chơng mời ba.
Cuộc xâm lợc nớc nga của Na-pô-lê-ông 1812
I
Khi bắt đầu bất cứ một trận nào trong những cuộc chiến tranh liên miên của mình, Na-pô-lê-ông cũng luôn
luôn chú ý tới hai vấn đề chính yếu: một là con ngời của viên tớng tổng t lệnh đối phơng và hai là tình hình
chung bộ máy chỉ huy của đối phơng. Viên tớng tổng t lệnh ấy có mạnh không? Có đợc hành động tự do
tuyệt đối không? Trớc hết Na-pô-lê-ông quan tâm đến hai vấn đề có tầm quan trọng cơ bản ấy.
Trong trờng hợp đặc biệt, hình nh Na-pô-lê-ông có thể trả lời hai vấn đề ấy một cách đầy đủ nhất. Ngời
Nga chỉ có một viên tớng giỏi, xứng đáng, là Ba-gra-chi-on nhng Ba-gra-chi-on lại bị đặt vào địa vị thứ
yếu. Còn Ben-nít-xen thì kém xa Ba-gra-chi-on, bị Na-pô-lê-ông gọi là "một kẻ bất lực" đã bị đánh bại tan
tành ở Phrít-lan nhng Ben-nít-xen không phải là con ngời kém ngoan cờng và cả quyết, và đã tỏ ra cơng
nghị, không phải bằng việc bóp chết hoàng đế Pôn năm xa, mà bằng sự chống cự phi thờng của ông ta suốt
trong một ngày huyết chiến ở Ai-lau, nhng Ben-nít-xen cũng chỉ ở vào địa vị thứ yếu. Còn Cu-tu-dốp? Tuy
Na-pô-lê-ông đã đánh bại đợc Cu-tu-dốp ở Au-xtéc-lít, song cha bao giờ ông dám khinh Cu-tu-dốp, mà trái
lại, còn nhận định Cu-tu-dốp là viên tớng mu trí và khôn ngoan. Nhng Cu-tu-dốp không cầm quân nữa. Còn
đối với Bác-clây dơ Tô-ly, tổng t lệnh kiêm thợng th Bộ chiến tranh, thì Na-pô-lê-ông thiếu tài liệu để đánh
giá, nhng cũng có thiên hớng đánh giá viên tớng này không vợt trình độ thông thờng của các tớng lĩnh Nga
là mấy, mà theo Na-pô-lê-ông thì trình độ ấy chẳng cao gì lắm. Về vấn đề thứ hai thì có thể có một câu trả
lời còn lạc quan hơn: sự thống nhất chỉ huy trong quân đội Nga hoàn toàn không có, và tổ chức bộ máy chỉ
huy thì không đáng bình luận đến. Thật ra cũng không thể khác thế đợc, vì A-lếch-xan ở trong quân đội và
đã can thiệp vào mọi ý định tổ chức của Bác-clây. Trên đờng hành quân đến sông Vin-na, Na-pô-lê-ông đã
biết đầy đủ tình hình trên, cho nên ngay ở Vin-na Na-pô-lê-ông đã mỉa mai lu ý Ba-la-sốp, tớng hậu cần mà
A-lếch-xan cử đến lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng để đề nghị ký hòa ớc với Na-pô-lê-ông, rằng : "Tất
cả bọn họ làm gì chứ? Trong khi Phun đề nghị thì ác-phen phản đối, Ben-nít-xen nghiên cứu thì Bác-clây là
ngời có trách nhiệm quyết định lại không biết nên quyết định thế nào và thời gian trôi đi chẳng làm đợc gì
cả!".
