Một số vấn đề về lữ hành du lịch và tình hình kinh doanh lữ hành quốc tế ở Công ty Du lịch Việt nam - Hà nội - Pdf 86

LỜI NÓI ĐẦU
Trong hoạt động kinh doanh du lịch thì hoạt động lữ hành, đặc biệt
kinh doanh lữ hành quốc tế là hết sức quan trọng. Trong những năm qua do
chính sách mở cửa nền kinh tế cùng với những chính sách, biện pháp của
Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên đã tạo điều kiện phát
triển du lịch lữ hành quốc tế góp phần làm tăng lượng khách quốc tế vào
Việt nam và lượng khách Việt nam đi du lịch ở nước ngoài. Tuy nhiên,
lượng khách quốc tế đến Việt nam còn quá thấp so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới. Sự kém phát triển này là do sản phẩm du lịch của
chúng ta còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn du khách, các Công ty lữ hành quốc
tế còn yếu về kinh nghiệm quản lý, chưa xây dựng được sản phẩm đặc
trưng, các chương trình du lịch chưa đa dạng phong phú; đồng thời chưa
đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường và tổ chức quảng cáo khuếch
trương sản phẩm. Tình hình đó đã đặt ra cho các Công ty lữ hành quốc tế
Việt nam một loạt vấn đề cần giải quyết cho sự tồn tại và phát triển của
chính bản thân mình.
Sau thời gian thực tập và tìm hiểu tại Công ty Du lịch Việt nam - Hà
nội, xuất phát từ những suy nghĩ và bằng kiến thức thu được trong quá trình
học tập và thực tế hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế ở Công ty Du lịch
Việt nam - Hà nội, em đã chọn đề tài "Một số vấn đề về lữ hành du lịch và
tình hình kinh doanh lữ hành quốc tế ở Công ty Du lịch Việt nam - Hà
nội" làm chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cầu thành hai
chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh lữ hành
du lịch.
11
- Chương II: Tình hình hoạt động kinh doanh lữ hành du lịch
quốc tế ở Công ty Du lịch Việt nam - Hà nội.
Chuyên đề được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ
Đinh Văn Sùng. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

con người và ngày càng phát triển phong phú cả về chiều rộng và chiều
sâu.
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) năm 1998 khách du lịch toàn
cầu là 625 triệu lượt người, thu nhập từ du lịch là 448 tỷ đô la Mỹ, năm
1999 là 645 triệu lượt người, năm 2000 là 692 triệu lượt người. Và dự báo
33
lượng du khách đạt đến 783 triệu lượt người vào năm 2005 và 937 triệu
lượt người vào năm 2010.
Vậy du lịch là gì ?
Tổ chức du lịch thế giới (WTO) định nghĩa:
"Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu
lại tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không
dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác".
Ở Việt nam, khái niệm du lịch được nêu trong Pháp lệnh du lịch
năm 1999 như sau:
"Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định".
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan
đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường
xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi
khác với mục đích chủ yếu không phải làm kiếm tiền. Quá trình đi du lịch
của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở
nơi họ cư trú tạm thời.
Có rất nhiều cách phân loại du lịch. Căn cứ vào nhu cầu và mục đích
của chuyến đi du lịch, du lịch được phân thành du lịch nghỉ ngơi, du lịch
chữa bệnh, du lịch tham quan...; căn cứ vào thời gian và địa điểm của
chuyến du lịch có du lịch quanh năm, du lịch theo mùa; Căn cứ vào hình
thức du lịch thì có du lịch theo tổ chức và du lịch không qua tổ chức hay du
lịch riêng lẻ. Trong chuyên đề này chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến việc

"Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt nam định cư
ở nước ngoài đến Việt nam không quá 12 tháng với mục đích tham quan,
nghỉ dưỡng, hành hương, thăm người thân, bạn bè, tìm hiểu cơ hội đầu tư
kinh doanh...".
I.2. Sự ra đời hoạt động kinh doanh lữ hành và vai trò của nó trong
hoạt động du lịch:
Quan hệ giữa cung và cầu trong du lịch là mối quan hệ mâu thuẫn và
phức tạp, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong cũng như bên
ngoài. Do đó, sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh lữ hành du
lịch là một tất yếu khách quan để giải quyết sự mâu thuẫn này.
55
Thứ nhất, Cung du lịch mang tính chất cố định, còn cầu du lịch lại
phân tán khắp mọi nơi: các tài nguyên du lịch và các nhà cung cấp sản
phẩm du lịch (khách sạn, nhà hàng, dịch vụ vui chơi giải trí...) không thể
mang được những giá trị của sản phẩm của mình đến tận nơi ở thường
xuyên của khách hay không thể mang "rao bán" khắp nơi đến tay cho
khách mà du khách phải tìm đến với các tài nguyên và sản phẩm du lịch.
Như vậy, trong du lịch chỉ có dòng chuyển động ngược chiều từ cầu
đến với cung, không có dòng chuyển động từ cung đến với cầu như phần
lớn các sản phẩm hàng hoá khác. Trong một phạm vi nào đó, người ta có
thể nói cung du lịch tương đối thụ động, cầu du lịch phải tìm đến với cung
khi cầu không có đủ thông tin về cung. Do vậy, phải xuất hiện một hoạt
động trung gian là hoạt động lữ hành. Hoạt động lữ hành nhằm cung cấp
đầy đủ các thông tin về điểm du lịch, cơ sở lưu trú, các dịch vụ khác du
khách và làm động tác ghép nối các hàng hoá và dịch vụ tạo thành một
chương trình du lịch trọn gói phục vụ cho du khách.
Thứ hai, Cầu du lịch mang tính chất tổng hợp còn cung du lịch mang
tính chất đơn lẻ. Khi đi du lịch, khách du lịch có nhu cầu về mọi thứ, từ
tham quan các tài nguyên du lịch tới việc ăn ngủ, đi lại, làm visa, hộ
chiếu... cũng như thưởng thức các giá trị văn hoá tinh thần. Có nghĩa là,

phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành".
Những doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh lữ hành đó là
các Công ty lữ hành, Công ty lữ hành ra đời đã giúp cho khách du lịch có
điều kiện thuận lợi và cảm thấy thoải mái, yên tâm hơn, bớt hao tổn thời
gian và tiền của trong chuyến du lịch. So với việc tự tổ chức một chuyến đi
của cá nhân thì giá của chuyến đi thông qua các Công ty lữ hành là tương
đối rẻ. Về phía các nhà cung cấp, nhờ có các Công ty lữ hành mà họ bớt đi
được phần nào sự thụ động trong việc tiêu thụ sản phẩm, bớt được sự rủi ro
vì lượng khách bất thường, tăng được khả năng thu hút khách cũng như
việc tiêu thụ sản phẩm của mình để tập trung vào việc sản xuất, mở rộng
quy mô và đa dạng hoá sản phẩm, tạo ra các dịch vụ du lịch mới phục vụ
nhu cầu của khách du lịch.
Công ty lữ hành còn đóng vai trò trung gian, bán và tiêu thụ sản
phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, trên cơ sở đó, rút ngắn hoặc
xoá bỏ khoảng cách giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du lịch.
Công ty lữ hành còn thu hút và tổ chức gửi khách tới các điểm du lịch, tạo
điều kiện cho các cơ sở kinh doanh ở đó khai thác với mức tốt nhất công
suất hoạt động của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của mình. Hơn thế nữa,
nếu là những Tập đoàn lữ hành Du lịch mang tính chất toàn cầu sẽ góp
phần quyết định tới xu hướng tiêu dùng du lịch trên thị trường hiện tại và
tương lai.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH.
77
II.1. Khái niệm về Công ty Lữ hành.
Đã tồn tại khá nhiều định nghĩa khác nhau về Công ty lữ hành xuất
phát từ các góc độ khác nhau trong việc nghiên cứu các Công ty lữ hành.
Mặt khác bản thân hoạt động du lịch nói chung và lữ hành du lịch nói riêng
có nhiều biến đổi theo thời gian. Ở mỗi một giai đoạn phát triển, hoạt động
lữ hành du lịch luôn có những hình thức và nội dung mới.
Thời kỳ đầu tiên: Công ty lữ hành được đinh nghĩa như là một pháp

