó chia lng Mó Chõu thnh bn thụn l Mó Chõu ụng, Mó Chõu Thnh, Mó
Chõu Tõy v Mó Chõu Thng thuc tng ụng An, huyn Duy Xuyờn. S
phõn chia a gii hnh chớnh õy vo thi Minh Mng ch yu da vo ngun

1.3. Xã hội và con người.
Nguồn gốc cư dân tạo nên làng mạc xứ Quảng từ thế kỷ XV về sau,
ngoài một bộ phận cư dân Chăm lưu lại thì nguồn bổ xung chủ yếu là cư dân từ
nhiều làng quê khác nhau ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ di chuyển vào màđông đảo
nhất là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Các đợt di dân khá quy mô, có tổ chức thời
Lê, thời Chúa Nguyễn bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Dùở
giai tầng nào, họ vẫn mang theo trong mình những tập quán, nếp sống ở những
làng quê cũ. Họ cùng góp những vốn liếng riêng của mỗi làng quêđóđể xây
dựng lên một cấu trúc làng xóm, một nối làm ăn, một nền văn hoá cộng đồng
mới. Sự kế thừa, giao lưu và tiếp nhận các di sản văn hoá từ cộng đồng Chăm,
sự tổng hợp của sắc thái các làng quê xứ Bắc, Bắc Trung Bộ tạo nên diện mạo
của làng mạc xứ Quảng [21.128-129].
Cách thức bố trí của làng Mã Châu đại thể, giống các làng Việt ở châu
thổ Bắc Bộ nhưng thoáng hơn. Trong quá trình sinh sống cư dân Mã Châu đã tổ
chức thành 9 xóm theo khu vực cư trú là: tứ Phú (Phú Khương, Phú Thuận, Phú
Bình, Phú Hoà), tứ Bình (Bình Khương, Bình Thuận, Bình Yên, Bình Hoà) và
Hợp Thành. Các xóm xếp cạnh nhau thành những ô bàn cờ và tách nhau bằng
những lối đi tương đối thẳng. Mỗi xóm có một cuộc sống riêng của nó với một
sự cộng cảm riêng, kết tinh lại quanh việc thờ phụng ở miếu của mỗi xóm. Tên
xóm thể hiện ước vọng bình dị của những người dân làng Mã Châu phú yên, phú
thuận, bình khương, bình hoà... vàởđây xóm đơn thuần chỉ là một đơn vị văn
hoá, một đơn vị tụ cư chứ không phải là một đơn vị hành chính hay đơn vị kinh
tế.
19
Bộ máy lý dịch thời Trung - Cận đại ở Mã Châu cũng tương đối giống
làng xãở Bắc Bộ với các chức danh:
- Lý trưởng: là người về nguyên tắc, được uỷ quyền và thay mặt dân
làng giao tiếp với chính quyền phong kiến. Lý trưởng phụ trách chung về các
mặt chia ruộng, thu thuế và các việc liên quan đến vấn đề hành chính.
- Hương Kiểm (Trương Tuần, Tuần Châu ở Bắc Bộ): là người đặc trách

Đông"[19.399]. Và cư dân ở Duy Xuyên nhìn chung "Phong tục kiệm ước mà
quê mùa, ăn ở giản dịít văn háo. Còn như các lễ hôn, tang, tế, hội hè, yến ẩm...
thì tuỳ nơi theo tục nhưng vẫn giữ lễý" và"khi gặp việc khánh hỷ thì những người
giàu có, phần nhiều hay thích hát xướng thờ thần"[5].
Là những con người ở những miền quê khác nhau, vìđiều kiện sinh tồn
nên họ phải tập hợp tại đây. Vì vậy họ luôn mang trong lòng tâm trạng hoài cổ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Bởi "người Việt thích sống trong một môi trường trong đó quan hệ máu
mủ, quan hệ xóm giềng được duy trì cho dùđiều này cản thở một phần quan hệ
công việc"[17.63]. Trong môi trường mới người dân ởđây lại càng đoàn kết gắn
bó với nhau hơn "nhân dân trong hạy, hễ khi gặp có lễ thờ thần, cúng phật hoặc
hôn tang... bao giờ cũng theo sức mình mà làm, giúp đỡ lẫn nhau"[5].
21
Mó Chõu trong bi cnh x Qung vi truyn thng "Ng phng t
phi"
8
vn t trc lt cú hc, lt cú l [22.38]. "Hc trũ chm hc hnh,
nụng phu chm ng rung, siờng sn xut mớt em cho; vui lm vic ngha, st
sng vic cụng"[19.339]. Mó Chõu t trc v cho n hin nay, vic hc
hnh vn luụn c t nờn hng u, dựõy ó cú ngh dt. Khụng hc c
na thỡ mi chuyn sang lm ngh khỏc. Cng cú trng hp nh nghốo quỏ
khụng th nuụi con em n hc nờn phi b d, nhng a s l nu cũn cú th thỡ
cho con i hc ch khụng bt i lm ngh quỏ sm. V trong lch s, t thi
Thiu Tr tri, lng Mó Chõu cng cú nhiu ngi C nhõn v mt ngi ừ
Phú bng. Trong ú dũng h Phm l dũng h cú truyn thng hc hnh nht
lng vi nhiu i cha con, anh em tip ni nhau t
9
.
õy cng l mnh t giu truyn thng yờu nc. Ngay t giai on