Đoạn tờng thuật ấy của Ba-la-sốp về cuộc hội đàm với Na-pô-lê-ông đáng cho ta tin cậy hoàn toàn vì có
nhiều bằng chứng khác xác minh thêm, nói chung, bản báo cáo của tớng Ba-la-sốp, thợng th Bộ công an
Nga, ngời mà A-lếch-xan đã phái đến để đề nghị ký hòa ớc với Na-pô-lê-ông ngay khi vừa đợc tin quân
Pháp vợt qua sông Ni-ê-men - bản báo cáo đã đợc Chi-e sao lục trong bản thảo tập XIV cuốn Lịch sử chế
độ tổng tài và đế chế và đợc sao gần nh nguyên văn trong một chơng hay nổi tiếng của cuốn Chiến tranh và
ngoại giao tiến hành bằng một vài "hành động quân sự", và sau đó, cuối cùng là đi đến một thỏa thuận
chung. Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm ấy chính là do sự dốt nát và không am hiểu một chút gì về
dân tộc Nga của Na-pô-lê-ông. Không phải chỉ riêng Na-pô-lê-ông, mà cả ở châu Âu cũng tuyệt nhiên
không có một ai có thể dự đoán trớc đợc mức độ anh dũng của dân tộc Nga khi phải đứng lên bảo vệ Tổ
quốc chống lại cuộc xâm lăng hỗn xợc và hoàn toàn không có duyên cớ. Không một ai đoán trớc đợc nông
dân Nga sẽ biến tất cả những trung tâm của đất nớc họ thành một xa mạc mênh mông trơ trụi bể lửa và
không chịu khuất phục kẻ xâm lợc bằng bất cứ một giá nào. Na-pô-lê-ông biết những điều đó quá chậm.
Những khó khăn của chiến dịch này ngày càng bộc lộ rõ thì quan niệm trớc đây của Na-pô-lê-ông về cuộc
chiến tranh này ngày càng mờ nhạt trong t tởng ông ta và đợc mau chóng thay thế bằng một quan niệm
khác. Mặc dầu Na-pô-lê-ông có dới trớng 42 vạn quân, mà nớc Nga chỉ không có đến 22 vạn rởi quân, nh-
ng ông ta biết rằng chất lợng quân sĩ của mình không đồng đều. Ông biết mình chỉ có thể trông cậy vào các
đơn vị lính Pháp (lúc ấy đại quân có tất cả 35 vạn 5 nghìn ngời thuộc đế quốc Pháp, nhng rất nhiều ngời
không phải ngời Pháp) mà cũng không thể hoàn toàn trông cậy vào đợc vì, số tân binh không thể nào so
sánh đợc với số cựu binh đã từng tham gia nhiều chiến dịch của Na-pô-lê-ông. Còn đối với những ngời xứ
Vét-xpha-li, Xắc-xơ, Ba-vi-e, Rê-nan-ni, những ngời sinh trởng ở các thành phố đồng minh thơng nghiệp ở
miền tây - bắc nớc Đức, ngời ý, ngời Bỉ, ngời Hà Lan, thì cố nhiên là không thể trông mong nhiều vào tinh
thần chiến đấu hăng hái đặc biệt của họ đợc, cha nói đến những "bạn đồng minh" bắt buộc là ngời áo và ng-
ời Phổ mà Na-pô-lê-ông đã đem theo và đa họ đi chết trên đất Nga không biết vì mục đích gì và phần lớn
họ không căm thù ngời Nga, mà lại căm ghét Na-pô-lê-ông. Hiểu biết tờng tận về lịch sử chiến tranh, Na-
pô-lê-ông nhớ lại rằng vô số những ngời con của các dân tộc bị các vua chúa Ba T chinh phục, mà Xéc-xe
đã tuyển mộ vào quân ngũ, đã chiến đấu không hăng hái lắm với quân Hy Lạp. Na-pô-lê-ông trông cậy hơn
đôi chút vào quân Ba Lan vì họ đấu tranh cho chính lợi ích của họ. Nhng lại ở đây nữa, nh trên đã nói, Na-
pô-lê-ông đang chờ đợi một sự giúp đỡ đáng kể hơn (về phơng diện quân số đơn thuần).
