Chơng mời bốn Châu Âu ch hầu nổi dậy chống Na-pô-lê-ông "Trận các quốc gia" "Đại đế quốc" bắt
đầu suy vong 1813
I
Thoạt tiên đi bằng xe trợt tuyết, rồi xe ngựa, Na-pô-lê-ông đã vợt qua Ba Lan, Đức và Pháp trong 12 ngày,
và sáng 18 tháng 12 năm 1812 thì về đến điện Tuy-lơ-ri. Biết đợc những sự nguy hiểm có thể xảy tới trong
những ngày khốn đốn này, Na-pô-lê-ông đi rất bí mật: ông không ngộ nhận những tình cảm chân thật của
ngời Đức đối với mình. Cô-lanh-cua, ngời đi theo Na-pô-lê-ông, có kể lại sự tuyệt đối bình tĩnh, lòng can
đảm, nghị lực và ý chí tiếp tục chiến đấu của Na-pô-lê-ông. Khi bàn về cuộc chiến tranh vừa kết thúc, ông
hoàng đế đã nói với Cô-lanh-cua rằng nếu nh ông ta đã phạm sai lầm thì không phải sai lầm về mục đích,
cũng nh về thời cơ chính trị của cuộc chiến tranh, mà sai lầm về phơng pháp chỉ đạo chiến tranh. Na-pô-lê-
ông cho rằng nếu cứ ở lại Vi-tép thì bây giờ A-lếch-xan đã phải quy hàng dới gối. Tóm lại, trong khi trao
đổi, Na-pô-lê-ông đã nói bằng giọng của một nhà quán quân chỉ trích những thiếu sót của mình sau một ván
cờ bị thua, trớc khi mở đầu một ván khác mà ông ta quyết thắng: không mảy may ghê sợ dĩ vãng, không hề
nghĩ đến sự giảm sút uy tín khuynh đảo cả thiên hạ của bản thân, cũng không hề có dấu hiệu suy sụp tinh
thần nh ngời ta đã luôn luôn thấy rất rõ ở Na-pô-lê-ông vào những 1810 - 1811, thời kỳ Na-pô-lê-ông đang
có đầy dẫy uy quyền và danh vọng. Về mặt ấy thì chiến tranh là thế giới, là sự sống của Na-pô-lê-ông, chả
thế mà khi chuẩn bị hoặc khi tiến hành chiến tranh, lúc nào Na-pô-lê-ông cũng làm cho ngời ngoài cảm
thấy ông là một ngời tràn trề sức sống, thở đầy lồng ngực, và, kể từ khi lên xe ngồi với Cô-lanh-cua,vấn đề
duy nhất mà Na-pô-lê-ông quan tâm lo lắng là cuộc chiến tranh là sự chuẩn bị về mặt ngoại giao và quân sự
cho cuộc chiến tranh đó. Có phải rằng rồi đây sẽ chỉ chiến đấu với riêng ngời Nga nh vừa qua không? Châu
Âu có nổi dậy không và nớc nào sẽ giơng ngọn cờ khởi nghĩa trớc tiên; liệu có thể (và bằng cách nào) ngừa
trớc đợc cuộc nổi dậy đó không? Phải mất bao nhiêu tháng mới tổ chức đợc một đạo quân mới?
