1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“Làng nghề truyền thống của cư
dân Mã Châu.”
1. Mục đích nghiên cứu
Người Việt từ xưa (và cho đến nay) đa phần là nông dân. Môi trường
sống của họ là Nông thôn - Nông nghiệp - Xóm làng. Phổ xã hội Việt Nam
truyền thống là Gia đình - Họ hàng - Làng nước. Trong tiến trình lịch sử dân tộc,
làng xã có một vai trò hết sức to lớn. Nó là tế bào sống của xã hội Việt Nam, là
môi trường sinh tụ và hoạt động của nông dân Việt Nam. Mỗi bước thăng trầm
của dân tộc thường để lại những dấu ấn đậm nét trong đời sống làng xã.
Làng nghề truyền thống là nguồn tài sản quý giá của đất nước cần được
bảo tồn và phát triển. Tài sản đó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế - xã hội mà còn
thể hiện nền văn hoá, văn minh độc đáo của dân tộc Việt Nam. "Những làng
nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ trăm ngàn năm) "dân biết
mặt, nước biết tên", tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ trở thành di
sản văn hoá dân gian"[36.372].
Sau một thời gian mai một, hiện nay làng nghề đã và đang được quan
tâm phát triển. Sự đổi mới cơ chế quản lý cũ sang cơ chế thị trường với sự điều
tiết của nhà nước từ Đại hội VI (năm 1986) đã tạo ra bước ngoặt quan trọng,
thúc đẩy sự phát triển sản xuất nói chung và các ngành nghề truyền thống nói
riêng. Sự phát triển của làng nghề, đặc biệt là những ngành nghề mới trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) nông thôn là một xu hướng tất
yếu khách quan. Nhưng hiện nay vẫn còn không ít các làng nghề chưa phục hồi
được sản xuất, nhiều nghề bị mai một, đội ngũ nghệ nhân ngày càng suy giảm.
Các làng nghề cũng đang đứng trước những khó khăn thách thức như là thị
trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn vốn, trang thiết bị công nghệ [2.235]. Vì vậy
vấn đềđặt ra là phải tìm hiểu các làng nghề truyền thống, phải có một cái nhìn 4
toàn thể về nó. Từ đó mới có thể hoạch định những phương hướng, cách thức
bảo tồn và phát triển làng nghề trong giai đoạn hiện nay.
Bảo tồn làng nghề truyền thống cũng chính là bảo tồn các giá trị văn
Xuyên, ông nói đến ảnh hưởng của nghề dệt với đời sống cư dân ởđây.
- Bài báo: Duy Xuyên ngày mai xanh lại những biền dâu? của
Hoàng Thơ trên báo Quảng Nam chủ nhật ngày 9.3.2003. Từ những số liệu của
nghề dâu tằm ở Duy Xuyên trong những năm gần đây, tác giả khẳng định khả
năng phát triển của nghề dệt ở vùng này.
- Bài viết: Ông Cửu Diễn - người du nhập kỹ thuật dệt mới vào Duy
Xuyên (tư liệu của chị Nguyễn Thị Tuyết - Phòng Văn hoá huyện Duy Xuyên)
nói về sự cải tiến kỹ thuật dệt ở Duy Xuyên hồi đầu thế kỷ XX.
3. Các nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:
3.1. Tư liệu chữ viết
3.1.1. Thư tịch cổ gồm có:
- Thuỷ kinh chú [9]
- Đại Việt sử ký toàn thư [3]
- Phủ biên tạp lục [8]
- Đại Nam nhất thống chí [19]
- Đồng Khánh địa dư chí [5]
3.1.2. Tư liệu chữ viết sưu tầm tại địa phương gồm có:
- Quy ước văn hoá thôn Châu Hiệp [20]
- Dự thảo tộc ước làng mã Châu [1]
- Tóm tắt lược sử các chư phái tộc làng Mã Châu [32] 6
- Gia phả họ Phạm thôn Mã Châu Thượng (chữ Hán)
- Gia phả họ Trịnh thôn Mã Châu Đông (cả phần chữ Hán và bản dịch)
3.2.Tư liệu điền dã
Trong điều kiện làng nghề Mã Châu mới chỉ có những bài nghiên cứu
chung, mang tính chất nền tảng bước đầu, chưa có sựđi sâu, tìm hiểu toàn diện
(52trang) và phần kết luận (3 trang).
Nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên-lịch sử, xã hội và con
người.
- Chương 2: Làng nghề truyền thống.
- Chương 3: Đôi nét về tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của
cư dân Mã Châu.
Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo, sách dẫn và phụ lục
gồm 20 trang.
8 Chương 1
:
KHÁIQUÁTVỀĐIỀUKIỆNTỰNHIÊN-LỊCHSỬ,
ti vựng Giao Thu (i Lc) vn Duy Xuyờn thỡ chia thnh hai nhỏnh cựng
ra ca i l nhỏnh sụng Thu Bn phớa Bc v nhỏnh sụng B Rộn phớa
Nam nh hn.
Sụng Thu Bn bt ngun t nỳi Ngc Linh (cao 2.859m), nm giỏp
gia huyn Tr My v Kon Tum, ni cú lng ma trung bỡnh 4000 mm/nm
[26.34]. Do vy, sụng Thu Bn v Vu Gia l hai dũng sụng ln ó hp lu vi
nhau bi p nờn vựng t ai trự phỳin Bn, i Lc, Duy Xuyờn nhng
cng v phớa ụng cng pha nhiu cỏt bin v phi chu nh hng ca thu
triu. Nhng vựng khỏc nhng bng sụng Ly Ly, Tam K, t pha nhiu cỏt
v nghốo hn t vựng sụng Thu Bn, do sụng nh, nc l khụng ln, phự sa
khụng nhiu, khụng nc ti cho rung ng v mựa hn [37.418-431].
Núóc tng kt trong cõu th dõn gian:
t Qung Nam cha ma ó thm
11
GS Trần Quốc Vợng đã mô hình hoá miền Trung thành một hình hộp chữ nhật và mỗi xứ,
vùng là những hình hộp chữ nhật ngang với những thành tố: Núi đồi - Đèo - Sông - Đầm phá -
Cảng ven sông, ven biển - Hải đảo và các thành tố Núi - Biển - Sông - Đèo tuy có yếu tố chia
cắt các vùng miền song lại mang yếu tố gạch nối nhiều hơn [37.309-340]. 10
Do tính chất sông ngòi như vậy màđất đai ởđây xưa kia phần lớn làđất
khô cằn, nước tưới tiêu cho đồng ruộng hoàn toàn phụ thuộc vào "nước trời".
Duy chỉ có vùng hạ lưu các sông, đặc biệt là hạ lưu sông Thu Bồn (vùng Duy
Xuyên, Điện Bàn) nhờ phù sa hàng năm bồi đắp nên hai bên bờ sông tạo thành
những đồng ruộng phì nhiêu thuận lợi cho việc canh tác, trồng trọt, nhất là trồng
mục Quảng Nam tỉnh chép: "Khí trời nóng nực, nhiều lạnh ít mưa; chất đất phù
bạc, nhiều khô hạn ít màu mỡ. Hết tháng chạp thì gióĐông nổi, tiết kinh chập thì
mưa xuân phần; gió Nam mạnh về mùa Hạ, gió Bắc rét về mùa Đông; mùa Thu
gió mát mà hay mưa lụt (các tháng 8, 9, 10 thường hay mưa lụt), mưa Đông hết
lụt thì bãi sông bằng (mùa Đông sau khi mưa lụt thì bãi sông bằng phẳng tức là
hết kỳ mưa lụt) Thỉnh thoảng cũng có gió bão"[19.337].
Do ảnh hưởng của khí hậu Á xích đạo nên thành phần sinh vật mang
nhiều đặc điểm Mã Lai, Iđônêsia
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển làng Mã Châu.