Na-pô-lê-ông biết rõ tình trạng rối loạn ở trong bộ tham mu Nga, và, khi đó ở Vin-na, Na-pô-lê-ông nhận đ-
ợc tin báo rằng kế hoạch đầu tiên của Nga định chống cự trên sông Đơ-vi-na trong yếu điểm Đrít-xa đã
phải bỏ, vì Bác-clây sợ bị bao vây và sẽ không thể tránh khỏi phải đầu hàng, và cũng đợc tin rằng quân đội
Nga chia làm hai cánh rút sâu vào trong nội địa. Cánh quân Bác-Clây rút theo hớng Vi-tép, đi nhanh hơn
cánh quân của Ba-gra-chi-on rút về Min-xcơ. Na-pô-lê-ông đem đại bộ phận binh lực tiến đánh Bác-Clây.
Nhng Bác-Clây đã tăng tốc độ hành quân và ra lệnh cho tớng chỉ huy quân hậu vệ, ốt-ste-man Tôn-xtôi, ít
ra cũng phải làm cho cuộc tiến quân của quân Pháp bị chậm lại. ốt-ste-man chấp hành lệnh đó bằng cách
ép-xki đã chiến đấu quyết liệt đến nỗi Nây suýt bị bắt làm tù binh. Ba-gra-chi-on khẩn khoản đề nghị không
bỏ Xmô-len nếu không giao chiến một trận lớn. Song "trận đánh lớn" đó lại không diễn ra. Quân chủ lực
Nga, sau khi nhanh chóng vận động qua Xmô-len, đã rút lui về phía đông. Nhng dẫu sao Bác-clây cũng
không thể quyết định bỏ thành phố cho quân địch mà không đánh một trận nào, mặc dầu ông ta cho là vô
ích. Hồi sáu giờ sáng ngày 16 tháng 8, Na-pô-lê-ông hạ lệnh bắt đầu ào ạt pháo kích và xung phong vào
Xmô-len, nhiều trận chiến đấu ác liệt đã nổ ra và kéo dài đến sáu giờ tôí. Quân Pháp đã chiếm dợc nhữnh
vùng ngoại ô Xmô-len, nhng không làm chủ đợc khu trung tâm. Quân đoàn của Đốc-tu-rốp, cùng giữ thành
phố với s đoàn của Cô-nốp-kít-xin, và của hoàng thân Vua-tem-be đã chiến đấu với tinh thần dũng cảm và
ngoan cờng đến nỗi quân Pháp phải ngạc nhiên. Đến tối, Na-pô-lê-ông cho triệu thống chế Đa-vu đến và c-
ơng quyết hạ lệnh ngày mai nhất thiết phải chiếm bằng đợc Xmô-len. Vì biết rằng cuối cùng Bác-clây và
Ba-gra-chi-on đã hội s đợc với nhau và nh vậy là coi nh toàn bộ quân đội Nga sẽ tham chiến, nên lúc ấy
Na-pô-lê-ông tin tởng chắc chắn rằng trận Xmô-len ngày mai sẽ là trận quyết định, vì cho đến tận bây giờ
quân Nga vẫn không chịu tiếp chiến, cứ nộp cho Na-pô-lê-ông những vùng đất đai rộng lớn của đế quốc họ
mà không hề chống cự. Ngày 17 tháng 8, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Quân Nga đánh lại rất anh dũng.
Binh lính không muốn thi hành lệnh rút lui, nên ngời ta phải dùng đến những lời khẩn khoản và đe dọa để
buộc họ rút lui 1.
1. Về cuộc kháng chiến anh hùng của ngời Nga, tôi đã viết một tác phẩm riêng, nhan đề Cuộc Xâm lợc nớc
Nga của Na-pô-lê-ông M.1938 (chú thích của tác giả).
Qua ngày đẫm máu ấy, đêm đến, theo đúng lệnh của Na-pô-lê-ông, cuộc pháo kích thành phố vẫn tiếp tục.