Dọc đờng, Na-pô-lê-ông dừng lại ở Vác-sa-va và cho gọi giáo sĩ Prát, đại sứ Pháp ở triều đình vua xứ Xắc-
xơ; chính Prát cũng phải sững sờ kinh ngạc trớc sự bình tĩnh của Na-pô-lê-ông. Chính trong cuộc gặp gỡ
này, Na-pô-lê-ông đã nói những lời nổi tiếng sau đây: "Từ chỗ tuyệt vời đến chỗ lố bịch, chỉ có một bớc mà
thôi", và hậu thế sẽ phê phán điều đó. Nhng Na-pô-lê-ông đã nói thêm rằng, chẳng bao lâu nữa ông sẽ quay
lại sông Vi-xtuyn với một đạo quân 30 vạn ngời và quân Nga sẽ phải trả thắng lợi của họ bằng một giá đắt,
những thắng lợi không phải thuộc về bản thân họ, mà thuộc về thiên nhiên. Ai chẳng có lúc nếm mùi thất
bại! Đơng nhiên là cha có ai đã phải chịu đựng những thất bại tơng tự. Na-pô-lê-ông thú nhận nh vậy, song
bao giờ thất bại cũng tơng xứng với cảnh ngộ, hơn nữa, rồi đây những thất bại ấy sẽ đợc đền bù.
Nh trên đã nói, Na-pô-lê-ông về đến Pa-ri ngày 18 tháng 12, và ông nhận ngay ra là tinh thần dân chúng sụt
sức cố gắng để có thể của cả nớc Phổ nữa.
Mục tiêu thứ nhất đã đạt đợc dễ dàng, mau lẹ. Khi còn ở trên đất nớc Nga, Na-pô-lê-ông đã hạ lệnh cho gọi
trớc kỳ hạn lớp quân dịch năm 1813, và vào mùa xuân cùng năm đó việc huấn luyện tân binh căn bản cũng
đã hoàn thành. Ngời ta phải vất vả lắm mới gọi đợc 14 vạn tân binh. Ngay từ năm 1812, Na-pô-lê-ông đã
chỉ thị cho thành lập "những đoàn quân vệ quốc" để khi cần đến ông ta sẽ sáp nhập tất cả vào quân đội, coi
nh là làm theo nguyện vọng của họ, tuy rằng nhiệm vụ của đoàn vệ quốc đã đợc xác định rõ là giữ gìn an
ninh trong nội địa của đế chế. Việc ấy cũng đã đem lại cho Na-pô-lê-ông thêm 10 vạn ngời. Tháng 6 năm
1812, Na-pô-lê-ông để lại ở nớc Pháp và nớc Đức ch hầu 23 vạn 5 nghìn ngời, đó là lực lợng mà hiện Na-
pô-lê-ông có thể tin cậy đợc. Cuối cùng, còn lại vài nghìn ngời (sau này tính đúng thì vào khoảng 3 vạn ng-
ời) sống sót trong chiến dịch nớc Nga; thật ra, những quân đoàn đợc Na-pô-lê-ông tách ra cho về cánh bắc
(hớng Ri-ga và Pê-téc-bua) và cánh nam (Grốt-nô) bị thơng vong ít hơn rất nhiều so với những quân đoàn
đã chiến đấu ở Bô-rô-đi-nô, nhng sau này, trong hai tháng rút lui Mát-xcơ-va về sông Ni-ê-men, chúng đã
bị tan rã.
Nh vậy, ông hoàng đế đã có đủ lý do để hy vọng rằng vào mùa xuân năm 1813 sẽ có một đội quân từ 40
đến 45 vạn ngời, chứ không phải 30 vạn. Trong khi thừa nhận rằng con tính ấy có thể là quá lạc quan, Na-
pô-lê-ông cũng vẫn không hoài nghi gì về khả năng tập hợp một quân đội cực mạnh; trong một thời gian rất
ngắn cần phải tích cực xúc tiến việc cung cấp, tu bổ, bổ sung quân dụng, quân nhu, những xởng công binh,
pháo binh, nói tóm lại, tất cả các loại vật chất khí tài. Na-pô-lê-ông đã làm việc suốt ngày để tổ chức trang
bị và huấn luyện bộ đội.