99
Sơ đồ 1. Mô hình cơ cấu tổ chức của một Công ty lữ hành du lịch.
Giám đốc
Bộ phận tổng hợp
Bộ phận nghiệp vụ Du lịch
Bộ phận hỗ trợ phát triển
Tài chính kế toán
Tổ chức lao động
Hành chính tổng hợp
Thị trường
Điều hành
Hướng dẫn
Các chi nhánh
Kinh doanh khách sạn
Kinh doanh vận chuyển
Kinh doanh khác

Từ mô hình trên ta thấy cơ cấu tổ chức của một Công ty lữ hành du
lịch nói chung và Công ty lữ hành du lịch quốc tế nói riêng gồm 3 bộ phận:
bộ phận tổng hợp, bộ phận nghiệp vụ du lịch, bộ phận hỗ trợ phát triển.
1010
Trong đó, bộ phận về nghiệp vụ du lịch được coi là xương sống trong toàn
bộ hoạt động của Công ty lữ hành du lịch quốc tế, bao gồm; phòng điều
hành, phòng hướng dẫn, phòng thị trường. Mỗi phòng có chức năng chuyên
trách riêng tạo thành thể thống nhất trong quá trình từ tạo ra sản phẩm của
Công ty, đưa ra bán trên thị trường đến việc thực hiện các chương trình.
- Phòng điều hành: có chức năng xây dựng, tổ chức phối hợp thực
hiện các chương trình du lịch.
- Phòng hướng dẫn: được tổ chức theo các nhóm ngôn ngữ, đội ngũ
lao động là các hướng dẫn viên đại diện cho Công ty trực tiếp cùng khách

Dưới giác độ một doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thị trường du lịch
là một nhóm khách hàng hay một tập hợp nhóm khách hàng đang tiêu dùng
hay đang có nhu cầu, có sức mua sản phẩm nhưng chưa được đáp ứng. Để
có thị trường tốt, doanh nghiệp lữ hành cần phải chú ý đến hoạt động
nghiên cứu thị trường từ đó có những chính sách sản phẩm cho phù hợp với
nhu cầu của thị trường. Muốn được như vậy, doanh nghiệp phải tiến hành
nghiên cứu tìm hiểu thị trường ở cả hai mặt cung và cầu trong du lịch.
Hoạt động nghiên cứu cầu trong du lịch tức là nghiên cứu thói quen
tiêu dùng, xu hướng vận động, đặc điểm tâm lý, tính cách, sở thích... của
các đối tượng khách khác nhau. Bởi những yếu tố này tác động đến việc
hình thành các chương trình du lịch để thu hút được nhiều khách, có thêm
1212
nhiều thị trường, Công ty còn phải nghiên cứu kỹ về nhu cầu riêng của
từng loại khách; mục đích đi du lịch của khách; thời gian dỗi và khả năng
thanh toán của khách để xác định rõ độ dài của chương trình... Ngoài ra,
Công ty lữ hành còn phải tìm hiểu và chú ý đến sự thay đổi của "mốt" du
lịch qua từng thời kỳ, để nhạy bén hơn trong việc sản xuất ra sản phẩm là
chương trình du lịch. Như vậy, cầu trong du lịch thì rất phong phú vì thế
việc nghiên cứu cung trong du lịch lại càng quan trọng hơn. Nó được hình
thành trên cơ sở các yếu tố: tài nguyên du lịch, cơ sở - vật chất kỹ thuật,
những dịch vụ, hàng hoá phục vụ khách du lịch. Đây chính là cơ sở cho
việc xây dựng các chương trình du lịch. Hơn thế nữa, Công ty còn phải
nghiên cứu xem xét về vị trí, điều kiện, khả năng... của mình có thể đáp
ứng một hay vài đối tượng khách nào đó để lựa chọn cho mình thị trường
khách mục tiêu nhằm thoả mãn tối đa những nhu cầu của khách hàng mà
mình phục vụ.
Một Công ty lữ hành quốc tế được đánh giá là hoạt động mạnh trong
lĩnh vực của mình thì thường có mối quan hệ với rất nhiều Hãng lữ hành
gửi khách và nhận khách quốc tế vì chính những đơn vị này sẽ là nguồn
cung cấp khách tương đối ổn định cho Công ty. Do vậy, công tác nghiên

8. Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống.
9. Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung cho hành trình. Chi tiết hoá
chương trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi giải trí...
10. Xác định giá thành và giá bán của chương trình du lịch.
11. Xây dựng những quy định của chương trình du lịch.
Tuy nhiên, không phải bất cứ khi nào xây dựng một chương trình du
lịch trọn gói đều phải lần lượt qua tất cả các bước nói trên.
• Xác định giá thành của chương trình du lịch. Giá thành của
chương trình du lịch bao gồm toàn bộ những chi phí thực sự mà Công ty lữ
hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình du lịch. Thông
thường có 2 phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp 1: Xác định giá thành theo khoản mục chi phí. Phương
pháp này xác định giá thành bằng cách nhóm toàn bộ các chi phí phát sinh
vào thành hai khoản mục chủ yếu:
Chi phí cố định là chi phí tính cho cả đoàn khách hay đó là mức chi
phí cho các hàng hoá và dịch vụ mà mức giá của chúng không thay đổi một
cách tương đối so với số lượng khách trong đoàn. Trong một chương trình
du lịch, chi phí cố định bao gồm:
- Chi phí vận chuyển.
- Chi phí về các phương tiện tham quan (tàu thuỷ, ôtô...)
- Chi phí hướng dẫn.
1414
- Chi phí thuê bao khác (văn nghệ...)
Chi phí biến đổi là chi phí tính cho từng khách du lịch hay đó là mức
chi phí gắn liền trực tiếp với sự tiêu dùng riêng biệt của từng du khách. Khi
tính giá thành một chương trình du lịch, chi phí biến đổi thường bao gồm:
- Chi phí về lưu trú (khách sạn)
- Chi phí ăn.
- Chi phí tham quan.
- Chi phí về Visa - hộ chiếu và chi phí biến đổi khác.

+ C
k
+ T
= Z + Z * dp + Z * b + Z * k + Z * T
= Z (1 + P + b + K + T)
G = Z (1 + Σ)
Trong đó:
P: khoản lợi nhuận dành cho Công ty lữ hành.
C
b
: chi phí bán hàng, bao gồm hoa hồng cho đại lý, chi phí khuếch trương.
C
k
: các chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí dự phòng.
T: Các khoản thuế.
Tất cả các khoản trên đều được tính bằng phần trăm (hoặc hệ số nào
đó) của giá thành. Trong công thức trên: p; b ; k; T là các hệ số
tương ứng của lợi nhuận, chi phí bán, chi phí khác và thuế, tính theo giá
thành, Σ là tổng của các hệ số.
Phương pháp 2: Xác định giá bán trên cơ sở các khoản chi phí, lợi
nhuận nói trên vì một lý do nào đó: những quy định, tập quán hoặc chính
sách kinh doanh, tất cả các hệ số trên được tính theo giá bán. Khi đó ta có
công thức sau:


β−
=
β+β+β+β−
=
β−β−β−β−

+ Quảng cáo bằng các ấn phẩm, tập gấp, tập sách mỏng, áp phích...
1616
+ Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo, tạp chí,
truyền hình...
+ Các hoạt động khuếch trương như: tổ chức các buổi tối quảng cáo,
tham gia hội chợ...
+ Quảng cáo trực tiếp: gửi các ấn phẩm quảng cáo đến các địa chỉ
của khách, phỏng vấn du khách sau chuyến đi...
+ Các hình thức khác như: băng video, phim quảng cáo.
Đối với hoạt động lữ hành quốc tế, để thu hút được nhiều khách quốc
tế thì có các hình thức quảng cáo hữu hiệu sau:
+ Quảng cáo cho khách nước ngoài các chương trình du lịch trên
mạng Internet để mở rộng phạm vi quảng cáo.
+ Tìm đối tác là các Công ty lữ hành gửi khách quốc tế để ký hợp
đồng nhận khách.
+ Xây dựng và quảng cáo các tour du lịch đặc biệt mang tính khám
phá, mạo hiểm hay đặc trưng về bản sắc văn hoá, phong tục tập
quán của Việt nam hoặc của một nước nào đó trên thế giới.
+ Đặt văn phòng đại diện của Công ty tại nước ngoài để có điều kiện
tiếp xúc, tìm hiểu nhu cầu và quảng cáo trực tiếp các chương trình
du lịch cho khách quốc tế.
+ Tham gia vào tổ chức du lịch quốc tế, các cuộc triển lãm hội chợ
quốc tế...
Tuy nhiên, các hình thức quảng cáo trên đòi hỏi chi phí và các điều
kiện khác như thời gian, mối quan hệ, kinh nghiệm ở mức độ rất cao. Tuy
nhiên, đối với các Công ty lữ hành quốc tế của Việt nam chưa có khả năng
thực hiện được nhiều các hình thức quảng cáo trên. Điều đó phần nào ảnh
hưởng đến khả năng thu hút khách quốc tế đến du lịch Việt nam.
II.3.5. Tổ chức bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói.
a. Tổ chức bán.