Đột nhiên, vang dội liên tiếp giữa bóng tối đặc sệt những tiếng nổ khủng khiếp làm rung chuyển mặt đất;
lửa nhen lên rồi tràn khắp thành phố. Quân Nga đã đốt phá kho súng đạn và thiêu hủy thành phó; Bác-clây
ra lệnh đánh rút lui. Đến mờ sáng, các trinh sát viên báo cáo là thành phố hoang trống, và thống chế Đa-vu
đã yên ổn vào Xmô-len.
Phố xá ngổn ngang xác ngời ngựa. Một góc thành phố vẫn còn bốc cháy và khắp nơi đều vang tiếng rên rỉ
kêu la của hàng nghìn ngời bị thơng nằm đợi chết. Na-pô-lê-ông cùng với đoàn hộ giá thong thả đi trên
khắp phố phờng Xmô-len, vừa quan sát những cảnh tợng đang diễn ra ở xung quanh, vừa ra lệnh dập tắt
các đám cháy, thu nhặt các xác chết đang bắt đầu thối nát và những ngời bị thơng, kiểm kê lơng thực thu
nhặt đợc ở trong thành phố. Những ngời đã đợc chứng kiến có kể lại rằng lúc ấy Na-pô-lê-ông phiền muộn
và không trò chuyện với một ai trong đám tuỳ tùng. Sau cuộc cỡi ngựa đi dạo quanh ấy, bớc vào một ngôi
nhà sửa soạn gấp gáp cho mình tạm trú, ông hoàng đế ném thanh gơm lên một chiếc bàn và nói: "Chiến
hoàng thân Ba-gra-chi-on và trên họ là A-lếch-xan, ai nấy đều thấy cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến
đấu sống mái. Trong suốt thời gian ở Xmô-len, Na-pô-lê-ông chìm đắm trong những sự suy tởng dài dặc và
thầm lặng. Không điều động ngay tất cả các lực lợng hiện đang nghỉ ngơi ở Xmô-len , hoàng đế phái Muy-
ra cùng với các quân đoàn kỵ binh của Muy-ra truy kích Bác-clây vừa mới lên nắm quyền tổng t lệnh quân
đội Nga (sau khi hai cánh quân hội s đợc với nhau, Ba-gra-chi-on làm phụ tá) hiện đang rút lui theo đờng đi
Mát-xcơ-va. Rồi đến Nây và Đa-vu cùng lên đờng hành quân. Đến ngày 18 và 19 tháng 8, đã diễn ra những
trận giao chiến ở Va-lu-ti-na Gô-ra và ở Lu-banh; do Giuy-nô bất tài khi thực hiện hành động nghi binh để
xông đến sờn của quân đội Bác-clây nên sau những trận ấy, Bác-clây vẫn tiếp tục rút lui về phía đông;
những cuộc giao chiến ấy đã làm Bác-clây thiệt 7 nghìn ngời, ít hơn quân Pháp.
Trong đêm 24 tháng 8, Na-pô-lê-ông rời Xmô-len cùng với đội cận vệ tiến lên Đô-rô-gô-bu-giê. Nhng Bác-
clây lại đã di chuyển về phía đông, và khi rút khỏi Đô-rô-gô-bu-giê , Bác-clây cũng không bố trí quân cản
hậu vì địa hình rất bất lợi. Ông ta rút theo đờng Vi-át-ma, Gơ-giát, Xa-re-vô Dai-mít-sê và bị Na-pô-lê-ông
cùng với toàn bộ lực lợng của ông ta đuổi bám sát gót trên con đờng đã bị quân Nga phá hoại.
Mỗi lần quân Nga dừng lại, dù rằng chỉ chốc lát, là Na-pô-lê-ông lại hy vọng có một trận tổng công kích ...
ở Đô-rô-gô-bu-giê, ở Vi-át-ma, ở Gơ-giát cũng vậy. ở đại bản doanh của Ba-gra-chi-on tại Pê-tec-bua, ngời
ta viết một cách độc ác rằng: "Ông thợng th (Bác-clây) dẫn vị khách của mình thẳng đến Mát-xcơ-va".