Mùa xuân năm 1813, sau khi A-lếch-xan làm thinh trớc những ý kiến ngắn gọn mong muốn hòa bình của
Na-pô-lê-ông bộc lộ trong bài diễn văn đọc trớc Thợng nghị viện, hệt nh vào mùa thu năm 1812 đối với
những bức th chuyển qua tay Tu-ton-min, I-a-cốp-lép và Lô-rít-tông, thì giờ đây, Na-pô-lê-ông đã hoàn
toàn tin chắc rằng ông ta sẽ phải gặp quân Nga ở sông Vi-xtuyn và sẽ đánh cho nó tan tành. Na-pô-lê-ông
biết rõ rằng mùa đông năm 1812 đã làm cho Cu-tu-dốp thua thiệt nặng nề, mặc dù ông ta còn cha biết rằng
trong hai tháng trời truy kích từ Ta-ru-tơ-nô đến Ni-ê-men, Cu-tu-dốp đã mất hai phần ba số quân có lúc
đầu là 10 vạn, và hơn hai phần ba số pháo. Với tình hình đờng sá tồi tàn quá đỗi và bằng vào các phơng
pháp đợc dùng dới chế độ nông nô, Na-pô-lê-ông cho rằng Cu-tu-dốp không thể nhanh chóng lấp lỗ hổng
số quân có khả năng chiến đấu đã bị hao hụt và tổ chức lại pháo binh. Không nhắc lại những sai lầm của
cuộc xâm lợc, Na-pô-lê-ông yên lặng chờ đợi quân Nga trên sông Vi-xtuyn và Ni-ê-men để đánh bại ở đó.
Song một vấn đề đáng sợ khác đã tự đặt ra: quân Nga có đơn độc hay không? Từ tháng 12 năm 1812, tớng
Trớc tình hình nh vậy, ngày 19 tháng 1 năm 1813, Na-pô-lê-ông đã bất thần đến thăm ngời tù của mình.
Thực tế là cần phải thỏa hiệp bằng cách này hay cách khác với những ngời công giáo là những ngời đã
ngấm ngầm chống lại hoàng đế từ năm 1809. Nhng cuộc trao đổi hữu hảo giữa Na-pô-lê-ông và giáo hoàng
đã không đem lại kết quả cụ thể gì.
Na-pô-lê-ông ép Pi VII ký một bản điều ớc mới, nhng cũng không vì thế mà giao trả thành Rôm cho giáo
hoàng (về đại thể, bản điều ớc mới sao chép lại nội dung bản điều ớc năm 1802). Đối với Na-pô-lê-ông,
những sự nhợng bộ không có tác dụng gì hết: Na-pô-lê-ông không a và cũng không biết nhợng bộ. Những
trò dụ dỗ hèn kém của Na-pô-lê-ông đối với giáo hoàng vào tháng 1 năm 1813 đã chấm dứt khi Na-pô-lê-
ông bất thần cho bắt hồng y giáo chủ Pi-ê-tơ-rô và đa đi khỏi Phông-ten-nơ-blô,
1. Mét-te-ních không phải là bố công chúa ma-ri Lu-i-dơ, nhng ở đây tác giả gọi chung là bố vợ vì Mét-te-
ních là ngời đã đứng ra làm môi giới cho cuộc hôn nhân giữa Ma-ri Lu-i-dơ và Na-pô-lê-ông- N.D.
vì Na-pô-lê-ông đã nghe phong thanh thấy Pi-ê-tơ-rô khuyên giáo hoàng Pi VII đối địch lại Na-pô-lê-ông.