Làng Mã Châu (mà theo tên hành chính là thôn Châu Hiệp, xã Duy An
cũ hay thi trấn Nam Phước mới thành lập năm 1995) trong bối cảnh toàn vùng
Duy Xuyên và mở rộng hơn là xứ Quảng - Quảng Nam là vùng đất có truyền
thống lịch sử lâu đời. Nóđãđược GS Trần Quốc Vượng khái quát: "Ở xứ Quảng
- Quảng Nam - Việt Nam lại có sự xếp tầng (stratigraphi) xếp lớp văn hoá, quá
trình lắng đọng - trầm tích (sédimentation) văn hoá qua diễn trình lịch sử kể từ
dưới lên trên:
7 - Văn hoá Quảng Nam hiện đại.
6 - Văn hoá Kinh - Việt.
5 - Văn hoá Chămpa - Ấn.
4 - Văn hoá Sa Huỳnh - Đại Lộc. 12
3 - Văn hoá tiền Sa Huỳnh (Bàu Trám, Phúc Hoà).
2 - Văn hoá Bãi Ông (Cù Lao Chàm).
1 - Văn hoá Bàu Dũ hậu Hoà Bình (hay truyền thống Hoà Bình)
[22.35].
Mộ táng Sa Huỳnh ởđây có nhiều táng thức khác nhau, với những loại
hình: mộ chum, mộ vò và mộ huyệt đất, nhưng phổ biến nhất là mộ chum. Chum
mộ hình cầu với những kiểu biến thểở miệng, thân, đáy thành hình trái xoan, trái
đào, hình trứng mộ chum kép (chum đôi lồng nhau), với nắp đậy hình nón cụt
hoặc hình lồng bàn. Đồ gốm ởđây rất đa dạng về loại hình cũng như hoa văn
trang trí như: nồi, bát bồng, đèn, cốc chân cao, bình, vò với đồán hoa văn phức
tạp kết hợp khắc vạch, tô màu Khiếu thẩm mỹ của người Sa Huỳnh rất phong
phúđược thể hiện qua cách sử dụng đồ trang sức với những chất liệu: mã não,
thuỷ tinh, vàng, đá, nephrit Bộ sưu tập đồđồng vàđồ sắt cũng rất phong phú
với những loại hình: rìu, lao, dao, đục Các hiện vật tìm được đã cho thấy ởđây
từ rất sớm, người Sa Huỳnh đã mở rộng giao lưu văn hoá với các vùng khác. Bộ
sưu tập đồđồng ở gò Mả Vôi cho thấy sự giao lưu với văn hoáĐông Sơn, còn bộ
sưu tập đồđồng ở gò Dừa lại cho thấy sự giao lưu mạnh mẽ với văn hoá Hán
[14.32].
Kết quả nghiên cứu còn cho biết cư dân Sa Huỳnh là cư dân nông
nghiệp trồng lúa nước ở vùng đồng bằng duyên hải. Họđã biết trồng lúa và một
số loại cây lương thực khác như: khoai, sắn, lạc, đậu Có thể cây lấy sợi như
bông, đay, gai đãđược cư dân Sa Huỳnh trồng để phát triển nghề dệt sợi. Các dọi
xe sợi đã nói lên sự phát triển của nghề thủ công này trong văn hoá Sa Huỳnh.
Việc buôn bán trao đổi của họ cũng rất phát triển. Nghềđi biển đãđược người Sa
Huỳnh biết đến và yếu tố biển đãăn sâu vào đời sống của họ. Do vậy cốt lõi của 14
ngh thut Sa Hunh l miờu t thiờn nhiờn m ch yu l bin c [35.445].
Trong ú Hi An vi vai trũ ca mt cng th s khai l minh chng cho s giao
thng v giao lu vn hoỏ gia Sa Hunh v nhng nn vn hoỏ khỏc qua
ng bin.
15 Trong ú sụng bin, sụng nc l yu t kt ni gia cỏc thnh t trờn
[37.322].
