Tài liệu Viêm gan B (Phần 3) - Pdf 86

Viêm gan B
(Phần 3)Viêm gan delta là gì ?
Vi rút viêm gan delta ( HDV ) là một RNA vi rút, tức là chất liệu di truyền được
tạo nên từ ribonucleic acid. Đó là một loại vi rút nhỏ bị nhiễm sau khi bệnh nhân đã bị
nhiễm HBV rồi. HDV không thể tự xâm nhập vào cơ thể một mình vì nó cần HBV
phát triển thì mới có thể chuyển đổi nó vào tế bào gan. Đường lây nhiễm HDV là tiếp
xúc với máu có HDV, đặc biệt là dùng thuốc tiêm mạch, quan hệ tình dục, tương tự
như HBV.
Viêm gan cấp do HBV và HDV có thể xảy ra cùng lúc, với hậu quả viêm gan
cấp nặng hơn nhiều. Tuy nhiên, hầu hết ở những bệnh nhân này sau đó sẽ ức chế cả hai
loại vi rút HBV và HDV. Những người bị viêm gan B mạn cũng có thể bị nhiễm viêm
gan D cấp. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân này sẽ phát triển thành viêm gan D mạn tính
trước viêm gan B mạn. Hơn nữa, người đã bị nhiễm trùng HDV mạn hầu như luôn
diễn tiến đến xơ gan nhanh chóng.
Điều trị viêm gan mạn D đồng nhiễm với HBV mạn rất khó. Những bệnh nhân
nhân này cần tối thiểu là 1 năm điều trị bằng interferon. Hầu hết bệnh nhân sẽ tái phát
sau khi ngưng interferon. Hơn thế nữa, lamivudin ( 3TC) không hiệu quả trong điều trị
viêm gan D mạn tính.
Đông nhiễm trùng HCV với HBV là gì ?
Khoảng 10% bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính là có nhiễm luôn HCV. HVC
thường lây truyền qua thuốc tiêm truyền hay quan hệ tình dục. Bởi vậy, đồng nhiễm
HBV và HCV thường thấy ở những người dùng thuốc tiêm mạch ( không phải là tuyệt
đối ). Trong những trường hợp đồng nhiễm này thường một trong hai loại nhiễm trùng
sẽ vượt trội. Ví dụ , một bệnh nhân bị nhiễm đồng thời HBV và HCV, nếu HBV ở
mức cao thì HCV thường thấp. Mặt khác, nhiễm trùng HBV thường là không hoạt
động nếu HVC ở mức cao. Điều trị kháng vi rút nên tác động trực tiếp vào loại vi rút
nổi trội.
Đồng nhiễm trùng HBV với HCV là gì ?

Vai trò ghép gan trong nhiễm trùng hbv ?
Kể từ khoảng giữa những năm 1980, ghép gan đã được chấp nhận như là điều
trị trong suy gan cấp và xơ gan giai đoạn cuối. Theo đó, những bệnh nhân suy gan
khởi phát đột ngột từ viêm gan cấp do HBV có hay không phối hợp với nhiễm trùng
HDV là gợi ý nghĩ đến chỉ định ghép gan. Cũng vậy, đối với những bệnh nhân xơ gan
mất bù mà gặp phải những biến chứng không kiểm soát được hay ung thư gan có thể
được chỉ định ghép gan. Ở Mỹ, trường hợp viêm gan cấp do HBV thì tỉ lệ ghép gan
khoảng 7%.
Đầu những năm 1990, HBV tái xuất hiện trong gan mới được ghép chiếm
khoảng 90% mà những người này đã được ghép gan do bệnh gan do HBV. Thực tế,
trong những năm đó những bệnh nhân được ghép gan tử vong trong vòng hai năm bởi
viêm gan nhiễm trùng tái phát. Tuy nhiên, gần đây hơn liệu pháp dự phòng với HBIG
và lamivudin được áp dụng để ngăn HBV tái phát. Trị liệu này dẫn tới tỉ lệ sống sót
giữa những bệnh nhân HBV sau ghép gan ( 75% sống sau 5 năm ) so với bệnh nhân
ghép gan do bệnh gan khác.
Những bệnh nhân mà ghép gan vào thời điểm vi rút đang hoạt động sinh sản thì
hầu như sẽ bị HBV tái phát sau ghép gan. Theo đó, những bệnh nhân này sẽ được điều
trị bằng lamivudin kéo dài. Những bệnh nhân này thường cải thiện tình trạng lâm sàng
do tác dụng ức chế vi rút sinh sản của lamivudin.
Thông thường, vào lúc ghép gan một lượng HBIG được cho. HBIG được cho
khi gan cũ được lấy đi và trước khi ghép gan mới vào. Mục đích của việc dùng HBIG
vào thời điểm này là để có kháng thể HB gắn kết và chận sự lưu hành của HBV nhằm
ngăn chặn nhiễm trùng vào gan mới được ghép. HBIG được cho trong 6 ngày liên tục
sau đó là mỗi 3 hay 4 tuần. Hầu hết được cho lamivudin và HBIG trong thời gian sống
còn lại. Trong giai đoạn sử dụng hai loại thuốc này đã làm giảm HBV tái phát sau
ghép gan không tới 10%. Ngược lại, nếu chỉ sử dụng HBIG tỉ lệ tái phát là 30% và
lamivudin tỉ lệ tái phát là 75%. Vấn đề sử dụng liệu pháp HBIG là giá thành cao và
khả năng hạn chế.
Có thể làm gì để dự phòng viêm gan b ?
Viêm gan B là bệnh có thể dự phòng được. Hơn hết, chủ động thực hiện biện

bảo vệ chống lại những bệnh mà phụ thuộc vào HBV, như viêm gan B mạn, xơ gan do
HBV, và những biến chứng của nó ( bao gồm ung thư gan ). Viêm nốt đa động mạch,
và viêm gan D.

Ủy ban tư vấn về thực hiện phòng ngừa miễn dịch ( ACIP) ở trung tâm kiểm
soát bệnh tật (CDC) khuyến cáo vac-xin phòng ngừa viêm gan B cho mỗi người tuổi
18 và trẻ hơn, và những người trên 18 tuổi mà có nguy cơ nhiễm HBV cao. Vac xin
trên viêm gan B được khuyến cáo như là vac xin thường qui cho tất cả nhũ nhi kề từ
năm 1991 và thiếu niên kể từ 1995. Ở người lớn có nguy cơ cao như : hoạt động tình
dục khác giới nhiều hơn một người trong vòng 6 tháng hay có một tiền sử bị bệnh lây
truyền qua đường tình dục, nam giới đồng tính, sử dụng thuốc cấm, người làm việc
nguy cơ lây nhiễm cao như nhân viên y tế, bệnh nhân được thẩm tách máu, người làm
việc nhà hay tiếp xúc với người bị HBV mạn tính; và người tâm thần hay tù nhân.
Hầu hết những người có chức năng miễn dịch bình thường thì sẽ đáp ứng miễn
dịch đầy đủ sau 3 liều vac xin viêm gan B và sẽ tác dụng bảo vệ mãi mãi. Ví dụ, họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status