Mối sợ hãi, một mối sợ hãi không thể xua đuổi đi đợc và ngày càng tăng, đã xâm chiếm dần dần tâm hồn
của một số giới thợng lu của xã hội Nga. Thế là hoàn toàn thất bại rồi chăng? Cứ thế này nộp nớc Nga cho
kẻ xâm lợc, không kháng cự gì chăng? Tại sao ở Xmô-len ngời ta không chiến đấu đến cùng? Tại sao ngời
ta đánh rút lui? có phải tên Bác-clây ngời Đức kia phản bội không?
Chính bản thân A-lếch-xan đã cố hết sức phá hoại uy tín của Bác-clây. Chính bản thân A-lếch-xan, với vẻ
khoái trá lộ rõ, đã nhại lại cho tớng Uyn-xơn, phái viên của chính phủ Anh, nghe lời của Pla-tốp - thủ lĩnh
dân tộc Cô-dắc - nói với Bác-clây sau khi rút lui khỏi Xmô-len: "Ông xem, tôi đang mặc quần áo thờng dân
rồi đây. Và, sau một sự nhục nhã nh vậy, tôi sẽ chẳng mặc lại binh phục Nga nữa đâu"1.
1. Uyn-xơn, Những sự kiện trong cuộc xâm lợc nớc Nga, Luân Đôn, 1860, tr.115.
A-lếch-xan sống những ngày khổ sở nhất trong đời ông ta. Triều thần hốt hoảng. Sự khiếp sợ ngày càng
tăng. Đủ mọi thứ chuyện đồn đại về Nga hoàng và Na-pô-lê-ông lu hành trong giai cấp tiểu t sản và nông
dân. Từ lâu, ngời ta không hiểu Na-pô-lê-ông là ngời thế nào. Cho đến tháng 6 năm 1807, trên tòa giảng,
ngời ta đã bài xích Na-pô-lê-ông là tiền thân của Ma vơng phản Chúa; hơn thế nữa, trong khi trò chuyện
với nhau, ngời ta đã thừa nhận Na-pô-lê-ông là hiện thân của Ma vơng phản Chúa, là kẻ diệt trừ đức tin,
ông việc thay thế Bác-clây mà Na-pô-lê-ông đựơc tức khắc biết tin do tình báo là dấu hiệu chứng tỏ rằng
cuối cùng quân Nga đã sẵn sàng đánh trận tổng công kích ấy.
Sáng sớm ngày 4 tháng 9, Na-pô-lê-ông ra lệnh cho Muy-ra và Nây tiến từ Gơ-giát đến Grít-vê-nô. Quân
Nga đã rút lui chậm dần rồi dừng lại, đội hậu vệ dựa vào các công sự. Công sự lẻ loi nhất, đối diện với quân
Pháp đang tiến đến là cái đồn lẻ do quân Nga xây dựng ở làng Sê-vác-đi-nô nhỏ bé. Na-pô-lê-ông đến Grít-
vê-nô cùng với đội cận vệ, bắt tay ngay vào việc trinh sát cánh đồng trải dài trớc mặt họ, nơi quân Nga đã
cắm quân lại. Ngời ta báo cáo với Na-pô-lê-ông rằng cứ điểm lẻ Sê-vác-đi-nô do những lực lợng lớn phòng
giữ. Nhìn qua ống nhòm, ngời ta thấy những vị trí của quân đội Nga ở tít xa bên kia lòng suối khô cạn của
con suối nhỏ Cô-lốt-sa. Tối ngày 4 tháng 9, trinh sát báo cáo về đại bản doanh của hoàng đế rằng quân Nga
đã cắm đồn từ hai ngày nay và ở gần một làng nhỏ xa xôi, quân Nga cũng đã đào đắp công sự. Khi ngời ta
hỏi tên làng ấy, họ trả lời đó là làng "Bô-rô-đi-nô". III
Đã bao nhiêu lần, trận Bô-ri-đi-nô từng hấp dẫn sự chú ý của các nhà viết sử, các chuyên gia và nghệ thuật
quân sự, các nhà đại văn hào và các nhà danh hoạ. Song, số phận đế quốc Na-pô-lê-ông không phải đã đợc
quyết định trên cánh đồng Bô-ri-đi-nô mà là suốt cả trong quá trình cái chiến dịch nớc Nga này: Bô-ri-đi-nô
chẳng qua chỉ là một cảnh của tấn bi kịch, cha phải là cả tấn bi kịch. Ngay cả bản thân chiến dịch nớc Nga
cũng cha phải là đoạn trót, mới chỉ là phần mở đầu của đoạn chót còn rất lâu mới hạ màn.