Duy Xuyờn vi din tớch 27.533 ha vi a hỡnh tri di t Tõy sang
ụng theo hỡnh hp ch nht vi phc tha hỡnh Nỳi - i - ng bng -
Duyờn hi - Bin vi yu t kt ni l dũng sụng Thu Bn, ó mang trong mỡnh
Thỏnh a M Sn - trung tõm tụn giỏo ca tiu vựng Amaravõti (Qung nam),
m theo GS Trn Quc Vng thỡ ngoi chc nng tụn giỏo, thỏnh a M Sn
cũn cú chc nng giao lu kinh t, vn hoỏ gia Chmpa v cỏc dõn tc thiu
s vựng nỳi; Kinh ụ Tr Kiu (Simhapura) ni úng ụ ca Vng quc
Chmpa t th k III n th k IX - X. Vic khai qut thnh Tr Kiu óc
Khoa S trng H KHXH&NV H Ni tin hnh (ln mt nm 1989 v ln
hai vo thỏng 3 nm 2003). Kt qu nghiờn cu cho thy õy l ngụi thnh c
xõy dng bng gch u tiờn Vit Nam vi mt k thut xõy thnh rt cao
3
;
Vựng ng bng Duy Xuyờn t ai mu m do c cỏc con sụng Vu Gia -
Thu Bn bi p, thun li cho s phỏt trin nụng nghip v cỏc con sụng Thu
Bn - B Rộn li cung cp nc ti cho vựng ng bng nờn vic canh tỏc
nụng nghip õy thun li, khụng phi ph thuc vo "nc tri" nh nhng
vựng ng bng khỏc Qung Nam; Sụng Thu Bn l si dõy ni lin nỳi Chỳa
- kinh ụ Tr Kiu vi cng th Hi An (i Chiờm hi khu - Chmpapura) v
xa hn na l Cự Lao Chm - hũn o tin tiờu ca nhng c dõn vựng bin theo
kiu liờn kt:
Ai v nhn vi nu/bn ngun
Mớt non/mng le gi xung, cỏ chun gi lờn.
3
Bình và Bắc Quảng Trị) cho nhà Lý. Đến thời Trần, năm 1305 vua Trần (Nhân
Tông) gả Huyền Chân Công Chúa cho vua Chămpa là Chế Mân và thu nhận lễ
vật là hai châu Ô, Rí (nay làđất Thừa Thiên). Năm 1402 nhà Hồđánh Chiêm, 17
Chiêm dâng đất Chiêm Động, Hồ Quý Ly bắt phải dâng cảđất Cổ Luỹ (từ Quảng
Nam đến Phú Yên) vàđặt bốn châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa. "Lại bắt người
dân có của mà không có ruộng ở các lộ khác đem vợ con vào ở, để khai khẩn
đất ở những châu ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động và Cổ Luỹ,
người CHiêm đều bỏđất ấy màđi cả"[34.184].
GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét quá trình "Nam tiến" của người Việt
có chiến tranh, có chết chóc nhưng không hề có sự khu trục người Chàm ra khỏi
vùng Thuận Hoá - Quảng Nam. Lịch sửđã ghi lại nhiều cuộc hôn nhân Việt -
Chăm (đặc biệt là thời kỳđầu, người Việt vào đây chủ yếu làđàn ông - những
người lính thú, những phạm nhân bịđi đày viễn xứ (tội lưu viễn châu) họđã kết
hôn với những phụ nữ người Chăm), có nhiều dòng họ Việt gốc Chàm (Ông,
Ma, Chà, Chế ) và thậm chí cho đến nay vẫn tồn tại các ốc đảo người Việt gốc
Chăm ở Quảng Nam [37.447].
Tuy nhiên trên thực tế những vùng đất đó vẫn làđất của Chămpa và nó
chỉ thực sựđược sát nhập vào Đại Việt với sự kiện năm 1470 Lê Thánh Tông
đánh Chiêm Thành và lập nên đạo thừa tuyên thứ 13 làĐạo thừa tuyên Quảng
Nam.
Theo Nguyễn Xuân Hồng và Trần Thị Thu Hà thìở Quảng Nam có
những đợt di dân lớn sau:
1 - Đợt di dân theo Huyền Trân Công Chúa.
2 - Đợt di dân theo cuộc viễn chinh của Lê Thành Tông.