- Mối quan hệ giữa Công ty lữ hành và nhà cung cấp.
- Mối quan hệ giữa Công ty lữ hành du lịch và khách du lịch.
Khách
du
lịch
Công ty
lữ hành
Đại lý
du lịch
bán lẻ
Đại lý
du lịch
bán
Công ty
gửi
khách
1818
- Mối quan hệ giữa Công ty lữ hành nhận khách và Công ty lữ hành
gửi khách.
- Mối quan hệ giữa khách du lịch và hướng dẫn viên.
Hoạt động tổ chức thực hiện chương trình du lịch trọn gói bao gồm
các hoạt động cụ thể sau:
• Các hoạt động trước chuyến đi:
- Thoả thuận với khách hoặc với Công ty gửi khách về nội dung, thời
gian thực hiện, mức giá của chương trình...
- Ghi tên đoàn khách, thu thập thông tin về các nhu cầu đi lại, ăn, ở,
vui chơi giải trí của du khách và nhận tiền đặt cọc.
- Thông tin cho các nhà cung cấp (khách sạn, nhà hàng...) về việc đặt
phòng, đặt suất ăn và thông tin đi lại cho khách du lịch hay Công ty gửi
khách.

phẩm chính của các Công ty lữ hành không phải là các dịch vụ môi giới mà
là các chương trình du lịch trọn gói.
Các chương trình du lịch trọn gói là những nguyên mẫu để căn cứ
vào đó người ta tổ chức những chuyến du lịch với mức giá đã được xác
định trước. Nội dung của chương trình bao gồm các hoạt động như vận
chuyển, lưu trú, tham quan, vui chơi giải trí... Mức giá của chương trình
bao gồm giá của hầu hết các dịch vụ và hàng hoá phát sinh trong quá trình
thực hiện chương trình du lịch.
Các chương trình du lịch trọn gói mang những đặc điểm của sản
phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch không thật cụ thể, không tồn tại dưới dạng
vật chất, do đó không thể bày bán được như những sản phẩm hàng hoá
thông thường khác và được bán cho du khách trước khi họ thấy sản phẩm
đó. Du khách chỉ thấy được sản phẩm hàng hoá khi họ đã mua, khi họ tiêu
dùng và điều này làm cho du khách khó có thể kiểm tra được chất lượng
các sản phẩm trước khi tiêu dùng.
Đặc biệt, sản phẩm du lịch được tạo bởi nhiều ngành kinh doanh
khác như: giao thông vận tải, bưu điện, viễn thông, văn hoá, hệ thống các
khách sạn... các sản phẩm luôn mang tính chất "tươi sống" nên không thể
lưu kho tích trữ được. Ngoài ra, do tính chất của sản phẩm du lịch là cố
định ở một nơi và thường xa nơi ở thường xuyên của khách, do đó để tiêu
thụ sản phẩm khách phải đến tận nơi có sản phẩm du lịch. Những điều này
cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện trùng
hợp về mặt không gian và thời gian. Do mang những đặc điểm của sản
phẩm du lịch, các chương trình du lịch trọn gói là sản phẩm vô hình, không
thể mang trưng bày, không thể quảng cáo được ở quầy hàng như các sản
2020

Trích đoạn Tổng doanh thu đã quy đổ MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ Ở CÔNG TY DU LỊCH VIỆT NAM HÀ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status