Song, tâm tởng của những ngời đơng thời và của đời sau vẫn cứ bị mê say bởi những cánh đồng Bô-ri-đi-
nô nhổn ngang hàng ngàn xác chết bỏ trơ hàng tháng trời.
Giờ phút chờ đợi, mong mỏi bồn chồn đã đến, giờ phút mà Na-pô-lê-ông không ngừng mơ tởng từ khi còn
ở Đre-xđen, thoạt tiên là ở trên sông Ni-ê-men rồi ở Vin-na, ở Vi-tép, ở Xmô-len, ở Vi-át-ma, ở Gơ-giát.
Khi tiến gần đến những nơi đã dành sẵn làm vũ đài cho một trong những cuộc chém giết kinh khủng nhất
từ xa xa đến nay cha từng thấy trong lịch sử, Na-pô-lê-ông chỉ còn chừng một phần ba số quân so với khi
mới đặt chân lên đất Nga.
Bệnh tật và những nỗi gian truân của chiến dịch; nạn đào ngũ; nạn trộm cắp; sự bức thiết phải tăng cờng
các cánh sờn và các hậu phơng xa xôi hớng về Ri-ga và Pê-téc-bua, và về phía nam để nhằm chống lại các
lực lợng từ Thổ Nhĩ Kỳ sang; sự bức thiết phải có quân bảo vệ ngày càng nghiêm ngặt hệ thống giao thông
rộng lớn từ sông Ni-ê-men đến Sê-vác-đi-nô đã là những yếu tố làm cho quân số của đại quân sụt hẳn đi rất
nhiều. Khi tiếp cận cứ điểm Sê-vát-đi-nô, Na-pô-lê-ông có 13 vạn rởi quân và 587 khẩu pháo. Lực lợng
Nga có 10 vạn 3 nghìn quân chính quy và 640 khẩu pháo, cộng thêm 7 nghìn quân Cô-dắc và khoảng 1 vạn
dân quân tổng động viên. Chất lợng pháo binh Nga không thua kém gì pháo binh của quân Pháp, và số lợng
đều đặt ra câu hỏi: Cu-tu-dốp nhổ trại rồi chăng? Nhng không hề động tĩnh: quân Nga vẫn ở nguyên vị trí.
Dù bị cảm lạnh trong suốt cả cái ngày tất bật ấy, Na-pô-lê-ông vẫn tỏ ra không có vẻ gì mệt nhọc.
Đêm xuống. Binh lính đi ngủ sớm, vì biết rằng ngày mai trận đánh sẽ bắt đầu vào lúc tảng sáng. Na-pô-lê-
ông hầu nh không ngủ đợc, mặc dầu suốt ngày hôm ấy tinh thần và thể xác bị căng thẳng. Ông ta đã khéo
che giấu sự bối rối nhng không đạt kết quả lắm, ít ra thì cũng là lần này các sĩ quan hầu cận đã thấy rõ ràng
ông ta không nghe thấy gì khi họ nói với ông ta. Chốc chốc, Na-pô-lê-ông lại chạy ra khỏi lều để nhìn xem
lửa có còn bốc cháy bên trận quân Nga không. Mặt trời vừa hé, Na-pô-lê-ông đã hạ lệnh công kích, và theo
đúng kế hoạch bố trí của hoàng đế, phó vơng nớc ý là ơ-gien đơ Bô-hác-ne dẫn đầu quân đoàn của mình
xung phong vào làng Bô-ri-đi-nô, bên cánh trái. Đa-vu, Nây, Muy-ra cũng lần lợt động binh để đánh chiếm
các tháp canh do Ba-gra-chi-on xây dựng ở trung tâm làng Xê-mê-nốp-xcô-e. Từ cả hai phía, pháo binh bắn
nh sấm, không ngừng không dứt, đinh tai nhức óc, ngay cả những ngời đã từng ở Ai-lau và ở Va-gram cũng
cha bao giờ nghe thấy nh vậy.