3 - Đợt di dân từ miền Bắc vào khi Nguyễn Hoàng vào Trấn thủ xứ
Thuận Quảng vào giữa thế kỷ XVII (chủ yếu là người Thanh - Nghệ - Tĩnh.
xúm trự phỳ. Ngi Vit khi n vựng t ny, khi lp lng thng t tờn theo
tht, theo nhng gỡ mỡnh mong c hoc l ly tờn lng quờ c ca h. Tờn
4
13 vị Hậu hiền có công khai canh lập xã Trà Kiệu đợc Sắc phong năm Khải Địng thứ 9 gồm:
Lê Đức Khoan, Nguyễn Văn Xứ, Nguyễn Văn Đơng, Phạm Văn Hoa, Nguyễn Viết Tuế, Lê
Phớc Đệ, Đoàn Công Khúc, Nguyễn Viết Dũng, Lê Văn D, Đặng Ngọc Đài, Trơng Văn
Tốt, Lê Văn Hợp, Nguyễn Cảnh Vạn [10].
5
Năm 1558 để tránh sự ám hại của ngời anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã xin vào làm
Trấn thủ Thuận Hoá, một vùng đất đầy khó khăn hiểm trở với hi vọng "Hoành sơn nhất đái,
vạn đại dung thân". Trịnh Kiểm lúc đó đang có ý định loại bỏ ảnh hởng của họ Nguyễn, thấy
đây là vùng đất ngèo, đầy rẫy khó khăn nên đã đồng ý. 19
lng Mó Chõu ( ) cú lc t theo tht, tc l mnh t hỡnh con
nga, cng nh mt s lng khỏc ly tờn Long Chõu - mnh t hỡnh con rng,
Phng Chõu - mnh t hỡnh chim Phng, Bu Chõu - hũn ngc bỏu, Hon
Chõu - viờn ngc trũn
Vỡ c dõn vựng ny trự mt nờn thi Minh Mng ci cỏch hnh chớnh
ó chia lng Mó Chõu thnh bn thụn l Mó Chõu ụng, Mó Chõu Thnh, Mó
Chõu Tõy v Mó Chõu Thng thuc tng ụng An, huyn Duy Xuyờn. S
phõn chia a gii hnh chớnh õy vo thi Minh Mng ch yu da vo ngun
t liu hi c ca cỏc c gi trong lng do ngun t liu ch vit ca lng trc
cỏch mng thỏng 8 khụng cũn
6
.
ng Khỏnh a d chớ, mc huyn Duy Xuyờn, tnh Qung Nam v
1.3. Xã hội và con người.
Nguồn gốc cư dân tạo nên làng mạc xứ Quảng từ thế kỷ XV về sau,
ngoài một bộ phận cư dân Chăm lưu lại thì nguồn bổ xung chủ yếu là cư dân từ
nhiều làng quê khác nhau ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ di chuyển vào màđông đảo
nhất là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh. Các đợt di dân khá quy mô, có tổ chức thời
Lê, thời Chúa Nguyễn bao gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Dùở
giai tầng nào, họ vẫn mang theo trong mình những tập quán, nếp sống ở những
làng quê cũ. Họ cùng góp những vốn liếng riêng của mỗi làng quêđóđể xây
dựng lên một cấu trúc làng xóm, một nối làm ăn, một nền văn hoá cộng đồng
mới. Sự kế thừa, giao lưu và tiếp nhận các di sản văn hoá từ cộng đồng Chăm,
sự tổng hợp của sắc thái các làng quê xứ Bắc, Bắc Trung Bộ tạo nên diện mạo
của làng mạc xứ Quảng [21.128-129].
