Bệnh Alzheimer
(Phần 2)
Nguyên nhân của bệnh Alzheimer là gì ?
Ngoại trừ các trường hợp hiếm gặp của bệnh Alzheimer liên quan trong gia
đình là do đột biến gen, hầu hết các trường hợp mắc bệnh có lẽ là do tác động cùng lúc
của nhiều yếu tố khác nhau. Những trường hợp không ghi nhận được tiền sử về gia
đình được xếp vào dạng riêng biệt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Alzheimer có tính
chất gia đình đã phát hiện ra một vài protein không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với
thể bệnh này mà còn cho cả các trường hợp mắc Alzheimer riêng biệt. Ðó là protein
tiền chất amyloid (APP) và hai protein tiền lão suy presenilin. APP là thành phần
chính của mảng protein lắng đọng bất thường trên não.
Sự đứt đoạn các phân tử APP dường như làm gia tăng khuynh hướng gắn kết
vào mảng bám trên. Mặt khác, quá trình tách đôi của APP có liên quan đến protein
presenilin. Sự đột biến của gen mã hoá APP và presenilin có thể gây ra bệnh
Alzheimer. Ðiều đó có nghĩa là những người mang các gen đột biến rất có nhiều khả
năng mắc phải bệnh Alzheimer.
Những thay đổi ở các gen khác không gây ra bệnh, nhưng chúng có thể góp
phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh. "Gen nguy cơ" được nghiên cứu kỹ nhất là gen mã
hóa apolipoprotein (apoE). Một số dạng (alen ) của gen này có thể làm tăng nguy cơ
mắc bệnh Alzheimer. Khả năng này đặc biệt hay xảy ra đối với những trường hợp ghi
nhận tiền sử gia đình có người bị Alzheimer.
Gen mã hoá apoE có 3 alen khác nhau: apoE2, apoE3, và apoE4. ApoE3 là
dạng hay gặp nhất. Tuy nhiên, khoảng 40% trường hợp Alzheimer khởi phát muộn có
apoE4. Những người được thừa hưởng 2 allen apoE4 (một từ bố và một từ mẹ) sẽ có
nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao hơn vài lần so với người có 2 alen E3 vốn rất hay
gặp. Alen ít gặp nhất là E2 làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Những người có một gen E2
và một gen E3 thì chỉ có ¼ nguy cơ bị bệnh Alzheimer so với có hai gen E3.
Kể từ thập niên 70, những bất thường trong các chất trung gian dẫn truyền thần
kinh đã được tìm thấy ở bệnh nhân Alzheimer. Acetylcholine là một chất trung gian
dẫn truyền thần kinh chính trong quá trình hình thành trí nhớ. Chất này có nhiều trong
Dựa trên những tiêu chuẩn trên, chẩn đoán trên lâm sàng của bệnh Alzheimer là
một chẩn đoán loại trừ và chỉ có thể được thực hiện dựa trên diễn tiến lâm sàng theo
thời gian. Không có một dấu hiệu hay test lâm sàng đặc hiệu nào cho bệnh Alzheimer.
Vì vậy cần loại suy một cách hệ thống tất cả các bệnh lý gây ra những triệu chứng
tương tự. Ðiều này giải thích tại sao quá trình chẩn đoán ở những người có nguy cơ bị
Alzheimer có thể gây hoang mang cho bệnh nhân cũng như cho gia đình. Họ
không được thông báo rằng
Alzheimer được chẩn đoán đặc biệt, mà qua quá trình loại trừ, các chẩn đoán
khác được gạt bỏ, còn lại bệnh Alzheimer là có khả năng nhất.
Các tình trạng khác nào nên được theo dõi?
Có rất nhiều tình trạng tác động lên não làm rối loạn chức năng tư duy, hành vi
và tâm lý. Những bệnh lý này đại diện cho một nhóm rất nhiều bệnh bao gồm cả
Alzheimer. Một số bệnh lý có triệu chứng tương tự như Alzheimer có thể chữa khỏi
hoặc kiểm soát được khi chẩn đoán và điều trị đúng. Chúng bao gồm:
Tác dụng phụ của thuốc: những phản ứng có hại của thuốc, dùng thuốc quá liều
hoặc quá ít, sử dụng nhiều loại thuốc mà khi kết hợp lại chúng có thể gây tác dụng có
hại.
Rối loạn tâm thần: trầm cảm quá mức có thể gây ra các vấn đề về trí nhớ, khả
năng tập trung mà khởi đầu rất khó phân biệt với triệu chứng sớm của Alzheimer. Ðôi
khi các tình trạng này-hay còn gọi là giả tâm thần phân liệt-có thể tự phục hồi. Các rối
loạn tâm thần khác có thể rất giống với bệnh Alzheimer và có đáp ứng với điều trị
giống như bệnh trầm cảm. Những nghiên cứu cho thấy rằng những người bị trầm cảm,
đồng thời xuất hiện sa sút trí tuệ rất có khả năng bị tâm thần phân liệt sau một vài năm.
Nghiện ngập: bao gồm nghiện các thuốc hợp pháp, ma túy và nghiện rượu.
Rối loạn chuyển hoá: bệnh tuyến giáp, dinh dưỡng không đầy đủ như thiếu
vitamin B12, thiếu máu, v..v
Các bệnh về hệ tuần hoàn: các vấn đề về tim, đột quị, v..v
Các bệnh lý thần kinh: não úng thủy với áp suất bình thường, xơ cứng bì,v..v
Nhiễm trùng: đặc biệt nhiễm virus hay nấm ở não.
Chấn thương đầu.