Theo lời những ngời đợc chứng kiến thì suốt ngày tháng 9 dài dặc còn ấm áp ấy, trong tâm hồn Na-pô-lê-
ông đã lần lợt diễn ra hai trạng thái. Lúc bình mình, khi mặt trời chỉ mới bắt đầu ló ra khỏi chân trời, Na-
pô-lê-ông đã vui vẻ nói" "Đó là mặt trời Au-xtéc-lít". Và tâm trạng này đã kéo dài trong cả buổi sáng. Hình
nh quân đội của Na-pô-lê-ông bắt đầu đánh bật dần dần và đánh bật hẳn quân Nga ra khỏi các vị trí. Nhng
ngay trong đợt xung phong đầu tiên và mạnh mẽ ấy của quân Pháp vào Sê-vát-đi-nô, nhiều báo cáo khá
nguy cấp xen kẽ với những tin thắng lợi đáng mừng đã bắt đầu bay tới đại bản doanh, nơi mà hoàng đế
đang quan sát cuộc chiến đấu. Và những giờ đầu buổi sáng, hoàng đế đợc tin một trong số những viên tớng
giỏi nhất của mình là Plô-don, chỉ huy trung đoàn tác chiến thứ 106, đã vào đợc Bô-ri-đi-nô và đánh bật đ-
ợc quân Nga ra, nhng sau đó đã bị quân Nga tiêu diệt một phần trung đoàn, giết chết Plô-don và một số lớn
sĩ quan. Tiếp viện đợc điều đến ngay và quân Pháp vẫn làm chủ đợc Bô-ri-đi-nô. Nhng những hoàn cảnh đa
đến cái chết của Plô-đon đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu quyết liệt của quân Nga ngày đó. Rồi một sĩ quan
hầu cận chạy tới báo cáo là cuộc tiến công của thống chế Đa-vu đang tiến triển thuận lợi, nhng sau đó một
sĩ quan khác bất chợt đến báo cáo rằng s đoàn Côm-păng, đơn vị khá nhất của quân đoàn Đa-vu đang bị
một làn hỏa pháo ác liệt bao vây, Côm-păng bị thơng, các sĩ quan bị chết, thống chế Đa-vu đến tiếp viện c-
ớp đợc các khẩu pháo của quân Nga đã bắn vào Côm-păng, và cũng nh hai ngày trớc đây ở Sê-vát-đi-nô,
các pháo thủ Nga đã chiến đấu đến phút cuối cùng tới khi bị chém chết ngay bên khẩu pháo của mình, ngựa
của Đa-vu đang cỡi đã bị một viên đạn Nga giết chết, và thống chế bị trong thơng ngất đi bất tỉnh.
Hoàng đế cha kịp nghe hết báo cáo và cũng cha kịp ra lệnh mới thì ngời ta lại báo cáo tin thống chế Nây,
Cho đến lúc cuối đời họ, các thống chế đã dự trận ngày hôm ấy vẫn còn khâm phục tinh thần chiến đấu của
binh sĩ Nga ở công sự Xê-mê-nốp-xcô-e. Quân Pháp cũng không kém phần anh dũng. Chính ở đấy đã vang
lên tiếng "Khá lắm! Khá lắm!" do Ba-gra-chi-on thốt ra trớc khi chết để khen ngợi bộ binh Pháp đang xung
phong chiến đấu bằng lỡi lê, không nổ một tiếng súng dới làn ma đạn. Vài phút sau, hoàng thân Ba-gra-chi-
on, mà Na-pô-lê-ông cho là ngời tớng giỏi nhất của quân Nga, bị tử thơng và đợc đa ra khỏi chiến trờng
Bô-ri-đi-nô qua những làn đạn dày đặc.