Cách thức bố trí của làng Mã Châu đại thể, giống các làng Việt ở châu
thổ Bắc Bộ nhưng thoáng hơn. Trong quá trình sinh sống cư dân Mã Châu đã tổ
chức thành 9 xóm theo khu vực cư trú là: tứ Phú (Phú Khương, Phú Thuận, Phú
Bình, Phú Hoà), tứ Bình (Bình Khương, Bình Thuận, Bình Yên, Bình Hoà) và
Hợp Thành. Các xóm xếp cạnh nhau thành những ô bàn cờ và tách nhau bằng
những lối đi tương đối thẳng. Mỗi xóm có một cuộc sống riêng của nó với một
sự cộng cảm riêng, kết tinh lại quanh việc thờ phụng ở miếu của mỗi xóm. Tên
xóm thể hiện ước vọng bình dị của những người dân làng Mã Châu phú yên, phú
thuận, bình khương, bình hoà vàởđây xóm đơn thuần chỉ là một đơn vị văn 21
hoá, một đơn vị tụ cư chứ không phải là một đơn vị hành chính hay đơn vị kinh
tế.
Bộ máy lý dịch thời Trung - Cận đại ở Mã Châu cũng tương đối giống
làng xãở Bắc Bộ với các chức danh:
- Lý trưởng: là người về nguyên tắc, được uỷ quyền và thay mặt dân
trong mưu sinh. Trong khi đó hành trang của họ vào vùng đất mới có lẽ không
có gì khác hơn là nghị lực cứng cỏi, tính cách ngang tàng và lòng tin vào sức
mình, tin vào tương lai. Hệ quả của nó là người dân ởđây dũng cảm và cần cù,
bản tính giản dị, thẳng thắn và tôn trọng sự thật. Họ là những người dân đi lập
nghiệp nên sống cởi mở và phóng khoáng hơn. Đại Nam nhất thống chíđã nhận
xét về cư dân vùng Quảng Nam: "Tục ưa xa xỉ, ít kiểm thúc, hát xướng không
tiếc của, ăn mặc tất lượt là, thêu dệt tinh khoé, sa trừu không kém gì Quảng
Đông"[19.399]. Và cư dân ở Duy Xuyên nhìn chung "Phong tục kiệm ước mà
quê mùa, ăn ở giản dịít văn háo. Còn như các lễ hôn, tang, tế, hội hè, yến ẩm
thì tuỳ nơi theo tục nhưng vẫn giữ lễý" và"khi gặp việc khánh hỷ thì những
người giàu có, phần nhiều hay thích hát xướng thờ thần"[5].
Là những con người ở những miền quê khác nhau, vìđiều kiện sinh tồn
nên họ phải tập hợp tại đây. Vì vậy họ luôn mang trong lòng tâm trạng hoài cổ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Bởi "người Việt thích sống trong một môi trường trong đó quan hệ máu
mủ, quan hệ xóm giềng được duy trì cho dùđiều này cản thở một phần quan hệ
công việc"[17.63]. Trong môi trường mới người dân ởđây lại càng đoàn kết gắn
bó với nhau hơn "nhân dân trong hạy, hễ khi gặp có lễ thờ thần, cúng phật hoặc
hôn tang bao giờ cũng theo sức mình mà làm, giúp đỡ lẫn nhau"[5]. 23
Mó Chõu trong bi cnh x Qung vi truyn thng "Ng phng t
phi"
8
vn t trc lt cú hc, lt cú l [22.38]. "Hc trũ chm hc hnh,
nụng phu chm ng rung, siờng sn xut mớt em cho; vui lm vic ngha,
st sng vic cụng"[19.339]. Mó Chõu t trc v cho n hin nay, vic hc
Riêng Phạm Thanh Nhã lại đỗ Phó bảng Khoa Tân Hợi thời Tự Đức thứ 4; giữ chức
Tri huyện Duy Xuyên, Huấn đạo Duy Xuyên, Tri huyện Hơng Trà, Giám sát ngự sử, Viên
ngoại lang bộ Lại. 24
Điện Bàn "ruộng đồng rộng rãi, các thứ lúa xanh tốt"[16.337]. Ởđây từ rất
sớm sử cũđã ghi lại lúa hai vụ, tằm tám lứa tơ một năm. Sách Thuỷ kinh chú
chép: "Ruộng gọi là "Bạch điền" (ruộng trắng) thì giống lúa trắng, tháng 7 đốt
rẫy thì tháng 10 có lúa chín; ruộng gọi là "Xích điền" (ruộng đỏ) thì giống lúa