Nói về mu toan thỏa hiệp không thành đó với giáo hoàng, hoàng đế đã thốt ra một câu đáng chú ý: thực là
hiện nay phải bỏ thành Rôm... Điều ớc ấy còn phải xếp vào tủ và sẽ chỉ đợc lôi ra sau khi đã đại thắng ở
sông En-bơ hay ở sông Vi-xtuyn. Thật vậy, trong suốt năm 1813 ấy và những năm sau, Na-pô-lê-ông
không ngừng tìm cách phá hoại các cuộc thơng lợng với đối phơng và luôn luôn mong mỏi một chiến thắng
lớn. Vận may đã ủng hộ Na-pô-lê-ông quá lâu. So sánh toàn bộ cuộc đời Na-pô-lê-ông dới ánh sáng của tất
cả những sự nghiệp vĩ đại cha từng có mà Na-pô-lê-ông đã hoàn thành, kể từ việc hạ thành Tu-lông năm
1793 đến việc sáng lập cái đế quốc rộng lớn ấy và rồi Na-pô-lê-ông đã dắt dẫn các lực lợng của đế quốc đó
đến bên kia sông Ni-ê-men, thì dẫu sao cuộc chiến tranh năm 1812 cũng chỉ làm một chấm đen trên cả một
tấm thảm mênh mông đầy thằng lợi.
Nớc Phổ đã sẵn sàng phản lại: vua Phổ đòi Na-pô-lê-ông rút quân ra khỏi một số vị trí, đòi 94 triệu phrăng
dùng vào việc nuôi dỡng quân đội Pháp mà ngân khố của hoàng đế còn nợ lại, nhng đã bị từ chối. Nớc Anh
không thể thừa nhận sự xâm lợc nớc Tây Ban Nha của ngời Pháp, và Na-pô-lê-ông, ngày 14 tháng 2, khai
mạc khoá họp Hội đồng lập pháp, đã dứt khoát tuyên bố rằng: "Triều đại Pháp đang trị vì và sẽ trị vì Tây
Ban Nha". Vào tháng 3, Mét-te-ních đã tỏ ý muốn biết những điều kiện mà Na-pô-lê-ông sẽ ng thuận để ký
một hòa ớc chung, nhng đã không đợc trả lời một cách rõ ràng. Đối với tất cả các vấn đề này, thái dộ của
Na-pô-lê-ông cũng giống nh đối với giáo hoàng: một trận thắng lớn ở sông Vi-xtuyn hay ở sông Ni-ê-men
sẽ quyết định hết thảy. Trong bài diễn văn ngày 14 tháng 2, Na-pô-lê-ông bảo đảm rằng toàn bộ đất đai của
đế chế sẽ không thể đụng chạm đến đợc và đại công quốc Vác-sa-va sẽ vẫn tồn tại trong biên giới hiện nay.
miền tây-bắc nớc Đức và I-ly-ri. Còn ngoài ra, Na-pô-lê-ông sẽ giữ lại tất cả; nớc Bỉ, toàn bộ nớc ý, nớc Hà
Lan, vơng quốc Vét-xpha-li vẫn nằm trong đế quốc của Na-pô-lê-ông. Na-pô-lê-ông từ chối. Ông ta nói với
tớng Búp-na, sứ thần của triều đình Viên: "Tôi không cần sự điều đình bằng vũ lực của các ông, các ông
muốn đục nớc béo cò...". Bằng một giọng châm biếm, Na-pô-lê-ông còn nói thêm: "Không phải cứ đổ nớc
hoa ra là chiếm đợc đất". Thoạt tiên, ngời áo đòi Na-pô-lê-ông trả I-ly-ri, nhng rồi họ sẽ còn đòi cả Vê-nê-
xi, Mi-lan, Tô-xcan, thì ra họ bức Na-pô-lê-ông phải đánh nhau với họ đến nớc ấy. Chi bằng đánh nhau
ngay. Nếu họ muốn lấy lại các tỉnh từ tay Na-pô-lê-ông thì họ cần phải rút gơm ra khỏi vỏ, họ kết luận nh
vậy. Ông quyết tâm tiếp tục chiến đấu và chiến đấu mãi mãi, không nhợng bộ chút gì cả. Một phong trào
chống Na-pô- lên ở Hăm-bua. Hoàng đế phái Đa-vu đến đó để trừng phạt những thành phố đồng minh th-
ơng nghiệp ở miền tây-bắc nớc Đức về tội chống lại cảnh sát và nhân viên hải quan Pháp đã phá hoại việc
buôn bán của họ bằng sự thực hiện nghiêm ngặt cuộc phong tỏa lục địa. Na-pô-lê-ông ra lệnh cho Đa-vu
bắn một số nghị sĩ của tỉnh những ngời cầm đầu phong trào chống Pháp, một số sĩ quan, bắt 500 công dân
có uy tín nhất, có tiếng là có t tởng chống đối và tịch thu toàn bộ tài sản của họ.