Lúc ấy đang giữa tra. Tâm thần Na-pô-lê-ông bỗng có sự thay đổi nhanh chóng và quyết định. Sự thay đổi
ấy không phải do cảm lạnh nh các nhà chép tiểu sử Na-pô-lê-ông đã từng nhắc đi nhắc lại, mà thực tế là do:
đứng trớc việc Nây và Muy-ra khẩn khoản xin viện binh, rốt cuộc đã xin cho đội cận vệ đi cứu ứng, thì Na-
pô-lê-ông thấy không thể làm nh vậy đợc, không phải chỉ vì Na-pô-lê-ông không muốn làm cho đội cận vệ
của mình hao tổn ở nơi cách xa nớc Pháp hàng ngàn ki-lô-mét, nh lúc ấy Na-pô-lê-ông đã nói, mà còn vì
một nguyên nhân khác nữa trực tiếp hơn nhiều: kỵ binh Nga, trong số đó có quân Cô-dắc của U-ra-nốp và
của Pla-tốp, đã thình lình tập kích vào những phân đội vận tải và s đoàn vừa tham gia trận đánh chiếm Bô-
ri-đi Cuộc tập kích bị đánh lui, nhng hành động ấy đã quyết định việc không thể đa tất cả đội cận vệ tham
chiến, bởi vì quân Pháp thấy rằng ngay ở hậu phơng rất xa của họ, họ cũng không còn đợc an toàn nữa.
Vào ba giờ chiều, Na-pô-lê-ông hạ lệnh mở một cuộc tiến công mới vào trận địa pháo của Rai-ép-xki. Cứ
điểm ấy đã bị chiếm sau nhiều đợt xung phong ác liệt. Na-pô-lê-ông tài giỏi hơn các thống chế của ông
trong việc cân nhắc và đánh giá những tổn thất ghê gớm ở khắp các nơi báo cáo về.
Khi trời sắp tối thì hoàng đế nhận đợc nhiều tin quan trọng: Ba-gra-chi-on bị tử thơng, cả hai anh em Tu-
xcốp đều bị chết, quân đoàn Rai-ép-xki bị tiêu diệt gần hết, cuối cùng quân Nga vừa rút khỏi Xê-mê-nốp-
xcô-e vừa tiếp tục kháng cự một cách vô vọng. Na-pô-lê-ông tiến về hớng Xê-mê-nốp-xcô-e. Bất cứ ai lúc
đó đã đến gần và nói chuyện với Na-pô-lê-ông đều nhất trí rằng họ không còn nhận ra hoàng đế nữa: Na-
pô-lê-ông im lặng nhìn xác ngời, ngựa chất thành núi, không buồn trả lời những câu hỏi cấp thiết mà ngoài
Na-pô-lê-ông ra không còn ai có thể trả lời đợc. Lần đầu tiên ngời ta thấy Na-pô-lê-ông chìm đắm trong
một thứ lạnh lùng rầu rĩ và hình nh đang do dự.
Trời đã tối hẳn, 300 khẩu pháo của quân Pháp bắn vào quân Nga đang rút lui từ từ và trật tự. Nhng cuộc
pháo kích ấy không gây đợc kết quả nh ngời ta mong muốn: binh lính có ngã xuống nhng không một ai
chạy trốn. Trớc tình hình ấy, Na-pô-lê-ông đã phải hạ lệnh tăng cờng hỏa lực: "Chúng nó còn muốn nữa thì
cho chúng nó nữa đi!". Quân Nga vừa rút lui vừa bắn trả lại. Đó là tình hình hai bên khi đêm đến.