Quế Lâm, Bình Yên (Quế Phước), Quế Lộc, PhúĐa, Thu Bồn, Mậu Hoà, Hậu
Xá... đó là các khu cư trú cổ, các khu mộ chum có niên đại cách ngày nay
khoảng 2000 đến 2500 năm.
Quảng Nam có bốn dòng sông lớn, ba bắt nguồn từ Hoà Vang, một từ
nguồn Thu Bồn, Quế Sơn; đều chảy đến thôn Giao Thuỷ huyện Diên Phúc thì
hợp dòng. Đến huyện Duy Xuyên thì chia dòng: sông Bà Rén ở phía Nam và
sông Thu Bồn ở phía Bắc cùng chảy cửa Đại - Hội An. Đại Nam nhất thống chí
chép: "Sông Dưỡng Mông ở cách huyện Quế Sơn hai dặm về phía Bắc ra từ
nguồn Chiên Đàn (nguồn sông Thu Bồn- TG) qua địa giới huyện Lê Dương, đến
bãi Thi Lai huyện Duy Xuyên thì thành một nhánh riêng đến xã Dưỡng Mông.
Tục gọi là sông Bà Rén, chạy về phía Đông Nam qua chợ Thi Lai rồi chuyển sang
Đông đổ vào sông Bàn Thạch"[19.362-363]. Sông Bàn Thạch (Trường Giang)
lại chảy về phía Đông đổ ra cửa Đại Chiêm.
Làng Mã Châu nằm ởđoạn thượng lưu sông Bà Rén vàđây là con sông
cóảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến đời sống của cư dân Mã Châu. Sông Thu
Bồn - Bà Rén bồi đắp phù sa tạo nên vùng đồng bằng phì nhiêu Duy Xuyên,
Điện Bàn... "ruộng đồng rộng rãi, các thứ lúa xanh tốt"[16.337]. Ởđây từ rất
sớm sử cũđã ghi lại lúa hai vụ, tằm tám lứa tơ một năm. Sách Thuỷ kinh chú
chép: "Ruộng gọi là "Bạch điền" (ruộng trắng) thì giống lúa trắng, tháng 7 đốt
rẫy thì tháng 10 có lúa chín; ruộng gọi là "Xích điền" (ruộng đỏ) thì giống lúa
24
đỏ, tháng chạp làm thì tháng tư có lúa chín; người ta gọi lúa hai mùa là thế. Còn
như có nơi nảy mầm, hoa màu thay lúa, lúa sớm lúa muộn tháng nào cũng tốt.
Cày giống công nhiều, mà thu hoạch lợi ít, vì mùa màng chóng chín. Gạo không
phân tán ra ngoài nên trong nước thường nhiều gạo. Việc tằm tang thì một năm
tám lứa kén chín. Trong bài Tam đô phú bảo là tơ tám lứa tằm là thế"[9.114].
Đại Nam nhất thống chí cũng ghi lại ởđây: "thổ nghi mùa màng thì có
năm bậc; ruộng Hạ thì mùa Đông cấy, mùa Hạ gặt; ruộng Thu thì mùa Hạ cấy,
mùa Đông gặt; ruộng Hạ, ruộng Thu (ở miền Trung và Nam thì ruộng Hạ là
ruộng Mùa, ruộng Thu là ruộng Chiêm, khác với miền Bắc - chú thích của người


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status