Sau khi ra những lệnh trên xong, Na-pô-lê-ông rời Đre-xđen, dẫn đầu đội cận vệ, đuổi theo bộ đội đang tiến
về phía đông, theo hớng Bau-xen (trên sông Spơ-rê). Trên đờng từ Đre-xđen đến Bre-xlau, cùng đi với Na-
pô-lê-ông có bốn quân đoàn: của Nây, của Mác-mông, của U-đi-nô và của Bét-tơ-răng. Quân Liên minh thì
đặt dới quyền chỉ huy của Vít-ghen-stai, Bác-clây-đơ Tô-li, Mi-lô-ra-đô-vích và Bluy-khe. Trận Bau-xen
bắt đầu ngày 20 đến tối ngày 21 thì kết thúc. Na-pô-lê-ông điều quân đoàn của Nây đánh vòng lên phía bắc
cánh phải của đối phơng, nhng vì Napo không chú ý đến những lời chỉ bảo của tham mu trởng Giô-mi-ni
nên đến chiến trờng quá chậm. Quân Liên minh đã rút lui có trật tự.
Trận đánh cũng đẫm máu gần nh ở Lút-xen. Cả hai bên đều mất chừng 3 vạn ngời vừa chết và bị thơng.
Thắng lợi lại thuộc về phía Na-pô-lê-ông và Na-pô-lê-ông dự định đẩy lùi quân Nga và quân Phổ đang rút
lui, tiến thẳng đến Béc-lin. Quân liên minh vừa đánh vừa lùi làm chậm bớc cuộc truy kích. ngày 22 tháng 5,
Na-pô-lê-ông đã xông tới và đánh tan đội hậu vệ của quân Liên minh ở Gớc-lít-xơ. Tối đến, lúc trận đánh
sắp sửa kết thúc, trong khi đối phơng đang rút lui thì Duy-rốc tới trao đổi với Na-pô-lê-ông một lát, rồi vừa
bỏ đi vừa buồn bã nói với Cô-lanh-cua: "Ông bạn, ông có để ý thấy gì ở hoàng đế không? Hoàng đế vừa
mới giành đợc những thắng lợi sau nhiều trận thất bại và lẽ ra đây phải là lúc áp dụng những bài học rút ra
đợc trong thất bại ... Nhng ông thấy đấy, hoàng đế không thay đổi gì cả ... vẫn ham chiến ... Tất cả những
điều ấy sẽ chẳng đa đến kết quả tốt đẹp gì ". Và giờ chót của thống chế Đuy-rốc đến. Một mảnh đại bác bắn
vào cây gần chỗ Na-pô-lê-ông đứng đã bật vào Đuy-rốc. Đuy-rốc còn đủ sức chúc ông hoàng đế thắng lợi
đình chiến ấy là một tai họa ghê gớm nhất". Và, với sự châm biếm đúng đắn, Lơ-ven-xte đã thốt lên:"Ôi, trí
tuệ của con ngời!". Những ghi chép ấy của Lơ-ven-xte (Denkwurdigkeiten eines Livlanders), một ngời
Đức, là một trong những tài liệu quý báu và vô t nhất về lịch sử năm 1813, trong khi ấy thì nhiều tác giả
Pháp, Nga, áo và Thuỵ Điển, khi ghi chép về nó, đã vô tình hay hữu ý đa ra nhiều điều dối trá.
Thế là hiệp ớc đình chiến đã đợc ký kết, nhng Na-pô-lê-ông không tin rằng việc đó đem lại cho ông ta
những cơ hội chắc chắn để đi đến một nền hòa bình mà ông ta hằng mong mỏi, và ông ta đã kiên quyết
không ký một hiệp ớc đình chiến nào khác nữa.
Đợc tất cả hoặc mất hết: đó là khẩu hiệu của Na-pô-lê-ông khi khởi cuộc chiến lớn năm 1813, và Na-pô-lê-
ông đã theo đuổi cuộc chiến cũng với khẩu hiệu ấy. Ngay khi ở đảo Thánh bà Hê-lên, sau khi đã mất hết,
kể cả sự tự do của mình, ông hoàng đế cũng không bao giờ tỏ ý mảy may tiếc rằng mình đã phạm phải sai
lầm ấy, bởi đối với ông điều đó tuyệt nhiên không phải là một sai lầm. Ông nói một cách mỉa mai rằng mặc
dầu ông hoàn toàn thất bại, ông vẫn có thể chiến bại trở về và ngồi vững trên ngai vàng, nếu không phải là
chính ông thì là cháu đích tôn ông. Ông còn xác định nhiều lần rằng giữa ông và các vị vua chúa thừa kế
tọa hởng kỳ thành có sự khác nhau rất lớn.
Sau những khủng khiếp của chiến dịch Mát-xcơ-va làm cho hầu hết nhân dân Pháp chìm đắm trong đau
khổ, Pa-ri đã đón tiếp Na-pô-lê-ông bằng một sự khuất phục, hoàn toàn. Vậy thì một sự đón tiếp nh vậy ắt
cũng sẽ diễn ra nếu nh sau chiến dịch rực rỡ mùa xuân năm 1813, Na-pô-lê-ông trở về vẫn giữ đợc tất cả
những miền đất đai rộng lớn của mình (trừ xứ I-ly-ri vô tác dụng nằm xa lắc xa lơ tít trong vùng Ban-căng)
mà chỉ hy sinh mất có đại công quốc Vác-sa-va và Liên bang sông Ranh, nơi Na-pô-lê-ông không trực tiếp
trị vì, chỉ thông qua các ch hầu, và các nớc ấy cũng chẳng phải là thành viên hợp thành đế quốc của Na-pô-
lê-ông. Nhng Na-pô-lê-ông hiểu rằng những sự nhợng bộ ấy, sự từ bỏ ý đồ hoàn thành việc xây dựng một
đế quốc quy mô toàn thế giới sẽ có nghĩa là sự thắng lợi của nớc Anh về mặt kinh tế và chính trị. Nhiệm vụ
mà Na-pô-lê-ông từ đặt ra sẽ bị bỏ dở, nền thơng nghiệp và công nghiệp Pháp sẽ không chống chọi đợc với
thơng nghiệp và công nghiệp Anh, cuộc khủng hoảng năm 1811 sẽ trở thành một hiện tợng mãn tính, nạn
thất nghiệp cũng vậy, cuộc "cách mạng của những cái bụng rỗng". một cuộc cách mạng không sợ gì súng
đạn, sẽ "định c" ở các khu trung tâm thợ thuyền, ở thủ đô và ở các tỉnh; còn đối với giai cấp t sản mà Na-
pô-lê-ông là ngời cầm đầu đầy thế lực và trung thành trong cuộc đấu tranh kinh tế chống nớc Anh thì rồi
Na-pô-lê-ông cũng sẽ chỉ là con ngời vô dụng. Vì cái gì mà giai cấp t sản Pháp cứ phải tiếp tục chịu đựng
sự chuyên chế cha từng thấy của Na-pô-lê-ông ? Và trị vì theo kiểu khác thì Na-pô-lê-ông không muốn mà
bản chất Na-pô-lê-ông cũng không cho phép. Những cái đó đã thúc đẩy Na-pô-lê-ông phái Đa-vu đến